Lời di huấn của Ðức Trần Hưng Ðạo Con chim trước khi chết tiếng hót đau thương, con người lúc lâm chung lời nói chứa đựng nhiều khôn ngoan sáng suốt, cổ nhân thường nói vậy. Ðức Trần Hưng Ðạo là một anh hùng được toàn dân ngưỡng mộ. Khi ngài sắp mất , vua Trần Anh Tông ngự giá tới thăm, nhân thấy ngài bệnh nặng, mới hỏi rằng : " Thượng phụ một mai khuất núi, phỏng có quân Bắc lại sang thì làm thế nào ?" Hưng Ðạo Vương kể lại thuật dùng đoản binh thắng tràng binh của Triệu Võ Vương, Ðinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt và tướng sĩ nhà Trần. Sau đó ngài đưa ra nhận xét : - ...Còn như khi nào quân giặc kéo đến ầm ầm, như gió như lửa, thế ấy lại dễ chống. Nếu nó dùng cách dần dà, như tầm ăn lá, thong thả mà không ham của dân, không cần lấy mau việc, thế ấy mới khó trị..." Người viết tự xét hiểu biết về binh thư chiến lược rất nông cạn hẹp hòi nên không dám lạm bàn về thuật dùng binh. Nhưng ngẫm cho kỹ lời Ðức Trần Hưng Ðạo mang những ý nghĩa vượt ra ngoài lãnh vực quân sự. " ...Quân giặc kéo đến ầm ầm như gió như lửa" có thể hiểu là kẻ ngoại địch dùng xe tăng, đại pháo, phi cơ, hỏa tiễn tấn công ào ạt như vũ bão. " Kẻ địch dùng cách dần dà, như tầm ăn lá, thong thả mà không ham của dân, không cần lấy mau việc" có thể hiểu là kẻ địch dùng văn hóa , chính trị, kinh tế thâm nhập thật nhẹ nhàng không đổ máu mà từ từ làm biến đổi cách suy nghĩ của người dân trong nước, khiến họ dần dần nghĩ những điều kẻ địch muốn họ nghĩ, tự nguyện làm những điều kẻ địch muốn họ làm mà không hề hay biết. Vũ lực là sức mạnh tàn khốc nhưng thường chỉ có tác dụng nhất thời. Văn hóa tư tưởng có tác dụng nhu hòa nhưng lại thật sâu đậm và thường kéo dài nhiều thế kỷ. Lời di huấn của Ðức Trần Hưng Ðạo có thể cũng là lời cảnh cáo về hiểm họa của một cuộc xâm thực bằng văn hóa khiến dân tộc bị bật hết gốc rễ, đầu óc trở thành nô lệ mà không hề hay biết. Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm. Khi quân Tầu từ phương Bắc tràn xuống thì lòng người tụ lại, muôn người như một, đồng lòng đứng lên chống trả. Nhưng khi những tư tưởng từ phương xa được đưa vào xã hội Việt Nam thì sao ? Nhìn lại dòng lịch sử ta thấy Việt Nam là cửa ngõ cho rất nhiều luồng tư tưởng từ bốn phương ùa tới. Xưa kia đạo Khổng, đạo Lão, đạo Phật tràn vào Việt Nam một cách thật êm thấm nhẹ nhàng. Trong vòng một hai thế kỷ gần đây tư tưởng Tây Phương ùa tới. Gần hơn nữa là tư tưởng Cộng Sản của Karl Marx, Engel, Lenin, Mao Trạch Ðông... Cuộc xâm thực của các tư tưởng ngoại lai đặt nên những vấn đề vô cùng phức tạp và nhức nhối : nên mở rộng cửa đón nhận tất cả mọi luồng tư tưởng dị biệt hay nên bế quan tỏa cảng để ngăn chặn mọi cuộc xâm thực bằng văn hóa ? Khi Nguyễn Trường Tộ điều trần về những điều mắt thấy tai nghe ở hải ngoại thì vua quan triều Nguyễn sững sờ với một sự thực khó tin nhưng khó lòng phủ nhận : người Âu Tây không hẳn lúc nào cũng là lũ Bạch quỷ xấu xa tệ hại. Dường như họ cũng có những điều hay mà ta cần học hỏi bắt chước. Thái độ bế quan tỏa cảng từ đó được coi như một thái độ cố chấp thiển cận của bọn hủ nho. Muốn cho nước mạnh dân giàu phải mở thật rộng cửa tiếp nhận những tư tưởng tiến bộ của Âu Tây. Thế hệ trẻ lớn lên nhìn thế hệ cha anh bằng cặp mắt khinh thị. Sao các cụ lẩm cẩm, lẩn thẩn quá đỗi. Mở miệng ra là " Tử viết : ..." , nói một câu là trích dẫn Tứ Thư Ngũ Kinh. Chán quá đi thôi ! Sao chẳng chịu mở mắt ra mà đọc sách của Voltaire, Jean Jacques Rousseau, Montesquieu, Locke, Jean Paul Sartre, vv và vv... Nhưng rồi làn sóng Cộng Sản ùa vào như thác lũ, cuốn sạch các tư tưởng gia Âu Tây đó ra sông ra biển hết. Voltaire, Montesquieu, vv... là một lũ trí thức tiểu tư sản bạc nhược lỗi thời cần phải vứt bỏ hết. Con người mới xã hội chủ nghĩa phải gột sạch hết mọi tư tưởng phản động của lũ trí thức tiểu tư sản đó. Trên thế gian này chỉ có lời nói của tổ sư Karl Marx, Engel là khuôn vàng thước ngọc. Ngẫm lại thì ông Khổng Tử là người Tầu, ông Voltaire là người Tây, ông Karl Marx là người Ðức, ông Lenin là người Nga, ông Locke là người Anh, ông Adam Smith là người Tô Cách Lan, không một ông nào là người Việt. Ðợt sóng thứ nhất đã nhào nặn những con người mở miệng ra là " Tử viết :..." . Ðợt sóng thứ hai đã uốn nắn những con người suy nghĩ theo những gì ông Montesquieu đã nghĩ. Ðợt sóng thứ ba đã rèn đúc con người thành những robot làm những gì tổ sư Karl Marx muốn họ làm, và đợt sóng thứ tư dường như chỉ còn tư tưởng của ông thần Ðô La ngự trị. Dường như đã có một cái gì sai lầm ghê gớm xảy ra trong xã hội mà ta không định nghĩa nổi. Tìm ra được điều sai lầm đó thật không phải dễ. Diễn tả được điều sai lầm đó lại càng khó hơn nữa. Dường như cứ mỗi lần ta học được tư tưởng của một vĩ nhân thì lâu dần ta lại thành nô lệ cho tư tưởng đó. Rút cục ta không còn biết rằng tư tưởng đó đã hướng dẫn soi đường cho ta hay đã biến thành xiềng xích trói cột ta. Ta cố vùng vẫy mong dứt bỏ được mọi xiềng xích, nhưng càng vùng vẫy càng bị xiết chặt hơn. Ðến khi ta tìm được một tư tưởng mới của một vĩ nhân khác đủ sức phá vỡ tư tưởng của vĩ nhân cũ thì ta thấy vui mừng như vừa được giải thoát. Thế rồi lâu dần tư tưởng của vĩ nhân mới lại biến thành xiềng xích và cái vòng lẩn quẩn lại tái diễn. Dường như ta đã sống với quá nhiều ảo giác. Ðó là cái ảo giác của những cô gái mới lớn đi lấy chồng, tưởng thoát khỏi sự kiềm chế khắt khe của bố mẹ để rồi lại rơi vào sự kiềm chế khắt khe hơn của bố mẹ chồng hoặc của chính ông chồng. Ðó cũng là cái ảo giác của những anh thanh niên mê say làm cách mạng, đứng lên đạp đổ xiềng xích gông cùm của bố mẹ, coi bố mẹ là xiềng xích gông cùm, để rồi lại nhắm mắt cúi đầu phục tùng mệnh lệnh Ðảng. Sự khác biệt giữa thế hệ nọ và thế hệ kia dường như chỉ là mỗi thế hệ đã dùng một sợi xích sắt khác nhau. Thoát ra khỏi một định kiến để rồi lại rơi vào một ảo giác. Lâu dần ảo giác lại biến thành định kiến. Ta cứ tưởng ta được giải thoát, nhưng ngẫm lại cái mà ta có được chỉ là những sợi xích sắt khổng lồ. Xã hội phân hóa đến tột cùng, nhân tâm ly tán, không ai còn tin ai, không ai còn nghe ai. Thế hệ trẻ lớn lên không còn tin ở thế hệ cha anh, tạo ra một cơn khủng hoảng niềm tin chưa từng có trong dòng lịch sử. Một người Nhật đã đưa ra một nhận xét làm ta kinh hoàng sửng sốt : Người Việt các anh giống như những hạt ngọc, người Nhật chúng tôi giống như những cục đất. Hạt ngọc tuy lóng lánh sáng ngời nhưng không kết dính với nhau được. Cục đất tuy tầm thường nhưng dễ kết dính với nhau hơn. Lời nhận xét của người Nhật nói trên nghe thật nhức nhối khó chịu. Ðó là một lời khen hay một lời chê ? Ta nên tự hào hay nên buồn tủi ? Cụ Phan Bội Châu sau bao năm bôn ba hải ngoại học hỏi những cái hay của người trở về Việt Nam suy ngẫm lại và thốt ra một lời thực đáng suy ngẫm : Phật ở nhà không cầu, đi cầu Thích Ca ngoài đường. Trong túi mình có bảo châu mà ngửa tay xin người từng hạt gạo, thế chẳng là một sự hết sức kỳ quái hay sao ? Dường như ta đã đánh mất một cái gì vô cùng quí báu mà ông cha ta đã bao đời vun đắp mới gây dựng nên được. Cái ta đã đánh mất đó, trên bình diện cá nhân, có lẽ chính là tinh thần tự chủ. Trên bình diện quốc gia, cái ta đã đánh mất đó có lẽ chính là văn hóa. Văn hóa là gì nếu không phải là chất keo kết hợp lòng người ? Khi chất keo đó đã mất thì lòng người sẽ ly tán và dân tộc sẽ mất luôn nguồn sinh lực. Văn hóa chính là khả năng đãi lọc của một dân tộc. Khi đánh mất khả năng đãi lọc đó ta sẽ vội vàng hấp thu không đắn đo cân nhắc mọi điều ta tưởng là hay là tốt. Giống như con trâu bị xỏ mũi lâu ngày, dần dần ta cúi đầu cam chịu mọi nghịch cảnh, dửng dưng thờ ơ với mọi điều nghịch lý xảy ra trong xã hội và tiếp tục nhai cỏ ngày này qua tháng khác, nhai đi nhai lại. Ðôi khi ta chợt nhớ tới lời di huấn của Ðức Trần Hưng Ðạo mà giật mình. Kim Bằng |