Thư Tâm Đàm Quý Nghĩa hữu thân kính, Trước hết, chúng tôi cảm thấy đã phụ lòng quý nghĩa hữu ở phương xa, quý vị hoặc đã hết lòng khích lệ công việc mà Tâm Ðàm đang theo đuổi, hoặc đã nhiệt tình đóng góp những ý kiến sâu sắc cho đề tài tâm đàm "Thử tìm một định hướng trong cuộc chiến đấu của dân tộc". Gần gũi hơn, chúng tôi cảm thấy đã phụ lòng quý nghĩa hữu ở Sydney, quý vị đã tận tình chia xẻ. đóng góp với chúng tôi từ thành ý, thì giờ, phương tiện cho đến các vấn đề khó khăn khác, kể cả việc vui vẻ lắng nghe những ý kiến bất đồng. Chúng tôi lại cảm thấy dường như đã thiếu bổn phận đối với quý bạn ở lớp tuổi trẻ hơn đang yên lặng theo dõi diễn tiến các buổi Tâm đàm, để học hỏi kinh nghiệm, để nhìn về tương lai, hay để tự tìm lấy cho mình một khởi điểm xứng đáng. Ðiều chúng tôi ấy náy nhiều nhất là với bấy nhiêu sự đóng góp hỗ trợ, Tâm Ðàm vẫn chưa đạt được một vài mục tiêu mong muốn, dù chỉ là việc "đánh động" với quảng đại đồng bào về sự cần thiết phải tự tìm lấy một hướng đi hợp thời cho dân tộc mình trong cuộc chiến đấu muôn đời cho quyền sống và lẽ sống chung. Cuộc chiến đấu đa diện của dân tộc ta thật ra chưa bao giờ ngừng nghỉ, mặc dầu ở bất cứ giây phút nào cũng đã có những người hững hờ buông chèo bỏ lái. Phút giây lơi tay ấy không phải là chuyện hiếm hoi hay bất thường. Sự bất thường có lẽ chỉ xẩy ra khi chúng ta vô tình quên mất sự quan trọng của việc định hướng, hoặc khi mọi người đều yên lòng giao trọn việc định hướng cho bất cứ ai ngồi ở bánh lái. Nhận định như thế chúng tôi cũng đã e có điều chủ quan hoặc bi quan quá. Nhưng sự chia xẻ và đóng góp ý kiến nồng nhiệt của rất nhiều thức giả khắp nơi về đề tài "Thử tìm một định hướng…” đã mang lại cho chúng tôi những sự vững tin. Chúng tôi vững tin rằng: 2- Tìm định hướng cho cuộc chiến đấu chung là vấn đề sinh tử. và cần phải được coi là một trong những bổn phận và nghĩa vụ mà toàn dân phải đóng góp, theo một ý nghĩa nào đó. 3- Với một sự đồng thuận về định hướng, người ta mới có thể nói đến một đồng thuận về chính trị, từ đó mới có thể đi đến một đồng thuận về sự hợp tác, để cho những nỗ lực chiến đấu dù riêng lẻ cũng trở thành những đóng góp hữu hiệu trong một chiến lược chung. Một định hướng chung là điều kiện cần thiết để có thể làm tan đi những chướng ngại nội tại gây ra bởi những xung khắc, mâu thuẫn; để có thể xóa đi những ảo giác, ảo tưởng... Sau hết, chúng tôi vững tin rằng, dù cho vì một vài lý do nhỏ, việc tổ chức các buổi tâm đàm ở Sydney, và do có công việc của BTTÐ, có thể bị tạm ngưng, nhưng cuộc tâm đàm rộng rãi của chúng ta sẽ không bao giờ chấm dứt. Sở dĩ chúng tôi nói lên điều ấy, vì nhận thấy từ những tín hiệu yếu ớt đánh đi, chúng tôi đã nghe được những tín hiệu mạnh mẽ hơn từ bốn phương vọng lại. Chính điều đó làm cho chúng tôi tin rằng công cuộc chung mà chúng ta đang
theo đuổi đang mở ra một chân trời mới : một cuộc tâm đàm thật sự rộng rãi,
trong bao dung và tình tự dân tộc. Và như thế, một bản "Kết ước bất thành văn"
có thể đang thành hình trong tâm thức Tự chủ của những người đang cùng chung Thân kính, Sức mạnh chủ yếu của cuộc chiến đấu... GS Đào văn Dương Trong hơn một ngàn năm dân Việt sống dưới ách thống trị của đế quốc Trung Hoa, văn hoá Hán đã có ảnh hưởng sâu đậm đến nếp sống của dân Việt. "Lớp sóng văn hoá Hán" rất đậm đặc, đã phủ lên nền văn hoá Việt với mưu đồ đồng hoá dân tộc Việt vào nòi Hán theo những lớp sơn Nho Giáo, Ðạo Giáo và Phật Giáo (tuy Phật giáo xuất từ Ấn Độ nhưng xâm nhập vào nước ta qua sách vở và tăng sĩ Trung Hoa). Bọn thái thú, thứ sử Trung Hoa từ đời Hán đến đời Ðường phần nhiều rất tàn ác. Họ luôn luôn gặp sức phản kháng của dân Việt, không bao giờ chịu khuất phục làm nô lệ cho bọn vua quan Trung Hoa. Trong hơn 10 thế kỷ dân Việt sống dưới ách thống trị của Bắc phương, đã có cả trăm cuộc khởi nghĩa, đáng kể hơn cả là cuộc đánh đuổi quân Hán của Hai Bà Trưng (năm 40-43), phong trào nổi dậy của Bà Triệu (năm 248), những cuộc khởi nghĩa của Lý Bôn và Triệu Quang Phục (năm 541-602), Mai Thúc Loan (năm722), Phùng Hưng (năm 791). Những anh hùng dân tộc đó đã làm cho bọn thống trị nhiều phen điêu đứng, không thể an nhàn hưởng thụ vinh hoa
phú quý trên sự thống khổ của dân Việt. Ngay từ thế kỷ thứ 1 , sau khi đánh thắng Hai Bà Trưng, Mã Viện đã lập ra nhiều cụm dân Hán mà sử sách gọi là Mã Lưu, tức là dân Hán do Mã Viện lưu lại ở Giao Chỉ. Những dân Mã Lưu này ở rải rác tại nhiều nơi với mục đích kiểm soát, kìm kẹp dân Việt và thúc đẩy việc Hán hoá dân Giao Chỉ cho thật nhanh, nhưng chính sách đồng hoá này đã thảm bại. Những dân Mã Lưu không những đã không đồng hoá được dân Việt vào Hán tộc, mà ngược lại, chính họ lại phải hội nhập rồi hoà tan vào dân Việt để sống còn. Dân Mã Lưu đã bị Việt hoá , rồi mất dần dấu tích qua thời gian. Riêng từ ngữ Mã Lưu với sinh hoạt của họ chỉ còn ghi lại trong sử cũ để đánh đấu sự thất bại của quan lại Hán trong việc Hán hoá dân Việt. Tuy vậy, chúng ta cũng phải công nhận rằng văn hoá Hán đã ảnh hưởng sâu đậm vào nếp sống của dân Việt, vào văn hoá dân gian Việt qua Nho giáo, Phật giáo và Ðạo giáo. Nho giáo xâm
nhập vào nước ta từ thế kỷ thứ 2 trước Dương lịch, khi nhà Tây Hán đặt nền thống trị lên dân Việt. Các quan lại và nho sĩ Trung Hoa đã dùng Nho giáo để phá bỏ những phong tục tập quán của dân Việt, đem lễ nghĩa của Nho giáo ra ép buộc dân ta phải noi theo. Từ văn hoá đến kinh tế, đời sống dân Việt đã bị xáo trộn rất nhiều, nên sự bất mãn càng ngày càng gia tăng. Phản ứng của dân chúng lại càng mạnh dưới sự cai trị tàn độc của Tô Ðịnh (kẻ kế vị Tích Quang đời Ðông Hán) đã đưa đến cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vào năm 39 sau Dương lịch. Cuộc khởi nghĩa lan rộng nhanh chóng tại "65 thành" đã chứng tỏ sự bất mãn của dân chúng ở khắp mọi nơi đối với chính sách Hán hoá vô cùng tàn bạo của Tô Ðịnh. Sự thành công của Hai Bà Trưng đã nói lên khí phách anh hùng và tinh thần bất khuất của dân Việt. Với thời gian, ý thức phong kiến của Nho giáo cũng gây được phần nào cơ sở trong xã hội Việt. Giai cấp phong kiến dân tộc tuy mới được hình thành nhưng đã đấu tranh quyết liệt để chống lại sự
đô hộ của Bắc Phương. Do đó, đến năm 541. Lý Bôn khởi nghĩa chống lại nhà Lương rồi lập ra nhà Tiền Lý (541 - 602). Sau khi đánh đuổi được thứ sử Giao Châu là Tiêu Tư, Lý Bôn lên ngôi vua xưng là Lý Nam Ðế để tỏ ra ngang hàng với hoàng đế Trung Hoa. Nhà vua đặt tên nước là Vạn Xuân (thay thế Giao Châu) để
khẳng định nền độc lập của nước ta, theo đúng tinh thần Nho giáo (đó là "gậy ông lại đập lưng ông"). Chính điều này chứng tỏ xã hội Việt đã bị ảnh hưởng khá nhiều của Nho giáo. Ðiều này cũng dễ hiểu, vì một số quan triều đình nhà Lý đều là những Nho sĩ đã chịu ảnh hưởng của Hán học. Sau Phật giáo và Nho giáo, Ðạo giáo (của Lão Tử thời Xuân Thu) cũng du nhập dần dần vào nước ta. Có thể nói Đạo giáo đi sâu
vào đám nông dân Trung Hoa (điển hình là giặc Khăn Vàng thời Tam Quốc) nên Ðạo giáo đã được nông dân Việt tiếp thu dễ dàng hơn Nho giáo. Như đã trình bầy Ở trên, dân Việt sùng bái các vị anh hùng dân tộc: anh hùng dựng nước, mở nước, anh hùng văn hoá, anh hùng chống xâm lăng... Những vị anh hùng đó được dân chúng coi như thần linh, không khác gì thần núi, thần sông... Bọn quan lại Trung Hoa biết thế nên tìm cách bịa đặt ra nhiều truyện để hạ uy tín các vị thần thánh, làm như các vị đó đều có liên hệ mật thiết với chúng với đụng ý rằng thần linh còn chịu lệ thuộc bọn quan lại Trung Hoa thì dân chúng đừng có dại dột chống lại chính quyền đô hộ, mà trái ý thần linh thì sẽ mang họa. Đó là ẩn ý thâm độc của bọn thái thú, thứ sử từ đời Hán đến đời Ðường để ru ngủ dân Việt qua vấn đề tín ngưỡng dân gian. Ðiển hình là về đời Ðường, tiết độ sứ quận Giao Chỉ là Cao Biền đã dùng cả Nho giáo lẫn Lão giáo để áp đảo tinh thần dân Việt. Trước hết, Cao Biền cho tuyên truyền rằng những vị anh hùng mà dân Việt đã thần thánh hoá như Lý Ông Trọng (một tướng giỏi cuối đời Hùng Vương đến đời An Dương Vương, có đền thờ ở huyện Từ Liêm, gần thành Ðại La, Hà Nội ngày nay)... đã đi theo giúp đỡ ông đánh quân Nam Chiếu (năm 865) rồi xin Cao Biền thưởng công... Cao Biền lại tự cho mình là một phù thuỷ cao tay ấn, đã bầy trò yểm trấn nhiều thần linh Ở các vùng Hưng Yên, Bắc Ninh, Hà Nội. Theo truyền thuyết, hắn bắt con gái đồng trinh mười bẩy tuổi mổ bụng rồi vứt ruột đi, nhồi cỏ vào đó xong xuôi cho cô gái mặc quần áo tử tế Hắn sai bộ hạ đặt cô gái lên ngai khiêng đến nơi có vị thần linh thiêng mà hắn định trừ khử. Hắn cho bầy một cỗ cúng rất thịnh soạn để nhử vị thần linh. Khi hắn thấy xác cô gái cử động, hắn biết vị thần linh đã nhập vào xác cô gái để hường cỗ cúng. Hắn liền vung kiếm chặt đầu cái xác cô gái: vị thần linh coi như đã bị chém đầu, và không còn linh thiêng nữa. Phản ứng của dân Việt như thế nào? Ðể nhạo báng hành động của Cao Biền, dân Việt rỉ tai nhau câu truyện thần thoại sau: Cao Biền vẫn dùng thủ đoạn cũ, bầy cỗ cúng để lừa thần núi Tản Viên. Khi quan lại Trung Hoa bầy xong cỗ cúng để tế thần, thần núi Tản Viên không bị mắc bẫy yểm trấn của Cao Biền. Thần Tản Viên cưỡi ngựa trắng bay bổng lên mây rồi từ trên cao, thần nhổ nước bọt xuống mâm cỗ cúng, tỏ vẻ khinh bỉ Cao Biền, sau đó bay đi nơi khác Cao Biền thấy kế hiểm độc của mình không đạt được kết quả, than rằng: "Linh khí phương Nam vượng lắm, ta không thể nào lường nổi!". Dân chúng còn truyền miệng một thất bại nữa của Cao Biền trên sông Tô Lịch liên quan đến thần Long Ðỗ. Sau đây là câu truyện dân gian: Một năm, vào khoảng tháng 6, mưa lũ làm mực nước sông dâng cao. Cao Biền dùng một thuyền nhẹ đi trên sông nhỏ để xem xét tình hình. Ðột nhiên Cao Biền trông thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, dung mạo kỳ vĩ, cười đùa tự nhiên, đang tắm ở giữa dòng sông. Biền dừng thuyền hỏi họ tên ông cụ. Cụ trả lời: "Ta họ Tô, tên Lịch, sống ở dông sông này!" Nói xong, ông cụ đập tay xuống mặt nước làm nước bắn tung toé khắp nơi, rồi biến mất. Biền đặt tên sông nhỏ đó là Tô Lịch, và cho rằng ông cụ là thần sông. Một buổi sáng sớm Biền ra chơi ở bờ sông Tô Lịch, bỗng thấy mây kéo mờ mịt, gió lớn thổi ào ào và sóng lớn cuồn cuộn nổi lên. Biền thấy một cụ già đứng trên mặt nước, mặc áo vàng, đội mũ tím, tay cầm cây hốt vàng sáng rực cả mặt sông. Ông cụ bay chập chờn trên không trung, khi mặt trời lên khá cao thì cụ biến mất. Cao Biền kinh sợ liền tìm cách trấn yểm thần sông Tô Lịch. Ðến đêm, Biền thấy Thần hiện về bảo rằng: "Ta là Long Ðỗ, đứng đầu các linh thần ở đây. Ta đến xem ông xây thành Ðại-la đấy thôi. Bùa phép của ông làm sao có thể hại ta được". Biền anh dậy lại càng kinh sợ. Hôm sau Biền lập đàn, niệm thần chú, chôn bùa sắt xuống đất để trấn yểm thần. Ngay đêm hôm ấy trời đất tối mịt, sấm động ầm ầm, mưa to gió lớn. Dân chúng nghe như có tiếng thần binh thần tướng hò reo khắp nơi. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, các bừa sắt bị bật tung khỏi đất, tan thành tro bụi rồi bay tản mát trong không trung, không còn dấu vết gì Trước cảnh tượng đó, Biền sợ hãi vô cùng và than: "Thần linh ở đây rất thiêng, nếu ta không mau rút lui về nước, ắt có ngày mang vạ". Thần Long Đỗ cũng như Thánh Tản Viên đều coi thường phép phù thuỷ của Cao Biền. Ông ta muốn lừa bịp dân Việt rằng thái thú cùng tiết độ sứ của Trung Hoa Hoàng Ðế có thể sai khiến các thần linh của dân Việt, nếu cần sẽ thưởng công hay khiển trách các vị thần linh đó. Vì thế dân Việt đừng có dại dột manh tâm phản bội các cơ quan đô hộ mà mang tội. Các quan sẽ sai các thần linh trừng phạt thì dân Việt khó tránh được tai vạ. Dụng ý của Cao Biền cũng như của bọn thái thú, thứ sừ thật thâm độc, nhưng cũng không che mắt được những nhà ái quốc Việt. Hai truyện dân gian lưu truyền trong dân chúng như đã kể ở phần trên tỏ ra rằng thủ đoạn nham hiểm của bọn quan lại Trung Hoa đã thất bại. Lật những trang sử cũ, chúng ta còn thấy có nhiều "truyện kể dân gian" khác nữa. Ðiều đó chứng tỏ văn hoá dân gian đã đóng góp một vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống chính sách lừa dối của bọn cầm quyền xâm lược. Ðạo giáo tuy có ảnh hưởng nhiều đến nếp sống của dân chúng, nhưng dân Việt vẫn tìm cách chống lại bọn quan lại đô hộ muốn sử dụng đạo giáo để phá hoại tín ngưỡng dân gian và văn hoá dân gian của dân Việt. Ðạo giáo được sử dụng với tính cách hạn chế thì Nho giáo lại là công cụ để thống trị và đống hoá dân Việt một cách rộng rãi hơn. Sự du nhập văn hoá Trung Hoa vào nước ta không đạt được kết quả như ý của bọn cầm quyền đô hộ. Dân Việt không bị đồng hoá vào Hán tộc mà ngược lại, phần lớn dân Hoa muốn sống còn, đã phải thích nghi với môi trường thiên nhiên và xã hội Việt. Họ đã bị đồng hoá vào dân chúng Việt, vào văn hoá Việt, vì đó là một nền văn hoá độc đáo đã thể hiện được sự hài hoà giữa con người với con người, sự thích ứng của con người Việt với thiên nhiên. Chứng cớ là cụm dân Mã Lưu thời Ðông Hán do Mã Viện lưu lại ở Giao Chỉ đã bị đồng hoá vào dân chúng Việt và không còn vết tích gì nữa, ngoài vài trang ghi chép trong sử cũ. Ðạo giáo và Nho giáo có nguồn gốc từ Trung Hoa, còn Phật giáo phát xuất từ ấn Ðộ, nhưng du nhập vào nước ta trước tiên từ phương Nam, rồi sau đó qua trung gian của táng sĩ Trung Hoa từ phương Bắc. Có lúc Phật Giáo ở nước ta còn thịnh hơn Phật giáo ở Trung Hoa. Tuy Nho giáo vẫn còn ở vị trí mạnh, Ðạo giáo và Phật giáo cũng được coi rất trọng. Chùa chiền, đền miếu ở rải rác nhiều nơi. Về sau Lê Hoàn và Lý Công Uẩn đã được sự giúp đỡ rất đắc lực của các tăng sĩ nên Phật giáo rất thịnh thời Tiền Lê và Lý. Tuy nhiên, Tam Giáo không thể làm lu mờ văn hoá dân gian và tín ngưỡng dân gian Việt. Dân Việt đã dung nạp cả ba tôn giáo đó, nhờ tinh thần kiên cường, bất khuất nên dân Việt vẫn giữ được vững vàng bản sắc dân tộc Việt: đó là nét đặc thù của văn hoá dân gian Việt trong quá trình đấu tranh trải dài hơn mười thế kỷ chống chính sách đồng hoá của đế quốc phong kiến Trung Hoa./. GS. Ðào Văn Dương
|