Thư Tâm Ðàm số 6

Kính thưa Quý vị thức giả và Quý nghĩa hữu,

Nội dung Tâm đàm kỳ 6 đặt nặng vào vấn đề Tâm công: Làm sao biết được lòng người? và làm thế nào để khiến lòng người quy tụ về một mối?... Ấy là vấn đề đã có từ ngàn xưa khi loài người biết sống hợp quần, nhưng chỉ được đặt ra khi lòng người đã vô cùng ly tán. Ðiều có thể nói ở đây là nếu không có một sự đồng tâm nào đó thì người ta sẽ không bao giờ nhìn về cùng một định hướng được.

Tâm đàm kỳ 6 cũng bàn thêm về một định hướng đúng. "Tự nhất thời chi thất sách, toại vạn cổ chi di ương "; ai cũng biết những gì sẽ có thể xẩy ra, hay chắc chắn sẽ xẩy ra, khi lái một con tầu mất định hướng giữa những mênh mông của biển cả. Cho nên từ cái không-có-định-hướng-đúng hôm nay tất sẽ còn di hại cho biết bao nhiêu thế hệ tiếp nối nữa?

Thế kỷ chúng ta đã chiêm nghiệm về cuộc chiến tranh Quốc-Cộng, mối di hại trực tiếp của sự mất định hướng (mà nhiều người cho là đã có từ thời nhà Nguyễn, với cái giật mình khá muộn màng của ông Nguyễn Trường Tộ...). Trong cuộc nội chiến kéo dài 30 năm ấy, phe Cộng nhất thời không bị chao đảo về định hướng cho nên tạm thời nắm vững được chiến lược "giải phóng", và họ đã thành công trong mục tiêu "thu quyền lực về một mối". Sau chiến tranh, những thành phần yêu dân tộc ở khắp nơi, trong cũng như ngoài nước, vẫn tiếp tục chiến đấu cho những nguyện vọng chính đáng của toàn dân; nhưng - chúng tôi lạm nghĩ -- hầu hết chúng ta vẫn có thói quen tạm bám lấy những mục tiêu trước mắt để dựng ngọn cờ định hướng, cho nên rất dễ bị "tước mất khí giới" một khi nhà cầm quyền CSVN đã tạm có đủ thế và lực để hư vô hóa tất cả những mục tiêu nổi có cắm những ngọn cờ chỉ đạo chiến lược "tạm thời" ấy.

Tuy nhiên, từ sự thành công trong mục tiêu thu quyền lực về một mối, chế độ CSVN ngày nay vẫn không vững và không mạnh được. -Tại sao? - Vì thiếu một định hướng đúng! "Ðịnh hướng Xã-hội chủ nghĩa" mà đảng CSVN đề cao thật ra chỉ là một định hướng vay mượn, có lẽ trên thực tế nó đã trở thành “định hướng bất đắc dĩ ”. Nó đã không có gốc rễ thật mà lại không thể đúng vì đi ngược lại lòng người và trào lưu tiến hóa của nhân loại. Chế độ CSVN biết rõ điều ấy nhưng họ ở vào hoàn cảnh không thể nhìn nhận sự sai lầm định hướng trước quốc dân được (!). Như vậy chế độ CSVN cũng đang lâm vào cơn khủng hoảng định hướng giống như những thành phần chống lại họ. Tóm lại, dân tộc chúng ta, trong nhất thời, đã hoàn toàn mất định hướng.

Vậy trở lại với việc "thử tìm một định hướng...", một việc khẩn thiết chung của cả dân tộc, chúng tôi nghĩ rằng trước hết cần phải tìm hiểu "lòng người" - hãy tạm nói như vậy -- bằng cách tìm ra những điểm giống và khác nhau trong quan niệm định hướng của những thành phần dân tộc ở khắp nơi trên thế giới. Ở điểm này có lẽ chúng ta có thể đồng ý với quan điểm của một số quý vị ở khắp nơi, tiêu biểu là của GS. Lê Hùng (ở Bỉ) trong những góp ý của ông trên BTTÐ, nêu lên 4 thực thể dân tộc nằm trong 4 không gian riêng biệt do hoàn cảnh văn hoá địa dư...:

1. Thực thể không gian trong nước;
2. Thực thể không gian Mỹ châu;
3. Thực thể không gian Âu châu;
4. Thực thể không gian Úc châu.

Chúng tôi đang cố gắng tìm hiểu để có thể nêu lên trong những lần tới đây những nét chính của những quan niệm định hướng tiêu biểu cho 4 khối CĐVN ấy và để được chính xác hơn, ước mong sẽ được sự đóng góp rộng rãi của tất cả quý vị thức giả nghĩa hữu bốn phương.

Sau hết, khi bàn về cuộc chiến đấu của dân tộc, chúng tôi không dám có ý nghĩ rất lỗi thời là "ai" tìm được một "định hướng đúng " sẽ làm chủ được chiến lược để "thu quyền lực về một mối "; nhưng chúng ta có thể nhìn nhận rằng một "định hướng mà hầu hết mọi người cho là đúng" sẽ là nơi quy tụ của lòng người. Lòng người quy tụ là điều phúc lợi vô cùng cho đất nước, vì đã hơn 20 năm sau chiến tranh, những tấm lòng VN vẫn còn vô cùng ly tán!

Thân kính,

BTTĐ



Tường trình buổi Tâm đàm kỳ 6

Ngày 23/8/1998 tại Sydney

"Thử tìm một định hướng trong cuộc chiến đấu của dân tộc"

Người Ghi Chép

Chúng tôi xin thành thật cáo lỗi về một vài thiếu sót trong việc ghi nhận các vị phát biểu, đồng thời cũng xin cáo lỗi về việc phải tóm tắt ý chính của một vài phát biểu quá dài. Xin quý vị cũng vui lòng thông cảm về một vài sự điều chỉnh giữa văn nói và văn viết. Trong phần vụ ghi chép chúng tôi luôn luôn cố gắng giữ sự trung thực.

Sau đây là phần tường trình của chúng tôi về buổi Tâm đàm kỳ 6, được tổ chức vào buổi chiều Chủ nhật 23/8/1998, tại nhà thờ Quốc Tổ ở Sydney - Úc Ðại Lợi. Thành phần tham dự gồm có quý Ông/bà : L.P. Bằng, Tr. Ðạt, Ng. Thanh, Ph. Hải, L.C. Danh, L.V. Hùng, L.Ð. Ái, L.V. Lượng, Tr.T. Hưng, M.X. Việt, VH. Ðăng, Tr.Th. Cơ, Ð.V. Quang, VN. Tân, Ch.V. An, Tr.V. Nhu, Ng.V. Trị, C.Đ. Thanh, L.V. Ngọc, K.M. Trùng, V.V. Cẩn, Ph.Ð. Kỳ, Tr.P. Hảo, Ng.V. Thịnh, Đ.T. Dực, Ph.Ng. Ðiệp, Ph.Ð. Bích, L.L. Thảo, L.C. Thắng, Ng.V. Thu, T. Nhân, H. Phúc, Ng.Th. Vinh, Ng.V. Huy, H.V. Phụ, Ng.v. Thạnh, Ng. Phúc, Kh.V. Long (xin thành thật cáo lỗi nếu còn có sự sơ sót).

Trong một vài phút lắng tâm, ông L.L.Thảo đã đọc lời khấn nguyện để mở đầu buổi TÐ: "Kính lậy liệt Tổ... Kính lậy các đấng minh quân, văn thánh, anh hùng, liệt nữ, nghĩ sĩ, hồn thiêng sông núi của Tổ quốc Việt Nam yêu quý. Kính lậy tất cả các bậc tiền nhân, ông bà cha mẹ... trải gần 5 ngàn năm đã hy sinh xương máu, đóng góp công đức vào việc dựng nước, giữ nước, gìn giữ truyền thống đạo sống, tinh anh khí phách của giống nòi Việt Nam. Kính lậy liệt tổ.! Nay chúng con đang sống trong cơn quốc nạn, gốc nền văn hiến bị soi mòn, sinh phong sinh lực Việt suy kiệt, đồng bào bị xô đẩy vào cảnh tận cùng đau khổ, tứ tán phân ly. Nay chúng con đang sống giữa thời buổi suy vi điên đảo, lòng người phân tán, đầy dẫy cuồng tín cố chấp, tham vọng, hận thù, tị hiềm đố kỵ... cho nên đã xa dần đạo sống ngàn đời của dân tộc; ý thức về cội nguồn, tình thương yêu, tinh thần trách nhiệm vô cùng mờ nhạt. Từ trong lưu lạc, chúng con đã tụ tập với nhau quanh bàn thờ Tổ để cùng nhau đóng góp chút công sức của mình vào việc "giải trừ tất cả những gì nguy hại cho dân tộc và xây dựng tất cả những gì phúc lợi cho đồng bào". Cúi xin liệt Tổ, các bậc tiền nhân, hồn thiêng sông núi phù trợ cho chúng con chí bền dạ sáng, chân cứng đá mềm, tâm rộng nghĩa sâu và sớm đạt thành tâm nguyện ".

- Ô. L.L.Thảo:
Buổi Tâm đàm kỳ 6 hôm nay cũng là buổi Tâm đàm ghi dấu một năm và một tháng chúng ta đã cùng nhau bàn về việc "Thử tìm một định hướng trong cuộc chiến đấu của dân tộc". Tôi còn nhớ vào tháng 7 năm ngoái, trong cái giá buốt cuối đông, gần bốn chục người đã tụ tập ở hội trường Ðồng-Tâm này để tham dự buổi Tâm đàm đầu tiên. Ðến nay một năm lẻ đã trôi qua, và bây giờ là buổi tâm đàm thứ sáu. Chúng tôi ghi nhận tất cả tấm lòng của quý bác và quý chị, quý anh... đã tham dự trong suốt một năm qua, qua 6 buổi Tâm đàm; và chúng tôi cũng cầu mong liệt Tổ, hồn thiêng sông núi... phù trợ quý bác, quý anh và toàn thể gia đình được gặp mọi sự tốt lành để chúng ta có nhiều cơ hội đóng góp vào công việc chung hơn nữa...

Sau khi đã lần lượt giới thiệu quý vị tham dự, ông L.L.Thảo tiếp:

- Kính thưa quý vị, để mở đầu cho buổi TÐ, tôi cũng xin một ít phút để lược qua những buổi TĐ trước. Buổi TÐ thứ nhất, vào tháng 7/97, là buổi TÐ của những tấm lòng VN. Khởi từ một nhận xét trong bài phú Danh Sơn Lương Ngọc của cụ Phan Chu Trinh và cụ Huỳnh Thúc Kháng "Tự nhất thời chi thất sách, toại vạn cổ chi di ương", (do Gs. Lê Văn Ngọc khởi dẫn), Tâm đàm trước hết đã hướng vào việc đem những tấm lòng để đóng góp cho đất nước. Trong giai đoạn lịch sử đầy dẫy những ngộ nhận của chúng ta, hiển nhiên đã có những biên thùy phân chia dân tộc, nhưng chắc chắn không có biên giới nào ngăn cách được những tấm lòng người VN. Vì vậy chúng tôi nghĩ tới việc đối thoại, không phải bằng tiếng nói phân biệt của lý trí, nhưng bằng ngôn ngữ bao dung của lòng người, để tìm ra những điểm tương đồng trong những vấn đề vốn đầy dẫy những mâu thuẫn. "Những đóng góp đồng tâm cho đất nước" đó là ý nghĩa mà chúng tôi đã nêu lên trong Lá thư TĐ thứ nhất.

Tâm đàm kỳ 2 vào tháng 9/1997, trong Lá thư TĐ cũng đã nói lên sự khác biệt giữa định hướng của dân tộc với những tấm bảng chỉ đường của một chế độ tự dựng ra để lãnh đạo quần chúng. Và khi những người dân bình thường đã biết ngẩng cao đầu để cùng tìm ra định hướng thật cho dân tộc mình, đã xác tín rằng chỉ có ý thức của toàn dân mới có thể có đủ khả năng vạch được định hướng đúng, thì những tấm chiêu bài kia sẽ rớt xuống, không còn mê hoặc được ai nữa, không còn che dấu được cái mặt trái của nó nữa.

Tâm đàm thứ 3 vào tháng 10/1997, chúng ta đã bàn rộng về cuộc chiến đấu của dân tộc: Ðó là cuộc chiến đấu đã và đang được đóng góp bằng xương máu và bằng hoài vọng của cả dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử? Hay đó là cuộc chiến đấu của giai đoạn lịch sử hiện tại để chống lại độc tài đảng trị và xây dựng dân chủ tự do?

Buổi TĐ thứ 4 và tháng 2/1998, chúng ta đã thấy có rất nhiều khuynh hướng được đưa ra. Có những khuynh hướng cho rằng phải bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc, nhưng cũng e rằng như vậy sẽ không theo kịp đà tiến hoá của nhân loại. Có những khuynh hướng lại chỉ chú trọng đến việc chống độc tài để xây dựng dân chủ. Có những khuynh hướng chủ trương khai thác những giá trị truyền thống đích thực của dân tộc và phối hợp với đà tiến hoá của nhân loại, v.v… Qua tất cả những khuynh hướng ấy, ta thấy có một điều mà tất cả cùng nhắm tới là phải giải trừ những gì nguy hại và xây dựng những gì phúc lợi cho dân tộc; lấy dân tộc và những giá trị truyền thống làm toạ độ, để tiếp nối những thành quả tốt đẹp của lịch sử dân tộc, vạch một hướng đi đồng bộ với cuộc tiến hoá của nhân loại.

Buổi TĐ thứ 5, chúng ta đã xác định mục đích tối hậu của định hướng là lẽ sống và quyền sống tự chủ an lạc. Ðối tượng duy nhất của định hướng là dân tộc Việt Nam, vì vậy đã đưa định hướng thoát khỏi những vướng mắc của các thể chế chính trị cũng như các chủ thuyết.

Những mục tiêu gần hoặc xa của cuộc chiến đấu bao gồm những mục tiêu về chính trị, về kinh tế, về văn hoá, về xã hội v.v... Ngoài ra trong TĐ kỳ 5 chúng cũng đã nói đến một định hướng “dân tộc”, ấy là đòi lại cho dân tộc những quyền sống và lẽ sống đã bị tước đoạt, đồng thời xây dựng lại con người VN, dựng lại xã hội VN...

- Người điều hợp (ông L.L.Thảo) sau đó cũng xin dành một ít thời gian, trước khi ông Ph.Ð. Bích trình bầy bài tham luận, để thông báo về một số thư tín của quý vị thức giả nghĩa hữu bốn phương đã hưởng ứng và góp ý với Tâm đàm.
Theo lời yêu cầu của ông L.L.Thảo, một số tham dự viên cũng đã nêu ý kiến để trả lời những câu hỏi mà cụ Ðào văn Dương (ở Hoa Kỳ) đã đưa ra (xin xem trong BTTĐ 5)...

- Ô. C.Ð.Thanh:
Nhận xét đầu tiên của tôi về những câu hỏi của cụ (Ð.V. Dương) là đọc xong thấy một nỗi xót xa trong lòng vô cùng... Những ý kiến đó và tấm lòng đó đáng để chúng ta trân trọng... Ba câu hỏi hình như có quan hệ hữu cơ với nhau. Vấn đề đầu tiên cụ đặt ra là: "Loại trừ CS rồi thì làm gì nữa? lập chính phủ ư? liệu có giống như các chế độ Ðệ nhất Ðệ nhị Cộng-hoà VN không?" Rồi cụ hạ một câu: "Quốc gia như vậy có ý nghĩa gì không, hay chỉ là một từ ngữ rỗng tuếch?". Có lẽ tôi hiểu được phần nào cái tâm trạng của cụ và chúng ta có thể chia xẻ được phần nào với cái buồn man mác này. Bởi vì thực sự những người như cụ, kể cả những người trẻ hơn cụ cỡ 10 năm hay 20 năm, đã từng bỏ CS để quyết tâm theo một cái "chính nghĩa" để rồi cuối cùng lại phải bỏ nước ra đi, và chắc chắn sẽ phải gởi nắm xương tàn ở đất lạ mà thôi... Tuy nhiên tôi không muốn bào chữa nhưng tôi muốn nhắc lại ý kiến mà nhiều người đã nói rằng: dù sao chăng nữa, sống ở chế độ QG cũng sướng hơn sống dưới chế độ CS nhiều. Ðó là một sự thật không ai có thể chối cãi. Nhưng có người lại nói rằng: Không thể xét vấn đề Quốc-gia trên căn bản "sướng" hay "khổ". Cái sướng của một số người, nhất là những người đó lại được biệt đãi không thể tiêu biểu cho cả cái ý nguyện của dân tộc. Tôi không nói theo ý đó nhưng tôi muốn phân tách thêm như thế này: chế độ QG hơn hẳn chế độ CS, cái sự "hỏng" chằng qua là do ở lòng người.

Có người lại lên án rằng cái "hại" của chế độ QG đối với tiền đồ dân tộc có khác gì đâu với cái "hại" mà chế độ CS đã gây ra. Tôi lại có ý nghĩ rằng sở dĩ hại đó là do cá nhân chứ không phải do chế độ, và vì vậy chế độ QG vẫn là chế độ thật là tốt mà chúng ta có thể từ đó xây dựng đất nước được với một vài sự sửa đổi nào đó mà thôi. Sở dĩ tôi nói như vậy vì chính tôi cũng có chút kinh nghiệm về điểm này. Tôi không dám nói nhiều, đại khái là sau khi chế độ Ðệ I Cộng hoà mất, tôi có nhận một nhiệm vụ giao cho là nghiên cứu các thể chế, như nền Ðệ ngũ CH của Pháp chẳng hạn, để may ra có thể có ích lợi gì không. Tôi đã làm xong việc đó. Tôi không biết tài liệu của tôi có giúp được gì cho những nhà soạn thảo Hiến pháp Ðệ II CH hay không, nhưng khi Ðệ II CH ban hành rồi thì nó là một hiến pháp thứ 3 trên thế giới, sau Hiến pháp của Pháp (Ðệ V Cộng- hoà) và của Ðại-hàn, công nhận một thể chế Hành pháp lưỡng đầu (tức là vừa có Tổng thống, vừa có Thủ tướng), và chỉ nói về phương diện lý thuyết mà thôi cũng tỏ rằng Hiến pháp đó so với nhiều Hiến pháp khác - ngay cả Hiến pháp Úc chằng hạn - nó tân tiến hơn nhiều, và tránh được nhiều phiền hà như nó không bị chết cứng (dead locked) do tình trạng một nhóm nhỏ (như bà P. Han son) có thể chi phối và làm nghẹt đường lối quốc gia... Như vậy vấn đề then chốt là con người chứ không phải chế độ... Câu hỏi thứ hai, cụ nói rằng: "Phân biệt hay phá bỏ ranh giới Quốc - Cộng? Quý vị quan niệm QG là thế nào? CS là thế nào? mà phải phân biệt hay không phân biệt?"; rồi cụ lại hạ một câu: "Theo Duy tâm hay Duy vật? hay loại bỏ cả hai? sau đó sao nữa?". Câu hỏi này thì thật dễ mà cũng thật khó trả lời. Dễ là bởi vì bất cứ một học sinh trung học nào cũng có thể trả lời được câu hỏi QG là thế nào và CS là thế nào; nhưng khó là bởi vì mó vào thì cũng phiền lắm; ví dụ: một người nào đó có thể trả lời câu hỏi này rằng "Không, bây giờ phải hoà hợp hoà giải dân tộc...". Nhưng mà khổ, cụm từ "Hoà hợp hoà giải dân tộc" CS nó đã dùng nhiều rồi, đụng vào thì sẽ bị tai tiếng. Thực sự thì thực chất phải là như thế đó, còn cái danh từ thì phải tuỳ nghi mà bàn định với nhau. Có điều cụ hỏi rằng "Phải Duy tâm hay Duy vật?"; câu này nếu cụ đặt ra vài ba chục năm trước thì đúng hơn, nhưng theo tôi bây giờ nó không còn cần thiết gì nữa. Bây giờ chả ai duy tâm mà cũng chả ai duy vật nữa; nếu còn có Duy thì có chăng chỉ còn "Duy lợi" mà thôi. Mà cái duy lợi đó lại chả có gì đáng chê trách cả. Bởi vì tại sao? thế giới nhất là hai siêu cường đều căn bản trên duy lợi hết. Mỹ thì duy lợi ai cũng biết, mà còn thực nghiệm nữa; còn Trung Quốc thì từ ngàn xưa đã duy lợi (Tết chúc nhau thì "Nhất bản vạn lợi", hay "Phúc, lộc, thọ" cái gì cũng lợi cả)…. Tôi thường nghe anh Thảo hay nói "Ai nhất thì ta thứ nhì, ai mà hơn nữa ta thì thứ ba"; cái tinh thần ấy theo tôi không hợp với bây giờ nữa, chúng ta đừng nên dậy thanh niên điều đó ! Có điều chúng ta để cho thanh niên biết "duy lợi", nhưng "duy lợi trong tinh thần văn hoá dân tộc" thì tốt. Tôi vừa mới nói một điều mà có lẽ có nhiều vị cho rằng sao lại mâu thuẫn như vậy?

Duy lợi đã không phải là tinh thần văn hoá dân tộc, mà lại "duy lợi trong tinh thần văn hoá dân tộc" là thế nào? Ðấy, tất cả những cái mà trong tương lai chúng ta phải đối phó trong việc tìm ra một sinh lộ cho dân tộc chính ở những cái mâu thuẫn như vậy. Nếu chúng ta chỉ duy lợi và trôi lăn trên đà duy lợi, thì chúng ta đã quá thiên về vật chất, hơn cả những xã hội họ chọn vật chất nữa. Cái khó là làm sao duy lợi mà vẫn giữ được tinh thần văn hoá dân tộc.
Ðiều này tôi sẽ xin nói vào một dịp khác. Tôi muốn đi đến câu hỏi thứ 3. Câu hỏi này mó vào cũng dễ phỏng tay lắm. Câu hỏi là: "Cộng đồng là thế nào?...". Thoáng nghe qua thì tưởng như "ngờ nghệch", nhưng đọc kỹ thì thật thấm và thật đau vô cùng. Rồi cụ nói: "Không biết ở Úc thì như thế nào, nhưng ở Mỹ thì nát bét như tương...". rồi cụ thách: Ờ! thì bây giờ quý vị muốn làm đẹp cộng đồng như thế nào thì cứ làm đi, còn ở đây thì nhiều người... chỉ cười ! Không biết người ta cười theo cái cười của thằng Bờm hay cái cười của cụ Nguyễn Khuyến? Chữ "cười" này quả là thâm! Thế nhưng cụ lại định nguyên nhân bệnh đó là "do cái Tôi". Chắc hẳn cụ đã nghĩ đến việc trước hết chữa được căn bệnh này thì rồi mới trị được những căn bệnh khác chăng? Nếu đúng là như vậy thì tôi xin phép tôi tiếp với cụ tìm ra một vài căn bệnh khác nữa, và tất nhiên tôi cũng xin đề nghị một bài thuốc chữa. Xin phép quý vị cho phép tôi được nói một vài câu trước khi góp ý kiến này, rằng: ở những người như tuổi chúng tôi thì cũng đã quá "già" rồi, không thể lo được việc cộng đồng, cho nên chúng tôi vô cùng biết ơn những vị đã bỏ thì giờ bỏ công sức ra để lo việc chung. Quả đó là việc khó khăn trong thời buổi này, vì thì giờ ở đây là tiền bạc, thì giờ ở đây là sự thành công, và vì vậy cho nên đó là sự hy sinh đáng kính trọng, đáng được đề cao và biết ơn... Quả nhiên trong những người làm việc nước nói chung, làm việc cộng đồng nói riêng, có gặp nhiều khó khăn ngoại tại lắm.

Thứ nhất là chúng ta hiện tại đã bị khủng hoảng lãnh đạo quá lâu, nên không còn ai có đủ uy tín để "bảo" ai hết cả. Cái bệnh đó không phải lỗi tại chúng ta, nhưng chúng ta đang lãnh chịu và khó có thể vượt qua được. Ðó là một cái khó.

Thứ hai là cái thang giá trị của xã hội chúng ta đã mất lâu rồi. Ðã có lúc người ta cho rằng "giai cấp" Sĩ (trong Sĩ, Nông, Công, Thương) đáng được cái quyền đứng đầu và lo việc dắt dẫn xã hội tiến lên. Với mô thức đó, đất nước ít nhất đã được sống một thời kỳ an bình khá lâu. Tôi không muốn nói đến một thời kỳ loạn lạc mà thứ tự đó đã bị mai mỉa, châm biếm bằng một thứ tự khác!... Nhưng quả thật lúc này người ta không có một cái thang giá trị nào để mà đặt giá trị xã hội. Ðó là nguyên nhân thứ hai làm cho chúng ta không dễ dàng hợp tác chặt chẽ được với nhau.

Một nguyên nhân khác nữa, không phải ngoại tại mà ở trong lòng chúng ta, là chúng ta đã mang theo ra hải ngoại đầy đủ những thói hư tật xấu của thời mà chúng ta còn ở trong nước. Những thói hư đã đưa chúng ta đến sự mất nước thì bây giờ chúng ta lại có đủ cả, tất nhiên ai cũng biết không cần phải nói ra, nhưng đại khái tôi có thể dẫn chứng một câu chuyện chống Cộng ngộ nghĩnh đã qua để quý vị có thể thấy rằng chúng ta đã, thay vì chống Cộng, lại chống ngay những bạn hữu, những đồng minh chiến hữu của chúng ta, và đã đưa những người đó vào việt vị hay vào chỗ chết, để cuối cùng thì chúng ta mất nước ! (câu chuyện được dẫn chứng trong cuốn "Hồ sơ mật dinh Ðộc- Lập" của Nguyễn Tiến Hưng, trang 110, xuất bản ở New York năm 1986, nói về ông trung tướng Quang, chỉ huy An ninh của phủ Tổng thống, và đối tượng bị vị chỉ huy An ninh cho là Cộng sản là ông Cung Tiến, nhạc sĩ, người dịch một cuốn sách chống Cộng rất cao, rất thâm thúy của Solzhenitsin... nói về đời sống trong trại cải tạo)... Sau hết, tôi xin đề nghị chỉ một bài thuốc thôi; ấy là hãy xướng lên một phong trào rằng những người nào muốn làm việc cộng đồng, trước khi nhận nhiệm vụ, như người xưa, phải ra trước một "Hội Thề". Hội thề này làm trước bàn thờ Tổ chẳng hạn hay làm ở đâu đó có sự tham dự của công chúng hay ít nhất của những người tuổi tác cao, có đức độ. để xác nhận mình nhận nhiệm vụ trước đại chúng, để làm việc tốt cho cộng đồng, góp phần xây dựng quốc gia... (Ðến đây có người lên tiếng yêu cầu cắt ngang vì câu chuyện phát biểu đã đi hơi xa...).

Ch.V. An:
Tôi xin góp một vài ý kiến ngắn gọn. Thứ nhất, có lẽ chúng ta cũng không cần phải trả lời những câu hỏi của cụ Ð.V. Dương đâu, bởi vì hỏi là đã trả lời. Cái thắc mắc lo âu của cụ cũng là cái thắc mắc lo âu của mọi người; nếu cụ đã trả lời được thì mọi người cũng có thể trả lời được. Nhưng tôi nghĩ cụ không cần chúng ta trả lời. Cụ chỉ đưa ra những luận đề để chúng ta đào sâu thêm và suy nghĩ cho chín để rồi tìm cách thực hiện, và việc chúng ta đang làm là tìm cách thực hiện những cái khó thực hiện, chứ không phải là trả lời những cái khó trả lời. Thứ hai, nếu bàn về việc cộng đồng thì sẽ có hàng trăm ý kiến. Cụ Dương đã nêu lên những ý kiến cá nhân của cụ. Nếu có ai muốn góp ý với cụ thì có thể viết thư riêng, hoặc viết rõ tên tuổi, đăng lên BTTĐ để trả lời cụ. Nguyên tắc Tâm đàm không cho phép chúng ta đúc kết ý kiến chung để trả lời một ý kiến cá nhân.

- Ô Ng.Th. Vinh:
Tôi xin có ý kiến về việc trả lời các Nghĩa hữu bốn phương. Một ý kiến nói rằng không nên trả lời hay trả lời cá nhân, tôi nghĩ thì cũng phải, thế nhưng riêng về những người chủ trương Tâm đàm thì thế nào? cho nên mình phải công bằng. Tôi nghĩ rằng TĐ có thể trả lời được, nhưng mà TĐ chọn trong những ý kiến chung đó một ý kiến nào hợp với mình nhất, và trả lời rất ngắn gọn. Ngoài ra, trong những bức thư của nghĩa hữu bốn phương mà có liên hệ đến cá nhân nào thì tôi nghĩ rằng người đó có quyền trả lời và TĐ có thể đăng; nhưng xin xem đấy là điều rất phụ mà thôi, bởi vì Tâm đàm chỉ có hoài vọng là sẽ có những phản ứng khắp nơi để mà sửa lại đường lối của mình, chứ không có nghĩa là để kéo dài mãi cuộc thảo luận.

- Ô. Ph.Đ. Kỳ:
(Ðến đây Ô. Ph.Đ. Kỳ nêu lên vấn đề về thực chất của Cộng Ðồng Người Việt Tự Do địa phương và những hệ luận của nó, đồng thời nêu lên một vài đề nghị. Vấn đề tuy không phải không có lý do, nhưng đã không đi vào trọng tâm và đề tài của buổi Tâm đàm, nên được cử tọa yêu cầu gác lại để nhường diễn đàn cho ông Phan Ðông Bích).

- Ô. Ph.Ð. Bích:
Ðề tài tham luận "Chiến lược Tâm công" sau đó đã được ông Ph.Ð. Bích trình bầy rõ ràng khúc chiết, gồm các phần: Chiến lược Tâm công của Ðức Hưng Ðạo Vương; Chiến lược Tâm công của Ðức Lê Lợi và Nguyễn Trãi; Chiến lược Tâm công trong thế kỷ 20; Và được kết thúc bằng một cái nhìn rất sơ lược của người tham luận về Chiến lược Tâm công VN trong thế kỷ 21. (Nội dung bài tham luận do Phan Quang Việt ghi chép được ấn loát trong BTTĐ số này).

- Ô. L.L.THẢO: Sau đó, đã nói đôi lời cảm tạ diễn giả và mời tất cả tham luận viên cùng đóng góp vào đề tài thuyết trình của ông Ph.Ð. Bích.

- Ô. Đ.T.Dực:
Ðức Trần Hưng Ðạo cũng như Ðức Lê Lợi và Nguyễn Trãi là những con người xuất chúng. Công việc mà các ngài làm để huy động nhân tâm, dù cho chỉ chú trọng vào việc giải quyết vấn đề quân sự ở chiến trường thôi, cũng đòi hỏi những khả năng phi thường. Tuy nhiên việc áp dụng chiến lược tâm công vào giai đoạn này sẽ khó hơn rất nhiều. Vì, theo tôi nghĩ, hồi xưa vào đời nhà Trần cũng như nhà Lê, nền văn hoá của nước ta là một nền văn hoá "tam giáo đồng nguyên", một nền văn hoá đã ăn sâu vào tâm thức con người, rất coi trọng chữ Tâm và coi trọng tinh thần bất bạo động. Bằng cớ là không bao giờ có những cuộc chiến tranh tôn giáo như đã từng xẩy ra trên thế giới... Tuy nhiên sau khi đất nước bị người Pháp đô hộ và một thời gian bị lệ thuộc người Mỹ thì chúng ta đã bị tràn ngập bởi những trào lưu Tây phương, và hầu như là cái Tâm của người VN mình không còn thuần nhất nữa. Vậy nếu muốn áp dụng chiến lược tâm công vào cuộc chiến đấu của dân tộc thì trước hết phải xây dựng lại cái Tâm cho người VN. Một hiện tượng mà tôi nhận thấy ở một số người trẻ VN sang đây du học là họ “nói láo” không thể tưỡng tượng được! dường như trong lúc này người ta coi việc nói láo là cần thiết để sinh tồn. Lý tưởng Chân Thiện Mỹ không còn nữa. Cho nên việc đầu tiên trong chiến lược Tâm công là phải xây dựng lại nền tảng văn hóa, xây dựng lại cái căn bản đạo đức của người Á Ðông. Việc xây dựng lại văn hóa ấy có một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng.

- Ô. Ng.Th. Vinh:
Tôi cám ơn anh Bích đã đánh thức dậy một điều đã lắng đọng trong lòng tôi từ lâu lắm rồi, một điều mà nhiều người VN đã cố gắng đánh thức nó dậy mà cũng không được, qua thời kỳ chiến tranh. Anh đã trình bầy vấn đề tâm công một cách khúc chiết và cảm động nữa. Ở đây có cả cái Tâm đi liền với cái Trí, đấy quả thật là một chiến lược rất quan trọng cho người Việt trong tương lai, và không những cho người Việt mà cho cả thế giới nữa. Tuy vậy chúng ta cũng phải bình tĩnh, vì vấn đề công tâm trong thời gian này cũng khá phức tạp. Như anh Ð.T.Dực vừa nói, phải xây dựng lại văn hoá, trong một thời kỳ đảo điên như thế này điều đó quả thật là đúng một phần, một phần thôi.

Trong thời kỳ chiến tranh VN cũng có nhiều người nhìn thấy cuộc đấu tranh của ông Gandhi và cũng đã áp dụng chiến lược đó; thế nhưng tiếc thay chính sách của người Anh khác với chính sách của người Pháp. Bằng cách chiến đấu bất bạo động như vậy Gandhi ở Ấn Ðộ thành công được, nhưng ở VN cũng rất nhiều người chiến đấu như thế mà đã thất bại. Tôi muốn nhắc tới các ông vua bị đầy: ông Duy-Tân, ông Thành-Thái và ông Hàm-Nghi. Tôi muốn nhắc tới những người tranh đấu bất bạo động như cụ Phan Chu Trinh, đến nỗi con của cụ là Phan Văn Dật ở Pháp chỉ xin được về lại VN để tranh đấu bất bạo động như cụ thôi, ấy thế mà ông đã bị giết ngay trên máy bay. Cũng như đức Duy-Tân, khi người Pháp điều đình với ông Bảo-Ðại không được thì dự trù sẽ điều đình với ông Duy-Tân, đến khi Pháp điều đình với Bảo-Đại xong rồi thì vua Duy-Tân đã bị chết trong một tai nạn máy bay hết sức bí mật! Thế thì trước chính sách tàn bạo đến như vậy liệu chúng ta có thể dùng sức mạnh bất bạo động được không? Gần chúng ta hơn, là trường hợp ông Nhất-Linh. Trước đấy chúng tôi đã đề nghị là đến trước Quốc hội để tuyệt thực cho tới chết, nhưng mà cái dự định ấy bất thành. Vì vậy mà sau đó khi một số người bị đầy đi Côn- Ðảo, ông Nhất-Linh đã tự tử. Ðó là một đòn công tâm, đánh thẳng vào tâm lý của mọi người, ấy thế nhưng cũng không có ai hưởng ứng cả. Rồi tới Hoà thượng Quảng-Đức tự thiêu, đấy cũng là một cái công tâm...

Anh Bích trình bầy chiến lược Tâm công trong dĩ vãng của Trần Hưng Ðạo, rồi tới Lê Lợi, Nguyễn Trãi. Trong các trường hợp này các vị lãnh đạo đặt mạnh vào công tâm nhưng mà còn có sự yểm trợ về quân sự nữa. Cho đến Ðức Ðạt-Lai Lạt-Ma thì quả thật đó là một sự công tâm bất bạo động. Thế nên tôi đặt vấn đề như thế này: liệu trong hoàn cảnh hiện tại ở VN, liệu trong cái áp lực hiện tại của thế giới về dân chủ và nhân quyền, thì người VN có thể tranh đấu bằng chiến lược Tâm công này được không? Vấn đề này đặt ra để cùng suy nghĩ vì không ai có thể trả lời ngay được đâu... Còn điều mà anh Dực phân vân vì nhân tâm phân hoá... thì tôi nghĩ không sao đâu. Ông Nguyễn Trãi có nói một câu rất hay:

"Cũng nhân tâm ấy há thiên lý nào".

Sở dĩ chưa được là bởi vì chưa có người, chưa có đủ những cái gương sáng về công tâm đánh động tới lòng người. Ðến một thời kỳ đã chín mùi thì vấn đề sẽ không còn quá khó khăn nữa.

- Ô. Ph.Ð. Bích:
Phần góp ý của Ls. Ð.T. Dực và Gs. Ng.Th. Vinh vừa rồi đưa chúng ta trở về 2 điểm quan trọng: Ðiểm thứ nhất, chúng ta cứ lo lắng là cái Tâm của người việt ở khắp nơi trên thế giới đã quá phân tán. Thật ra cái phân tán khác biệt đó là cái trí suy nghiệm, cái tri thức của mỗi người mà thôi, còn cái Tâm thì ai cũng như ai, không ai khác ai cả. Chúng ta đừng bàn xa đến cái suy luận, tri thức, tìm hiểu, phân tích, tổng hợp, kiến thức... của mỗi người, vì nó đều khác nhau.

Thời Lê Lợi khởi nghĩa cũng có nhiều người khác dấy nghĩa, tất cả đều đứng lên để mà giành lại độc lập tự chủ cho dân tộc. Tuy nhiên Lê Lợi và Nguyễn Trãi cũng không thể nào đi để mà gặp gỡ tất cả những vị đó để mà nói rằng chúng ta hãy cùng ngồi lại để đoàn kết với nhau. Cũng khó lắm, huống hồ là chúng ta ngày nay sống rải rác ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên khi mà Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã nêu được cái Tâm sáng rồi, đã có chính nghĩa rồi, thì tất cả mọi người đều chỉ hướng về cuộc khởi nghĩa ấy mà thôi. Ðiểm thứ 2, những vấn đề mà Gs. Vinh cũng như anh Dực đã đưa ra về văn hoá, chúng tôi hoàn toàn đồng ý; nhưng để thức tỉnh lương tâm con người, ta phải học rất nhiều về phương pháp đấu tranh của thánh Gandhi, của Nelson Mendela, của đức Lạt-Lai Lạt-Ma, và gần đây nhất của bà Aung San Suu Kyi ở Miến Ðiện.

Chúng tôi đã đưa ra đề nghị chiến lược Tâm công song hành với bất bạo động để có thể áp dụng trên nhiều quốc gia trên thế giới. Chúng ta không vi phạm luật của một quốc gia nào cả nếu áp dụng tâm công bằng phương pháp bất bạo động. Chúng ta cũng phải xử dụng triệt để những phương tiện truyền thông. Hồi nẫy, tôi xin phân tích một số yếu tố khiến thánh Gandhi đã thành công.

Xin nói thêm: Chiến lược Tâm công phải được áp dụng trải dài trong thời gian và trong không gian. Thánh Gandhi không đi xe hơi xuống bờ biển Dandi để làm muối, thánh Gandhi đi bộ qua 300 ngôi làng và đi bộ 241 dặm trong 24 ngày, tức là ngài kéo dài cuộc đấu tranh đánh thẳng vào lòng người. Cả thế giới đều nhìn vào con người nhỏ bé đó với hàng nghìn người đi xuống miền bờ biển, để làm gì? Ðể làm muối ! để chống lại thuế muối. Do đó cái yếu tố tâm công của thánh Gandhi là kéo dài trong thời gian và trải dài trong không gian. Nếu thánh Gandhi tới ngồi trước toà Toàn quyền Anh để tuyệt thực, hay là ngồi biểu tình từ sáng đến trưa... thì không thể nào thành công được. Thế mà chúng ta vẫn làm theo cách này, ở nhiều quốc gia, ngồi biểu tình từ sáng đến trưa; tôi cam đoan không thể thành công được! Ðiều thứ hai mà chúng ta phải để ý trong chương trình đấu tranh của thánh Gandhi, là không phải thánh Gandhi nhục mạ cái chế độ đô hộ của người Anh, trái lại thánh Gandhi muốn buộc chế độ đô hộ của người Anh phải đối diện với sự thực và lẽ phải... Trở về vấn đề của đất nước chúng ta, rất nhiều người đấu tranh bất bạo động hiện thời đang nằm trong tù như chúng ta đã biết... thế thì người Việt ở hải ngoại có thể đại diện để nói cái tiếng nói lương tâm của những người này hay không? Tôi khẳng định một điều là chúng ta có thể nói.

- Chúng ta nói như thế nào?
- Chúng ta nói trong tinh thần bất bạo động.
- Chúng ta nói ở đâu?

Chúng ta nói ở những diễn đàn khấp nơi trên thế giới. Chúng ta nói qua phương tiện truyền thông.

Trở về nguyên tắc hành động của Gandhi, chúng ta đã nhìn thấy là Satyagraha hay Tâm lực (soul force) không đòi hỏi chúng ta phải có võ khí, không đòi hỏi chúng ta phải huy động quân đội này quân đội khác. Nhưng mà trong thời gian của Trần Hưng Ðạo thì không còn sự chọn lựa nào hết. Quân Nguyên kéo đến thì chỉ có bị tiêu diệt hay là huy động cái tâm của toàn dân kết hợp với sức mạnh quân sự để dồn toàn lực lượng chống lại. Ðấy là chuyện tất nhiên phải có. Thời Lê Lợi cũng vậy. Khi đánh giặc thì phải dùng đến quân sự; nhưng mà khi bao vây thành, Lê Lợi không chủ trương giết những kẻ thù, mà buộc kẻ thù phải thấy rõ thời cơ mà mở cửa thành đầu hàng để được toàn mạng sống. Và Lê Lợi đã giữ đúng lệnh khoan hồng đó. Cuối cùng thì hết thẩy quan quân của nhà Minh và vợ con của họ đều được chu cấp thuyền bè, lừa ngựa, lương thực... để hồi hương. Chúng ta chưa bao giờ thấy trong một cuộc chiến tranh chống bạo lực mà lại giảm thiểu sự hao tổn sinh mạng đến như thế... Còn đến thời hiện tại thì thưa Quý vị Aung San Suu Kyi ở Miến Ðiện, cũng như đức Ðạt-lai Lạt-ma của Tây Tạng cũng đang đấu tranh với các chế độ độc tài. Tại sao ta không học những bài học đó? không tìm xem họ đấu tranh như thế nào? Ðây là những con người dám hành động. Tôi chưa nghiên cứu kỹ về Mendela; nếu có dịp nào tôi sẽ trình bầy thêm về vị này. Cũng xin thưa với một vị nào lúc nãy nói là chúng ta đã "già" quá rồi không thể hành động, thì thưa quý vị, Mendela mới ăn mừng sinh nhật 80 tuổi, còn Gandhi lúc đi bộ đã 61 tuổi, còn Ðạt-Lai Lạt-Ma năm nay cũng ngoài 60 tuổi; thành ra đừng nghĩ là chúng ta "già"! Ở tuổi nào Tâm của chúng ta cũng "trẻ". Tâm không bao giờ già, chỉ có cái thân là già đi thôi. Nếu một cái xe ngựa không đi thì chúng ta nên đánh con ngựa hay đánh cái xe?

Thưa quý vị, chúng ta nên đánh con ngựa.

- Ô. Tr.Th. Cơ:
Theo ý anh Bích thì những cuộc biểu tình ở đây hoàn toàn vô giá trị hay sao? Tôi lấy một thí dụ gần đây nhất, người Việt ở tiểu bang Victoria biểu tình để chống việc kết nghĩa (giữa thị hạt Marybymong ở Melboume với Quận 1, TP/HCM). Rất nhiều quý vị trong Ban Chấp Hành CĐNVTD ở NSW này có thể cũng đồng quan điểm với anh. Nhưng ở Victoria thì không đồng quan điểm đó, họ đã nhất định phải có những cuộc "bạo động trong sự tôn trọng luật pháp". Việc làm của họ ít ra cũng đã thành công trong một khía cạnh nào đó, và việc kết nghĩa kia đã không thành tựu được. Nếu không có những cuộc biểu tình như vậy, thì bây giờ cái cuộc "kết nghĩa" đó đã thành công, và phái đoàn QI thành Hồ sẽ kéo qua thăm, đương nhiên họ có quyền treo cờ căng biểu ngữ ở đó. Sẽ không có một người Việt nào có quyền phản đối khiếu nại... Tôi đã từng nói với vị lãnh đạo CÐNVTD/ NSW rằng nếu một ngày nào chúng ta không còn một hành động biểu lộ thái độ chính trị nào nữa, thì cờ CSVN sẽ treo một cách hợp pháp hợp lý ở bất cứ đâu và "một số người Việt" sẽ hân hoan chào đón đồng chí... Ba Chọi nào đó chằng hạn; lúc đó người Việt chúng ta ở đây còn có thể gọi là người Việt tỵ nạn CS không? Thứ hai nữa, anh nói về cái cuộc đi bộ vĩ đại của thánh Gandhi. Tôi xin hỏi: liệu một cuộc đi bộ như vậy có thể thực hiện ở VN được không? Tôi dám chắc 100% là nó không thể thực hiện được.
Anh cũng nói rằng Gs. Ðoàn Viết Hoạt đấu tranh bất bạo động. Tôi cho là không hẳn như thế. Gs Hoạt và nhóm của ông đưa ra một chương trình đấu tranh rất cương quyết. Ông phân phát những tài liệu đấu tranh ấy, vì lý do đó nhà cầm quyền CS đã bắt ông...

- Ô. Ph.Ð. Bích:
Như vậy anh nghĩ là ông ấy bạo động hay sao? ông ấy trình bầy và phát biểu quan điểm đâu có thể nói là bạo động được. Tuy nhiên trở lại vấn đề này tôi không đưa ra một đề nghị nào hết, tôi chỉ phân tích những yếu tố nào khiến thánh Gandhi đã thành công thôi . Chúng tôi không phê phán việc làm của bất cứ một ai. Nếu có những ai làm điều gì thì tất họ đã có những suy nghĩ và có chương trình hành động của họ, mình không có quyền phê phán. Hành động của CĐNVTD Vic, tất cũng có những lý do của nó, chúng ta không bàn ở đây là những việc làm ấy đúng hay sai. Chúng tôi chỉ đưa ra những chiến lược tâm công của những vị đã làm trong lịch sử mà thôi, và hoàn toàn không phê phán ai hết. Ðiều thứ hai tôi không nói gì về phương pháp hành động của Gs. Ðoàn viết Hoạt hay của Bs. Nguyễn Ðan Quế đúng hay sai. Chúng tôi chỉ nói rằng những vị đó cũng đòi hỏi dân chủ và nhân quyền. Những vị đó không có tấc sắt trong tay cho nên tôi nghĩ là các vị đó không chủ trương bạo động. Còn việc đi bộ ở trong nước, thưa anh, năm 1992, 40 ngàn người đã biểu tình ở Huế... Khi mà sức mạnh của dân chúng đã chỗi dậy, thì "Nước là nước để chở thuyền, nước cũng là nước để lật thuyền", dân cũng là dân để đưa chế độ lên, và dân cũng là dân để mà lật chế độ xuống. Vấn đề chúng ta đang bàn ở đây là liệu người Việt ở hải ngoại có làm được gì để hỗ trợ cho công cuộc đấu tranh ở trong nước, chứ chúng tôi không hề đề nghị một phương pháp đấu tranh nào trong nước cả.

- Ô. V.V. Cẩn:(?)
Tôi có vài suy nghĩ không biết có liên hệ đến tâm công không: Chiến lược mà chúng ta cần áp dụng không có tính cách vận dụng để chống ngoại xâm như của Gandhi, hoặc như của đức Lê Lợi - Nguyễn Trãi, vì đây là vấn đề giữa người Việt với nhau. Trong thời kỳ 1945, tất cả thanh niên đều đứng dậy chống ngoại xâm để giành lại độc lập cho đất nước. Bên cạnh đó có phong trào Cộng sản, lúc đó nó không có lý tưởng dân tộc (dĩ nhiên không có mục đích tranh đấu giành độc lập tự do cho dân tộc), mà chỉ có sách lược đấu tranh giai cấp để giành quyền lực dưới chiêu bài giải phóng dân tộc mà thôi. Vì thế cho nên năm 1945 rất nhiều người đã đi theo phong trào Việt Minh chỉ vì họ nghĩ rằng đó là vấn đề giải phóng đất nước. Ngày nay, công cuộc "giải phóng đất nước" - hãy tạm nói theo cách người CS -- đã hoàn tất rồi; nhưng nguyện vọng của lớp thanh niên 1945, là sự công bằng xã hội mà giai cấp đấu tranh đã hứa hẹn, thì chưa thấy... Khi xưa những người theo cộng sản tin rằng chỉ có con đường bạo lực cách mạng mới chống được tư bản để lập lại công bằng xã hội. Nhưng sau khi "giải phóng" đất nước rồi thì họ thấy mình bị phản bội, vì như đã nói trên, sự công bình xã hội đã không được thực hiện... Vậy thì họ sẽ phản ứng như thế nào? Ở bên các nước Tây phương, người ta đã thay đổi cách mạng bạo động (revolution) bằng sự diễn tiến hoà bình (evolution) qua trung gian của Nghiệp đoàn, trong đó không còn đổ máu nữa. Ngày nay, ở VN những người CS đang thành hình hai giai cấp rõ ràng là giai cấp chủ nhân và giai cấp công nhân, diễn tiến đó bắt buộc phải xây ra theo quy luật của kinh tế. Nếu như chúng ta gợi ý cho họ (những người CS bất mãn với vấn đề đấu tranh giai cấp) về một phương thức lập nghiệp đoàn để mà đấu tranh trong sự tôn trọng luật pháp, thì có thể gây được những phản ứng nội tại...

-Ô. L.V. Lượng: (?)
...Ðấu tranh với CS, nếu chúng ta hô hào dân chúng đi biểu tình, liệu da thịt có đỡ nổi súng đạn hay không? Vậy phải làm cách nào để chế độ CS ý thức được lòng dân và nguyện vọng tự do dân chủ của dân? Ở Ấn Ðộ, sở dĩ thánh Gandhi đã thành công là vì trong giai đoạn ấy người Anh cũng đã có vẻ muốn buông lơi cho các thuộc địa. Chúng ta nhớ phần nhiều các thuộc địa của người Anh đều được trả lại độc lập một cách êm đẹp hơn là các thuộc địa của người Pháp. Bởi vậy, theo thiển ý, cuộc chiến tranh bây giờ là chiến tranh kinh tế. Trong chiến tranh kinh tế ta phải tìm ra cách để đặt chế độ CS vào một thế bí, không tìm được lối thoát; chứ còn đấu tranh bằng biểu tình hay bằng phương pháp bất bạo động của thánh Gandhi thì cũng sẽ không bao giờ thành công được. Chúng ta thấy đã bao nhiêu cuộc biểu tình như là ở Thái-Bình, Xuân- Lộc... cũng không có đi đến thành công!

- Ô. Ph.Ð. Bích:
Xin lỗi ông là cuộc nổi dậy của dân chúng ở Ðông âu đã thành công, và ngay chế độ CS của Liên Xô cũng đã phải xụp đổ.

- Ô. LV. Lượng:
Ðúng! Nhưng trong thời điểm đó Liên Xô cũng sắp tan rã vì nền kinh tế Liên Xô đã bị kiệt quệ.

- Ô. Ph.Ð. Bích:
Thưa ông, chế độ CSVN cũng sắp sửa tan rã! Tôi xin trình bầy rõ thêm: Chế độ CSVN tồn tại được nhờ sự đầu tư của nhiều quốc gia ở Á châu trong số đó có Singapore, có Ðại Hàn, có Ðài Loan, có Nam Dương, có Thái Lan và tất cả các quốc gia đó đang khủng hoảng kinh tế. Tôi cũng xin nhắc lại một điều mà có lẽ chúng ta quên trong lúc đầu; tôi có nói đến cái Tâm dũng. Từ bi, trí tuệ, lại phải dũng cảm nữa. Thánh Gandhi là một biểu tượng của tinh thần vô úy đó. Không phải đấu tranh bất bạo động là không bị người Anh nhốt vào tù. Thánh Gandhi đã từng vào tù ra khám, không sợ chết ! Năm 1948 chính ngài đã qua Pakistan điều đình việc kết hợp hai quốc gia và chính ngài bị bắn chết bởi một người cuồng tín theo Ấn Ðộ giáo... Chính Aung San Suu Kyi gần đây cũng nói rõ về cuộc đấu tranh bất bạo động của thánh Gandhi. Nhưng mà điều này chúng tôi đang nói chúng ta áp dụng ở hải ngoại. Tôi không đề nghị chúng ta đấu tranh bất bạo động ở trong nước. Chúng tôi không dám lạm bàn chuyện đó vì những bậc thức giả trong nước đang đấu tranh, mà chúng tôi không hiểu tình hình trong nước làm sao dám lạm bàn? Chúng tôi chỉ xin đề nghị một phương pháp đấu tranh tại hải ngoại mà thôi, để hỗ trợ cho những gì ở trong nước...

Tôi đề nghị chúng ta nên học kỹ những bài học của người xưa. Ngày xưa Napoléon đánh vào nước Nga bị tiêu thổ kháng chiến, bị mùa đông đến, thiếu lương thực mà phải thảm bại. Một trăm năm sau Hitler cũng lại xua quân vào Nga cũng lại bị cái bài học đó. Ngày xưa đức Ngô Quyền đánh giặc Nam Hán trên sông Bạch Ðằng, dùng cọc gỗ bọc sắt cắm dưới lòng sông, đánh đắm hết thuyền địch. Vài trăm năm sau đức Trần Hưng Ðạo cũng dùng cọc gỗ bịt sắt, cũng đánh bại quân Nguyên trên sông Bạch-Đằng. Chiến lược Tâm công nếu khéo dùng thì thời nào cũng hữu hiệu. Ngày nay nó có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức: lên tiếng trên intemet, trên đài phát thanh, đến gặp các phái đoàn chính phủ... Gần đây nhất đức Ðạt-lai Lạt-ma đến thăm 7 người tuyệt thực cho tới chết để tranh đấu cho nền độc lập của Tây-Tạng. Việc tuyệt thực cho đến chết là một hành động bạo động mà ngài không bao giờ đồng ý, nhưng việc ngài đến thăm người tuyệt thực là một hành động tâm công. Bà Aung San Suu Kyi đi một cái xe đến một cây cầu bị chặn đứng lại trong 6 ngày, báo chí, truyền thanh, truyền hình đều nói, và ngay cả ngoại trưởng của Mỹ cũng phải nhắc tới tại Liên Hiệp Quốc, đó là hành động tâm công.

- Ô. Ch.V. An:
(Bàn thêm về các chiến lược công tâm và công lương trong tình hình thế giới hiện tại và vào đầu thế kỷ tới. Ðề nghị cũng nên nghiên cứu kỹ về Mặt trận kinh tế của thế giới, bởi vì nó có thể có ảnh hưởng cấp thời đến tình hình đất nước).

- Ô. Ð.T. Dực:
"Tâm công" và "Bất bạo động" là hai điều hoàn toàn khác biệt. chủ trương bất bạo động có một vị trí chiến lược rất cao. Các cuộc đấu tranh bạo động đã mất dần ưu thế trên công luận quốc tế. Hơn nữa,những cuộc đấu tranh bạo động thành công thường hay biến thành độc tài. Còn chiến lược tâm công do anh Bích trình bầy, nếu như anh không nâng chữ tâm lên đến mức độ gần như là thần thánh, siêu hình, thì chúng ta rất dễ giải quyết, lúc đó ta có thể hiểu chữ tâm công có ý nghĩa giống như "Tâm lý chiến". Tâm lý chiến không nhất thiết phải bất bạo động, bởi vì tâm lý chiến cũng có những tác dụng mạnh mẽ ngay trên chiến trường. Lúc nẫy tôi đặt vấn đề công tâm là khó, vì khi đưa cái tâm lên mức độ siêu hình, thì nếu chúng ta muốn công tâm, chúng ta phải xây dựng lại toàn thể nền móng văn hoá của cả một thế hệ người VN. Lúc đó chúng ta mới có một đối tượng để thực hiện tâm công. Còn nếu không xây dựng lại nền tảng văn hoá thì chúng ta chỉ làm công việc của tâm lý chiến mà thôi. Theo tôi nghĩ thì ngay khi ông Nguyễn Trãi viết trên lá "Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần" cũng chỉ là một hành động tâm lý chiến... mà thôi. Chúng ta không nên lúc nào cũng thần thánh hoá những điều của tiền nhân làm, mà nên dùng trí tuệ xem xét cho kỹ lưỡng... Tôi nghĩ rằng trong việc tranh đấu chúng ta nên áp dụng Tâm lý chiến, nhưng áp dụng nó với sự thành thật (vì sự thật luôn luôn có tính thuyết phục chắc chắn), và cần phối hợp Bất bạo động với Tâm lý chiến.

- Ô. Ph.Ð. Bích:
Tôi không nghĩ là đức Lê Lợi và Nguyễn Trãi lại có ý ... gạt dân chúng. Nếu Nguyễn Trãi hiểu Kinh Dịch biết trước việc tất xẩy ra về sau, thì ngài cần gì phải lừa gạt dân chúng. Vả lại, khi Lê Lợi khởi nghĩa ngài đã xưng Bình Ðịnh Vương rồi; ông Nguyễn Trãi về đầu quân phò tá cho Lê Lợi thì là thần rồi, các ngài không có lừa dân. Ðiểm thứ nhì tôi không đồng ý với anh Dực, là anh nói nâng cái tâm lên mức độ thần thánh... Thưa, có gì thần thánh đâu? Gandhi là người đi bộ trên trái đất này và Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi là nhưng con người thật như chúng ta đây. Tôi cũng không nghĩ cái tâm là một điều gì thần thánh. Trong mỗi người chúng ta tâm đang hiện diện một cách bình thường, sinh động. Có điều chúng ta đang quên cái tâm đó và đang chạy ra ngoài, chạy theo danh lợi, chạy theo vinh hoa... Còn Tâm lý chiến lại là một vấn đề khác...

- Ô. V.H. Ðang:
Ðề tài mà anh Ph.Ð. Bích trình bầy là "Chiến lược Tâm công". Tôi có ý kiến là chúng ta nên phân biệt "Chiến lược TC" và "Chiến thuật TC". Ðôi khi chúng ta có sự lầm lẫn giữa chiến thuật và chiến lược. Chiến thuật thì chỉ có tính cách ngắn hạn. Chiến tranh tâm lý là một chiến thuật, biểu tình bất bạo động là một chiến thuật, còn cái chiến lược công tâm đó thì có một số những nguyên tắc như anh Bích đã trình bầy. Sự áp dụng chiến lược đó vào thực tế đòi hỏi sự chọn lựa thích ứng những chiến thuật thích hợp. Thành ra, trong những phát biểu vừa rồi không có sự mâu thuẫn nào cả. Một người thì nói về chiến lược, một người thì bàn về chiến thuật mà thôi. Sau đây chúng tôi xin có một vài ý nghĩ về chiến lược TC. Chiến lược này có 2 đặc tính chính yếu: đặc tính thứ nhất là nó đánh vào lòng người; đặc tính thứ hai là nó dùng thế yếu để chống với thế mạnh, dùng cái vũ khí "không vũ khí" để mà chống với bạo lực đàn áp. Trong hiện tình VN, ở quốc nội cũng như hải ngoại, chúng ta vẫn có thể có những chiến thuật thích ứng để mà áp dụng chiến lược tâm công. Cái hình thức đấu tranh cho Nhân quyền cũng là một chiến thuật trong chiến lược tâm công. Cái hình thức (biểu tình) bất bạo động hay là đấu tranh bằng những phương tiện truyền thông cũng là một chiến thuật có thể chọn lựa trong chiến lược TC. Sự chọn lựa những chiến thuật đó tuỳ thuộc vào sáng kiến cá nhân, vào hoàn cảnh, vào môi trường hoạt động... Trở lại công việc của chúng ta, là bàn về vị trí của "chiến lược tâm công" trong việc xây dựng một định hướng trong cuộc chiến đấu của dân tộc". Có lẽ chúng ta không nên nghi ngờ về tính cách ưu việt của chiến lược TC trong cuộc chiến đấu của dân tộc, mà chỉ nên bàn về tính cách thích ứng và hữu hiệu của các chiến thuật tâm công để có sự chọn lựa thích đáng.

- Ô. Ng.Th. Vinh:
Bài thuyết trình của anh Bích vừa rồi rất thích hợp với hoàn cảnh của chúng ta. Nó có thể áp dụng thuận tiện ở hải ngoại, vì nhiều phong trào ở hải ngoại nghiêng về bạo động đã không thích hợp với người ngoại quốc mà đồng thời cũng thất bại đối với người VN nữa. Vì đó mà cần phải chú trọng đến "chiến lược tâm công". Quả thật bây giờ việc tranh đấu cho nhân quyền bằng phương pháp bất bạo động đã trở thành một chiến lược rồi. Quý vị đã thấy từ khi Á-đông bị liên tục khủng hoảng về kinh tế thì, song song với điều này, một mũi dùi chiến lược có thể làm thay đổi một chế độ độc tài chính là Tâm công. Tôi nghĩ rằng đó là điều đã đem lại sự thành công ở một vài nơi trên địa bàn Á-đông, và nếu chúng ta áp dụng chiến lược đó thì ít nhất nó cũng mang lại những ích lợi cho các phong trào đấu tranh ở trong nước. Tôi còn nghĩ xa hơn thế nữa, rằng cái chiến lược tâm công đó cũng có thể áp dụng ngay ở VN, bởi vì những thử thách về quân sự, về bạo động cũng đã thất bại nhiều rồi. Có vị cho là chiến lược tâm công ở VN đã thất bại thì tôi nghĩ là không phải. Mọi việc đều có cái diễn tiến của nó. Bắt đầu quý vị thấy một vài người phản đối, rồi bị tù, rồi lần lần quý vị thấy rằng ngay trong nội bộ của đảng CS cũng có nhiều người phản đối và bị tù, rồi nhiều vị lãnh đạo tinh thần bắt đầu cũng xướng lên tự do tín ngưỡng và bị tù, rồi nhiều người trong các phong trào cứu lụt, cứu trợ cũng bị tù... nhưng mà chúng ta cũng thấy những phong trào đó không hề lụn xuống mà càng ngày càng dấy lên...

Dân chúng đã bất đầu biểu tình hàng mấy tỉnh ở miền Nam cũng như miền Bắc. Tôi nghĩ rằng cái chiến lược tâm công đó nó phải uyển chuyển tuỳ hoàn cảnh mà thôi , và tôi cũng nghĩ rằng người VN đủ sáng kiến đủ khôn ngoan để mà đi tới thành công. Cuối cùng, với tình trạng kinh tế càng ngày càng lụn bại, hoàn cảnh đời sống của dân chúng là một yếu tố tiếp trợ đối với chiến dịch tranh đấu cho nhân quyền.

- Ô. Đ.V. Quang:
Ý kiến vừa rồi của Gs. Vinh rất rõ ràng. Trong vấn đề mạnh và yếu chúng ta có những phương thức hành động khác nhau: mạnh thì mình biểu tình (để biểu dương sức mạnh), còn yếu thì mình tiêu cực tuyệt thực; còn bạo động thì sự thật chúng ta chưa có. Ðiểm thứ hai, tôi đề nghị, hãy thành lập một ủy ban để đi vận động với các tôn giáo (với một số người được nêu ra) để từ đó vận động quần chúng... trong các mục tiêu tâm công. Thật ra một chính phủ Quốc-gia vô hình đã thành hình rồi, với nhiều tấm lòng yêu nước ở khắp nơi. Tuy nhiên cái tâm yêu nước thì có, nhưng cái tâm để mà nhường nhau thì hình như không có ! Quý vị nên vận động và liên kết hành động với các nơi khác như hoạt động về nhân quyền của ông Võ Văn Ái chẳng hạn... Tất cả những điều mà tôi nghĩ đây không phải là để phát động một cái gì cho Ðồng-Tâm, tôi thường bảo đây là một cái "club" cho tuổi trẻ sau này, như ngày trước có Khai-Trí Tiến-Đức, vì vậy tôi muốn lưu lại những gì quý vị ở đây có cho chính con cháu tôi.

- Ô. Ph. Hải:
Tâm công vốn là một chiến lược không thể thiếu trong cuộc chiến đấu của dân tộc, và quan trọng ngay cả trong những lãnh vực không liên quan gì đến việc chiến đấu. Tuỳ theo tri thức và hoàn cảnh của mỗi người, quan niệm về chữ Tâm và Tâm công có khác, nhưng nói chung đại đa số quần chúng đều hiểu chữ Tâm ấy một cách đơn giản là Tấm lòng. Hễ làm việc gì chung thì người ta phải có sự "đồng lòng". Hễ làm việc thương mại thì đều cốt yếu là phải được lòng khách hàng... Nói tóm lại, vấn đề "lấy lòng" và "được lòng người khác" là điều bắt buộc phải có trong mọi lãnh vực sinh hoạt. Ðiều quan tâm của chúng ta ở đây, khi bàn về tâm công như một chiến lược, chính là làm sao quy tụ được lòng người vốn đã quá ly tán vì những vết thương thời đại. Mỗi người, ở mỗi trình độ, mỗi hoàn cảnh... đều thể hiện ra những sự quan tâm, suy nghĩ khác nhau. Làm thế nào để hướng sự quan tâm suy nghĩ của mọi người về cùng một phía, ấy là mục tiêu đầu tiên của Tâm công. Sự đánh động về trách nhiệm lương tâm của mọi người đối với một công việc chung nào đó chằng hạn, làm cho người ta sẵn sàng chia xẻ công việc ấy một cách vô vị lợi là một phương thức tâm công. "Một cái gì đó, mà chúng ta nêu lên để đánh động tấm lòng mọi người là một điều phải rất nhiều suy nghĩ , và cách thức làm sao để đánh động tấm lòng mọi người lại cũng là những vấn đề phải đào sâu nhiều hơn nữa.

- Ô. V.N. Tân:
Như bác Quang vừa nói lúc nẫy về việc thành lập một ủy ban để đi vận động có tính cách tâm công thì đó là bàn về một chiến dịch chứ không phải về chiến lược. Tôi đồng ý với anh Ph.Ð. Bích là chúng ta nên chú trọng vào việc bàn về một chiến lược làm nòng cốt cho việc tìm một sinh lộ cho dân tộc. Một nhà chiến thuật giỏi có thể tiên liệu được sự thắng bại trên chiến trường và xử dụng tài chỉ huy của mình để đánh thắng càng nhiều trận đánh càng tốt. Một nhà chiến lược thì trái lại chỉ chú trọng đến việc thắng trận đánh cuối cùng mà thôi. Mục đích của chiến lược tâm công là thắng trận cuối cùng đó. Trên thực tế, đối đầu với dân chúng VN là một tập đoàn có chủ trương "thu quyền lực về một mối" để thao túng đất nước. Mục đích của chiến lược tâm công, trái lại, là "quy lòng người về một mối". Thế lực CSVN hiện nay có thể đang chủ động trên các mặt trận (ngay cả mặt trận nhân quyền). Họ có thể có khả năng vô hiệu hoá các cuộc vận động ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Nhưng thật ra trên chiến lược thì họ đang thua, thua ở lòng người trong nước, thua ở lòng người ngoài nước, và thua ở ngay chính trong lòng những người đã từng tin tưởng mãnh liệt nhất vào chủ nghĩa Mác-Lênin bách chiến bách thắng. Ðó là điều để chúng ta tin tưởng rằng chiến lược công tâm vô hình chung đã phát động rất mạnh mẽ ở trong lòng dân tộc, và giờ đây chúng ta đang đi vào giai đoạn bắt đầu của trận đánh cuối cùng.

Kết thúc:
Sau vài lời của ông Ng.V. Huy (?) khuyến cáo diễn giả "Chiến lược tâm công" không nên đem chuyện bói toán để chứng minh một vấn đề, người ta đã được nghe ông Ph.Ð. Bích trình bầy thêm về chủ trương và chiến thuật "Bất bạo động" trong chiến lược tâm công của Gandhi.

Ô. Bích đã kết thúc câu chuyện bằng một cái nhìn thực tế hơn:
-Trong một dịp, thánh Gandhi đã giải thích với các vị lãnh đạo đảng Quốc Ðại rằng: nếu chúng ta dùng súng đạn, dùng võ lực để chống lại người Anh thì đó là dùng cái yếu của ta để chống với cái mạnh của người. Trái lại nếu người dân Ấn Ðộ dùng sức mạnh tâm linh để đối chọi với vũ lực thì chúng ta mạnh hơn.
Và ngài đề nghị một ngày mà mọi người đều đóng kín cổng, ăn chay. Nguyên ngày đó tất cả dân chúng không ai làm việc gì cả. Tất cả các guồng máy của người Anh bị đình trệ. Hồi nẫy có vị đề cập đến việc đấu tranh bất bạo động trong nước. Chúng ta thử nghĩ xem nếu một ngày 72 triệu người VN không làm gì hết, chế độ CSVN bắt tù tất cả sao? Làm gì có nhà tù lớn như vậy? Nhưng có lẽ đất nước của chúng ta đã là một nhà tù vĩ đại rồi! Tuy nhiên ở đây chúng tôi không dám đưa ra bất cứ một đề nghị hành động nào ở trong nước cả...

Ông L.L.Thảo sau hết, đã nói vài lời cảm tạ để chấm dứt buổi Tâm đàm./.

Thư Tâm Đàm 6

- Nghĩa Hữu Bốn Phương

- Nhận định và đề nghị quanh buổi Tâm đàm kỳ 6 và Chiến lược Tâm Công

TÂM ÐÀM - Số 6. tháng mười, 1998

Xin mời xem tiếp Tâm Đàm số 7.