Hướng nội hay hướng ngoại?

Khi hai nền văn hóa giao lưu ta có dịp đối chiếu và so sánh. Hậu quả của việc đối chiếu và so sánh là tư tưởng ta có thể thay đổi, cách nhìn cuộc đời của ta có thể thay đổi thật sâu xa.

Sự thay đổi đó tốt hay xấu ?

Nếu khi đối chiếu và so sánh ta nhìn thấy tất cả những gì của ta đều là xấu xa tệ hại, tất cả những gì của người khác đều là tốt đẹp hay ho thì ta sẽ có khuynh hướng chạy theo cái Mới, vứt bỏ cái Cũ. Ta sẽ cho rằng văn hóa của ta là hủ bại thối nát, văn hóa của người là tiến bộ văn minh.

Ngược lại nếu ta cho rằng tất cả những gì của ta đều là tốt đẹp, tất cả những gì của người khác đều là tệ hại xấu xa thì ta sẽ có khuynh hướng giữ gìn bảo tồn những gì ta đã có. xua đuổi ngăn chặn mọi ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai.

Cả hai cách nhìn cuộc đời như vậy đều có thể dẫn tới những hậu quả vô cùng tai hại: hoặc là bế quan tỏa cảng khư khư ôm lấy những Ðịnh Kiến, hoặc là chóa mắt mù quáng chạy theo những Ảo Giác hão huyền.

Cuộc tranh chấp Cũ Mới vào thập niên 30 ở Việt Nam là một thí dụ điển hình về những tác hại sâu xa của Ðịnh Kiến và Ảo Giác.

Trước hết ta thử suy ngẫm xem những gì thực sự là của ta và những gì thực sự là của người khác.

Khi nghĩ tới văn hóa dân tộc không ít người đã nghĩ ngay tới Tam Giáo Cửu Lưu. Nói tới văn hóa dân tộc họ nghĩ ngay tới Khổng Giáo, Phật Giáo và Lão Giáo, đó là chưa kể tới một lô một lốc những kiện tướng trong hàng Bách Gia Chư Tử.

Có bao giờ ta đặt câu hỏi xem ông Khổng Tử là ai, Ðức Phật Thích Ca là ai, ông Lão Tử là ai không nhỉ ? Ông Khổng Tử và Lão Tử là người Tàu, đức Phật Thích Ca là người Ấn Ðộ, ba vị đó có vị nào là người Việt Nam đâu mà ta vội nghĩ Khổng học, Phật Học, Lão Học là nền tảng của văn hóa Việt Nam ?

Vậy thì Khổng Giáo, Phật Giáo, Lão Giáo là của người hay của ta ?

Cho rằng văn hóa Việt Nam chỉ là Tam Giáo Cửu Lưu đã là một điều sai lầm mà cho rằng người Việt Nam chỉ biết khư khư ôm lấy cái gì của mình, coi mình là cái rốn của vũ trụ, thiếu hẳn tinh thần cởi mở bao dung lại cũng là một định kiến tai hại, quá xa sự thật.

Khi mở rộng vòng tay đón nhận mọi tư tưởng của Khổng học, Phật học, Lão học ùa vào Việt Nam như thác lũ, phải chăng tổ tiên ta đã chấp nê thiển cận chỉ biết khư khư ôm lấy những gì của người Việt Nam, do người Việt Nam và vì người Việt Nam, ngoài ra hễ thấy cái gì của người khác thì xua đuổi như xua đuổi tà ma? Ông cha ta đã hướng ngoại hay hướng nội? Ông cha ta đã có tinh thần cởi mở bao dung phóng khoáng hay có tinh thần thủ cựu vùi đầu xuống cát?

Khi nghĩ tới văn hóa Tây phương không ít người cũng có những Ảo Giác thật tai hại. Họ nhìn thấy người Việt Nam đầy định kiến, cố chấp khư khư bảo thủ ôm lấy cái Cũ đã có tự ngàn xưa, bế quan tỏa cảng, thiển cận hẹp hòi. Họ ngước mắt nhìn lên thấy người Tây phương thật khôn ngoan sáng suốt nhìn xa trông rộng, biết đề cao những giá trị văn hóa sáng ngời rực rỡ như Tự Do, Công Bằng, Bác Ái, như Quyền Tự Quyết, Quyền Sống, Quyền Làm Người, vv và vv...Trên tất cả mọi điều là tinh thần cởi mở bao dung mà họ nghĩ đó là sự khác biệt sâu xa nhất giữa văn hóa Tây phương và văn hóa Ðông phương.

Thực vậy chăng ?

Phải chăng tinh thần cởi mở bao dung và những giá trị văn hóa như Tự Do, Bình Ðẳng, Công Bằng , Bác Ái,vv... là sở hữu riêng của người Tây phương và chỉ người Tây phương mới có ?

Người đã phá vỡ cái nhìn lệch lạc méo mó đó bằng một nhát búa nặng nề nhất có lẽ là nhà bác học Trung Hoa Phương Lệ Chi.

Khi cứ bị nghe hoài rằng Tự Do là lý tưởng của người Mỹ, vì chỉ có người Mỹ mới có bức tượng nữ thần Tự Do, nhà bác học Phương Lệ Chi đã không dấu được sự bực tức khi đưa ra nhận định rằng Tự Do không phải là độc quyền của người Mỹ. Tự Do là khát vọng chung của tất cả loài người từ khi tạo thiên lập địa. Tự Do không phải là sở hữu của riêng ai.

Khi tìm hiểu kỹ nguồn gốc bức tượng nữ thần Tự Do ta ngỡ ngàng vì tác giả pho tượng nổi danh đó là Frederic A. Bartholdi, một người Pháp chứ không phải là người Mỹ. Người Mỹ mà cho rằng Tự Do là sở hữu riêng của họ đã là một sự nhận vơ bá láp rồi, mà người Pháp cho rằng lý tưởng Tự Do là do họ khai sinh cũng là một điều ngớ ngẩn. Nhiều lắm thì ta chỉ có thể nói người Pháp đã nặn lên mẫu bức tượng nữ thần Tự Do, chi tiền đúc pho tượng đó làm quà tặng người Mỹ và người Mỹ đã chi tiền đúc cái bệ pho tượng lớn lao đó. Ta không thể vì sự hiện hữu của bức tượng nữ thần Tự Do mà vội vã kết luận rằng lý tưởng Tự Do là sở hữu riêng của người Mỹ hoặc người Pháp được.

Nói tới ý niệm Bình đẳng ta lại giật mình thêm một lần nữa. Không ít người Tây phương nhìn vào xã hội Ðông phương với cái nhìn dè bỉu. Họ tin rằng xã hội Ðông phương là một xã hội bất bình đẳng thâm căn cố đế. Ðó là một xã hội đặc sệt tư tưởng trọng nam khinh nữ, nhất nam viết hữu thập nữ viết vô. Ðâu là Sự Thực? Ta chỉ thấy nước Mỹ là nước đề cao tư tưởng nam nữ bình quyền nhất thiên hạ, cho tới nay loay hoay mãi vẫn chưa bầu được một nguyên thủ quốc gia là phụ nữ. Khi nghĩ tới Hai Bà Trưng đã là nguyên thủ quốc gia Việt Nam cách đây hai ngàn năm, ta bâng khuâng không biết rằng khi lên án tổ tiên ta là đặc sệt tư tưởng bất bình đẳng trọng nam khinh nữ có đúng hay không, và ngưỡng vọng lý tưởng nam nữ bình quyền của người Tây phương thì phải chờ bao nhiêu năm nữa mới thấy nước Mỹ có một nguyên thủ quốc gia là phụ nữ ?

Nghĩ tới Quyền Làm Người là nghĩ đến Tinh Thần Tự Chủ và Bất Khuất, không chịu cam tâm cúi đầu làm nô lệ kẻ khác. Phải chăng ta phải chờ người Pháp tới dạy cho ta một bài học ta mới có được lòng yêu nước và tinh thần tự chủ ?

Bản tuyên ngôn nhân quyền là kết tinh ước vọng lớn lao của nhân loại, không ai phủ nhận điều đó. Bản tuyên ngôn đó cô đọng những tinh hoa của nhân loại để nói lên khát vọng sâu xa của tất cả loài người, điều đó cũng không ai phủ nhận. Nhưng nói rằng trước khi có bản tuyên ngôn nhân quyền chưa ai nghĩ tới Quyền Sống, Quyền Tự Quyết, Quyền Mưu Cầu Hạnh Phúc thì có lẽ là một kết luận quá khiên cưỡng. Khi Hai Bà Trưng nổi dậy chống lại sự tham tàn áp bức của Tô Ðịnh, hẳn là hai bà cũng đã có ý nghĩ rằng mình có quyền tự quyết, quyền sống, quyền làm người. Nếu không thế Hai Bà đã buông xuôi hai tay cúi đầu chấp nhận thân phận làm nô lệ.

Khi Lý Thường Kiệt cầm quân đánh Tống và viết lên những câu thơ bất hủ

Nam quốc sơn hà nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Hẳn là Ông cũng đã tin rằng mỗi dân tộc có quyền tự quyết và mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc mình. Nếu không tin như vậy thì Ông đã bó tay về với triều đình, cam phận cho thiên tử Trung Hoa mặc tình chém giết đầy đọa.

Tóm lại một câu ta cứ thử suy ngẫm xem những giá trị văn hóa mà người Tây phương thường đề cao như Tự Do, Bình Ðẳng, Công Bằng, Bác Ái, vv... có thực sự là sở hữu riêng của người Tây phương hay không ? Những giá trị văn hóa đó là của người hay của ta ?

Ngẫm cho cùng câu hỏi của người hay của ta, của tôi hay của bà chỉ là một câu hỏi cắc cớ. Cái của bà thì để tôi xài, cái của tôi thì để bà xài, vậy biết ai thực sự nắm quyền sở hữu ?

Sự tranh cãi của anh của tôi để giành quyền sở hữu văn hóa có thể dẫn đến những hậu quả vô cùng tai hại thảm khốc. Cho rằng tất cả những gì của ta đều tốt đẹp, tất cả những gì của người khác đều xấu xa sẽ dẫn tới Ðịnh Kiến và lòng cao ngạo ngất trời xanh. Mặc cảm tự tôn có thể bị những tay thuật sĩ khích động để ta ngồi trên đống sọ người cao ngất mà vênh váo tin rằng ta đang ngồi trên đỉnh cao trí tuệ loài người. Ngược lại cho rằng tất cả những gì của ta đều là xấu xa hủ bại, tất cả những gì của người khác đều là tiến bộ văn minh sẽ dẫn tới Ảo Giác và mặc cảm tự ti cũng tai hại không kém. Ảo giác đó sẽ làm ta chóa mắt và bị dẫn dụ để quỳ xuống khấu đầu xì sụp lạy những thần tượng ngoại bang và cam phận suốt đời làm nô lệ.

Một sử gia Nhật Bản đã đưa ra một nhận xét làm ta bàng hoàng cả người. Thời Minh Trị Thiên Hoàng nước Nhật tiến vọt lên hàng cường quốc. Sự tiến bộ mau chóng đó một phần nhờ người Nhật mở rộng cửa đón nhận và học hỏi khoa học kỹ thuật Tây phương, phần khác nhờ người Nhật tự vạch cho mình một con đường rõ rệt. Con đường đó cô đọng trong câu :

Wakon Yỏsai ( Tinh Thần Nhật Bản, học thuật Tây phương )

Cái mà người Nhật gọi là Tinh Thần Nhật Bản đó, trớ trêu thay, chỉ có một phần nhỏ bắt nguồn từ Thần Ðạo. Phần lớn hơn chính là Tâm Học của Vương Dương Minh. Nhưng Vương Dương Minh là ai vậy ? Ông ta là một nho sĩ đời Minh bên Tàu !

Sử gia Nhật Bản nói trên đã phán một câu làm ta bàng hoàng sửng sốt :

Nước Trung Hoa có Vương Dương Minh mà lụn bại. Nước Nhật không có Vương Dương Minh, chỉ thấm nhuần tư tưởng của Vương Dương Minh mà trở nên hùng cường.

Văn hóa dường như không chia biên giới, không có màu da, không có tuổi tác, không có Ðông không có Tây, không có Trẻ không có Già, không có Cũ không có Mới, không có Xưa không có Nay, không có Ta không có Người Khác. Văn hóa không hình không ảnh, giống như một làn sương khói mỏng manh, không một ai có thể khư khư ôm lấy giữ làm của riêng. Khi ta cố vẽ nó, chụp hình nó, đóng đinh treo trên tường giữ lấy làm của riêng thì cái mà ta có chỉ là một bức tranh văn hóa chứ không phải là văn hóa.

Văn hóa chỉ là khả năng đãi lọc những tinh hoa của nhân loại. Nếu một dân tộc đãi lọc được những tinh hoa thì dân tộc đó có văn hóa. Nếu một dân tộc chỉ đãi lọc được rác rưởi thì dân tộc đó chỉ có cái giả hình văn hóa.

Vì thế câu hỏi Hướng nội hay hướng ngoại ? là một câu hỏi phù phiếm và vô ích. Những cuộc đấu tranh một mất một còn giữa Ta và Người Khác, giữa Ðông và Tây, giữa Cũ và Mới, giữa Trẻ và Già, giữa Xưa và Nay, giữa Tư Bản và Vô Sản, giữa Duy Tâm và Duy Vật ngẫm cho cùng chỉ xảy ra khi con người bị xúi giục để hành động theo chỉ thị và ý muốn của những kẻ muốn nắm đầu xỏ mũi thiên hạ với tham vọng muôn năm trường trị nhất thống giang hồ. Những cuộc đấu tranh đó xảy ra khi con người mất hết sáng suốt, mất hết tinh thần tự chủ, mất hết khí phách, cam phận cúi đầu làm nô lệ, sẵn sàng để cho người khác nắm đầu xỏ mũi lôi đi. Những cuộc đấu tranh đó xảy ra khi con người ngước mắt nhìn lên thấy thí nghiệm con chó-tiếng chuông và miếng thịt của Pavlov tuyệt vời quá, tin chắc rằng đã khám phá được thuật nắm đầu xỏ mũi tất cả loài người. Nước rãi của con chó vẫn chảy khi nghe tiếng chuông và nhìn miếng thịt, nhưng con người dường như đã biến thành nước rãi của con chó. Ðấy là cái tác hại lớn lao khi ta Làm văn hóa mà lầm như lời cảnh cáo của Lão Tử.

Ngẫm cho cùng thì con người đâu có khác gì nhau? Da trắng, da đen, da đỏ, da vàng, chắc gì ai đã hơn ai ? Giàu nghèo sang tiện chắc gì ai đã là người lương thiện ? Ðông Tây Nam Bắc biết nơi nào là thiên đường hạ giới? Trẻ Già Cũ Mới biết ai là khôn ai là dại?

Nhưng có một điều ta biết rất rõ, mọi người biết rất rõ. Văn hóa là đãi lọc những tinh hoa của nhân loại. Nếu cái tinh hoa đó thực sự là tinh hoa thì dù của Tàu, của Ta, của Tây, của Mỹ cũng vẫn là tinh hoa. Khi nó là cặn bã thì dù nó là của da đỏ, da đen, da vàng, da trắng nó vẫn là cặn bã.

Trải qua một cuộc sống quá nhiều đổi thay, đảo điên điên đảo, suy ngẫm lại tôi thấy mình không còn tin ở kim chỉ nam của chiếc địa bàn nữa. Tôi chẳng còn tin rằng hướng về Ðông hay hướng về Tây thì sẽ thấy thiên đường cực lạc. Tôi cũng chẳng còn thao thức băn khoăn xem mình nên hướng nội hay hướng ngoại, về nguồn hay lên đường tìm tân thế giới nữa.

Chính khi đó tôi bỗng nhớ lời Phật dạy: Phật tại tâm. Ði khắp thiên hạ để tìm Phật thì may lắm chỉ được chiêm ngưỡng những pho tượng Phật to nhất thế giới. Nhưng tượng Phật đâu phải là Phật ?

Ngẫm lại Xấu hay Tốt, Thiện hay Ác chỉ nảy sinh từ tác động hỗ tương giữa người và người. Xấu hay Tốt tùy thuộc vào cách cư xử lẫn nhau giữa người và người. Xấu Tốt Thiện Ác không hề chia biên giới, không phân biệt màu da, tuổi tác, địa vị xã hội. Không có Ðông, không có Tây, không có Trẻ không có Già, không có Cũ không có Mới, không có Xưa không có Nay. Khi nghĩ được điều đó thì lòng tôi cảm thấy thật nhẹ nhõm thanh thản và biết rất rõ hướng đi của mình. Hướng đi đó nằm trong một chữ Thoát. Thoát ra khỏi mọi Chấp Nê Ðịnh Kiến. Thoát ra khỏi mọi Ảo Giác Cuồng Vọng. Ðiều quan trọng hơn hết là thoát ra khỏi bàn tay dơ bẩn của các thuật sĩ muốn nắm đầu xỏ mũi lôi đi.

Thoát khỏi Ðịnh Kiến và Ảo Giác rồi thì thấy tâm hồn mình trở về tâm hồn một người dân bình dị chất phác. Ðâu cần đọc thiên kinh vạn quyển mới hiểu được thế nào là Xấu Tốt ? Xấu hay Tốt nằm ngay trong tâm ta. Lắng tâm xuống là Xấu Tốt sẽ hiển hiện lên rõ mồn một.

Áp bức, Bóc Lột, Ðộc Ác, Gian Trá, Ðểu Cáng, Xảo Quyệt, Lừa Lọc, Lường Gạt là Xấu. Ðộc Tài, Ðộc Ðoán muốn mọi người quỳ dưới chân làm nô lệ cho mình là Xấu. Xưa tôi đã nghĩ như vậy, nay tôi vẫn nghĩ như vậy. Trải qua bao nhiêu biến động trong xã hội tôi vẫn chỉ là tôi, không hề biến thành người khác. Tôi chẳng hề thắc mắc xem mình nghĩ như vậy có Ðúng hay không. Thế giới quanh tôi có quá nhiều thuật sĩ. Những thuật sĩ đó luôn luôn tìm mọi cách để nhào nặn ý nghĩ mọi người ngõ hầu nắm đầu xỏ mũi thiên hạ. Thủ thuật nắm đầu xỏ mũi thiên hạ có thiên hình vạn trạng. Nó có thể là rừng mơ của Tào Tháo. Nó có thể là Cái Roi và Củ Cà Rốt. Nó có thể là Bạo Lực Cách Mạng và Thiên Ðường Cộng Sản. Nó có thể là đồng Ðô La thơm phưng phức hay trại cải tạo tối tăm. Hình thái thay đổi nhưng dã tâm của những thuật sĩ không có gì thay đổi. Dã tâm đó trước sau như một vẫn chỉ là Lường Gạt và Nắm Ðầu Xỏ Mũi thiên hạ.

Ngẫm lại điều cần thiết hơn cả vẫn là tinh thần tự chủ. Có tinh thần tự chủ ta mới đủ sáng suốt để khỏi bị dẫn dụ làm công cụ cho người sai khiến. Ðiều đau đớn nhất trên đời dường như chính là khi tỉnh mộng chợt thấy mình suốt đời bị lường gạt để cúc cung tận tụy làm thân trâu ngựa.

Kim Bằng