Hạnh phúc như bóng mây

Bạn tôi có lần tâm sự một câu thật thấm thía: Hạnh phúc như bóng mây.

Bóng mây chợt hiện, chợt mất. Nó có đó hay không có đó? Ta nắm được chân lý hay chỉ nắm được ảo ảnh của chân lý? Ta ôm cứng hạnh phúc trong tay sao nó vuột đi đâu mất ? Suốt đời ta ôm ấp một lý tưởng thật cao đẹp, sao có lúc ta bàng hoàng chợt thấy đang ôm khoảng chân không?

Dường như đã có một nỗi nghẹn ngào uất ức mà không ai đủ sức diễn tả nổi. Dường như đã có một sai lầm ghê gớm đang phủ ngập quê hương. Dường như đã có một nỗi xót xa đau đớn vô cùng lớn lao chung cho cả dân tộc.

Tôi cảm thông được nỗi xót xa đau đớn ấy khi chứng kiến cảnh ba người lính nhảy dù buông súng.

Vào buổi sáng ngày 30 tháng tư năm 1975 tôi bước chân ra khỏi nhà đi lang thang trên hè phố như kẻ mất hồn. Tới ngã bảy góc đường Lý Thái Tổ - Phan Thanh Giản tôi dừng chân trước một quán cà phê bình dân và chứng kiến một cảnh tượng không bao giờ quên nổi. Ba người lính nhảy dù ngồi im lìm bất động như ba pho tượng gỗ. Bà chủ quán mang ra mấy bộ quần áo dân sự và khuyên ba anh nên thay ngay đi, rồi tìm đường về quê lánh nạn. Ba anh không đáp một lời,vẫn ngồi im không nhúc nhích. Nỗi thê lương tuyệt vọng thật không một lời nào diễn tả nổi. Cả đời hy sinh tuổi trẻ cầm súng chiến đấu bảo vệ đất nước đồng bào, giờ này thấy tất cả những sự hy sinh của mình dường như hoàn toàn vô nghĩa. Các nhà lãnh đạo đã cao chạy xa bay, các cấp chỉ huy không biết nay ở đâu, các người bạn đồng minh đã cuốn gói về nước hết.

Nhìn ba người lính nhảy dù ngồi im lìm ủ rũ tôi thấy xót xa đau đớn và cảm thấy xã hội đang đổ vỡ tan nát không dễ gì hàn gắn lại được.

Tôi tiên liệu từ nay lòng người sẽ tận cùng ly tán, sẽ không ai còn có thể tin ai, sẽ không ai còn muốn nghe ai. Khi cuộc chiến chấm dứt thì cũng là lúc xã hội hoàn toàn sụp đổ, mọi lý tưởng cao đẹp tan thành bọt nước, mọi hoài bão ôm ấp suốt đời vỡ nát thành cát bụi. Rồi đây ý thức trách nhiệm và bổn phận chỉ còn mang những ý nghĩa thật mỉa mai, luân lý đạo đức biến thành những lời diễu cợt. Rồi đây đại đa số người dân trong nước sẽ chỉ rút ra một kết luận bi thảm: chính trị là vô luân, cuộc sống là vô nghĩa, chỉ có gian manh thủ đoạn, lường gạt bất nhân, độc ác tàn bạo, đểu cáng xảo quyệt mới mang lại đại thắng lợi và là kim chỉ nam hướng dẫn mọi hoạt động của con người để có thể cưỡi lên đầu lên cổ người khác.

Tôi đọc thấy một nỗi nghẹn ngào uất ức khó tả trong ánh mắt ba người lính nhảy dù buông súng. Vang vang đâu đây dường như có những lời lên án thật khắt khe: chiến tranh là tàn khốc, chiến tranh là phi nhân, chiến tranh là tàn phá, chiến tranh là tội lỗi,...

Người cầm súng chiến đấu cho đất nước đồng bào dù muốn dù không cũng đã dự phần vào chiến tranh.

Vậy ai đã xui họ cầm súng chiến đấu bảo vệ đất nước đồng bào? Phải chăng cầm súng chiến đấu bảo vệ đất nước đồng bào là tội lỗi? Họ cầm súng chiến đấu cho cái gì ? Tự do chăng? Ðộc lập chăng? Tổ quốc chăng? Ðất nước đồng bào chăng? Danh dự trách nhiệm chăng?

Bên tai văng vẳng chỉ còn những lời xỉa xói : Buông súng xuống! Ðầu hàng đi! Buông súng là yêu nước! Ðầu hàng là yêu nước! Và họ đã nghẹn ngào buông súng.

Tôi còn nhớ như in trong óc cái cảm giác bồi hồi xúc động khi đó. Trong đầu tôi khi đó đã có những ý nghĩ tương phản mâu thuẫn một cách kỳ quặc. Tôi cũng đã bị động viên như họ, nhưng may mắn được biệt phái về dạy học sau hơn 5 năm phục vụ trong quân ngũ. Trong suốt 5 năm đó tôi ở những đơn vị chỉ lo toàn công việc kỹ thuật chuyên môn. Cầm súng thì có cầm súng nhưng chưa hề bắn giết ai. Tôi đã may mắn hay bất hạnh khi được biệt phái về dạy học? Tôi cũng không biết nữa. Tôi chỉ biết trong lòng tôi day dứt đau đớn với một nỗi nghẹn ngào uất ức có lẽ không thua gì mấy người lính nhảy dù nọ. Tôi cảm thấy tôi có lỗi đối với bao vị tiền nhân. Tôi cảm thấy tôi có lỗi đối với đất nước đồng bào. Dường như tôi đã không làm tròn trách nhiệm đối với đất nước đồng bào trong cơn quốc biến. Dường như tôi có lỗi đối với thế hệ cha anh cũng như những thế hệ con cháu mai sau khi vội vã buông súng quá sớm.

Vào thập niên 70, những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn được phổ biến rộng rãi khắp nơi. Lắng nghe những lời Khánh Ly hát ta bâng khuâng tự hỏi: Ðây là tiếng nói của lương tâm con người hay lời quỷ mị?

Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày, gia tài của mẹ một bọn lai căng, gia tài của mẹ một lũ bội tình...

Thấm thía lắm ! Chua xót lắm!

Hai mươi năm nội chiến từng ngày: đó là một lời trách móc thật nặng nề. Lỗi tại ai ? Lỗi ở những người đã cầm súng chiến đấu chăng?

Cầm súng hay cầm gươm giáo, cầm tầm vông vạt nhọn thì cũng như nhau. Hai bà Trưng cũng đã cầm gươm, Lý Thường Kiệt cũng đã cầm giáo. Nếu ông cha chúng ta không dám cầm gươm cầm giáo đứng lên chiến đấu thì một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây tới nay vẫn chưa chấm dứt, những anh hùng phản chiến đâu có dịp ca hát nghêu ngao và tưởng mình là những ông thánh?

Vậy thì lỗi lầm của dân tộc không phải là ở chỗ đã có những người cầm súng, cầm gươm, cầm giáo chiến đấu. Lỗi lầm của dân tộc là cuộc chiến 20 năm qua đã bị thúc đẩy bởi những động cơ đen tối khiến cho cuộc chiến mang đầy tính cách phi lý.

Dường như tính cách phi lý của cuộc chiến 20 năm qua nằm ở hai điểm: một là nội chiến, hai là sự xúi bảy của ngoại bang.

Tính cách phi lý của cuộc "nội chiến" là chính những người ngoài mặt lớn tiếng kêu gọi hòa hợp hòa giải, xóa bỏ hận thù lại cũng chính là những người trong tâm sôi máu căm thù, thề phanh thây uống máu đồng bào. Dường như họ đã bị nhồi nhét trong đầu một tư tưởng chỉ đạo cực kỳ lô-gích mà cũng cực kỳ phi lý: Nếu chỉ một bên được quyền giết người, dù là người cùng chung nòi giống, bên kia không được quyền chống cự lại, thì không thể gọi là " nội chiến" được! " Nội chiến" hàm ý anh em đánh lẫn nhau. Nếu một bên cầm mã tấu chém bay đầu bạn bè bên kia, chôn sống thân nhân bên kia, mà bên kia không chống cự lại thì không có đánh nhau. Không có đánh nhau thì không thể gọi là "nội chiến" mà phải gọi là chiến tranh giải phóng. Vậy thì tội lỗi phải đổ hết lên đầu những kẻ dám cầm súng đứng lên chống cự lại. Có chống cự mới sinh ra đánh nhau. Có đánh nhau mới có nội chiến!

Ôi, một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây ngẫm cho cùng cũng chỉ tại có những người dân Việt đầu óc tối tăm đã không thông hiểu cái lô-gích tuyệt vời của những người Cộng Sản!

Tính cách phi lý thứ hai của cuộc chiến 20 năm là ở sự xúi bảy của ngoại bang. Kẻ lớn tiếng kêu gọi đừng nghe theo lời xúi bảy của ngoại bang mà chém giết lẫn nhau, hãy Ðoàn Kết, Ðoàn Kết, Ðại Ðoàn Kết trong lập trường Dân Tộc lại cũng chính là những người đã bắt nhịp cho toàn dân hát bài ca Kết Ðoàn. Bài ca Kết Ðoàn nguyên thủy là bài hát của Ðảng Cộng Sản Trung Hoa, từng được Mao Trạch Ðông bắt nhịp cho dân Tàu cùng hát. Bài ca mang tựa đề Kết đoàn tựu thị lực lượng (Ðoàn kết là sức mạnh). Hồ Chí Minh nhái lại bằng bản dịch sang tiếng Việt.

Những kẻ gân cổ hát bài hát đó đã không ngờ rằng Ðoàn kết chỉ là Kết đoàn dưới sự chỉ đạo của đảng Cộng Sản Trung Hoa để phanh thây uống máu người Việt. Trở về lập trường dân tộc chỉ là trở về lập trường dân tộc Trung Hoa.

Sự xúi bảy của ngoại bang thật khéo léo tài tình và kín đáo khiến cho không ít người bị huyễn hoặc tin theo.

Xét cho cùng, cuộc chiến 20 năm ở Việt Nam không thể đơn thuần gọi là một cuộc nội chiến giữa người Việt với người Việt. Khi các cường quốc thuộc hai khối Tự Do và Cộng Sản trực tiếp hoặc gián tiếp nhúng tay vào cuộc chiến thì người dân Việt Nam đã biến thành những con chốt thí trên bàn cờ thế giới, bị sai khiến điều động để bắn giết lẫn nhau.

Mỹ đổ vũ khí đạn dược vào Miền Nam thì Liên Xô, Trung Cộng, Ðông Ðức, Tiệp Khắc đổ vũ khí đạn dược vào Miền Bắc. Mỹ đem quân vào Miền Nam thì Trung Cộng mang quân vào Miền Bắc.

Văn hóa tư tưởng đã có tác dụng tách một dân tộc thành hai khối đối nghịch. Hai khối đối nghịch đó cùng chống ngoại xâm như nhau, nhưng không cùng chống một kẻ ngoại địch như nhau, vì kẻ ngoại địch của khối này lại là đồng minh của khối kia.

Ta không thể phủ nhận rằng cả Miền Nam lẫn Miền Bắc đã bị xô đẩy vào thế bị lệ thuộc ngoại bang. Tuy nhiên khách quan mà nói, Miền Nam ít bị lệ thuộc vào Mỹ như Miền Bắc bị lệ thuộc vào Liên Xô, Trung Cộng. Người dân Miền Nam tha hồ chỉ trích chính sách của Mỹ, thậm chí có thể công khai chửi rủa những nhà lãnh đạo Mỹ mà chẳng hề hấn gì. Người dân Miền Bắc ngậm câm. Mở miệng chửi Mao xếnh xáng, Stalin thì chỉ có nước đi mò tôm. Khi Nguyễn Khánh muốn cho Mỹ mướn cảng Cam Ranh thì dân chúng MIền Nam biểu tình rầm rộ khiến Nguyễn Khánh phải rút lại ý định đó. Khi Trung Cộng đem quân chiếm Hoàng Sa,Trường Sa thì chính quyền Cộng Sản hai tay quỳ dâng. Ðồng bào Miền Bắc gục mặt xuống rỏ nước mắt khóc thầm. Mọi chuyện đã có Ðảng lo, kể cả chuyện bán nước buôn dân.

Không ai muốn chiến tranh, cũng không ai muốn nội chiến. Nhưng đổ hết mọi tội lỗi cho chiến tranh và nội chiến có lẽ chỉ là mới nhìn thấy những vết thương ngoài cơ thể, như cái trán u, cái chân cụt, cái tay gãy chẳng hạn. Khi chiến tranh chấm dứt những vết nội thương sâu trong cơ thể vẫn còn nguyên đó. Xã hội bị phân hóa cùng cực, đổ vỡ tan nát.

Nhìn lại một ngàn năm đô hộ giặc Tàu ta không thể tìm thấy một thời đại nào mà cả triệu người dân trong nước phải liều chết ra đi. Nhìn lại một trăm năm đô hộ giặc Tây cũng y hệt như vậy.

Ô hay, vậy thì "Ðộc Lập", "Tự Do", "Hạnh Phúc" là cái quái gì vậy? Nó là những lý tưởng cao đẹp hay chỉ là những cái quái thai?

Có người cho rằng vấn đề lớn nhất hiện nay là lòng thù hận mênh mang đang phủ ngập quê hương.

Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy sau cuộc nội chiến tàn khốc kéo dài 20 năm có người lại kêu gọi Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc.

Ðạo đức lắm! Nhân ái lắm! Lô-gích lắm!

Nhưng tại sao những lời kêu gọi Hòa Hợp Hòa Giải đó giống như tiếng kêu trong sa mạc ?

Có ích gì đâu khi gân cổ kêu gọi xóa bỏ hận thù, nếu nguyên nhân gây ra lòng thù hận vẫn còn nguyên đó?

Anh Ðinh Quang Anh Thái có thuật lại lời nhà văn Trần Ngọc Tuấn. Trần Ngọc Tuấn là một người bộ đội vượt Trường Sơn đánh Miền Nam. Anh bị thương và vì là con một thiếu tướng Việt Cộng nên được ưu tiên gửi đi tu nghiệp ở Tiệp Khắc.

Trần Ngọc Tuấn nói với Ðinh Quang Anh Thái rằng :

Các anh có thể oán ghét người Cộng Sản bởi các anh bị xem như thua trận trong cuộc chiến. Nhưng các anh phải tự hào là các anh đã chiến đấu cho một lý tưởng đúng là lý tưởng tự do. Còn chúng tôi mới là những người hận chúng nó, bởi vì chúng tôi là những người đã sinh ra, lớn lên và suốt đời chúng tôi đã bị Ðảng lừa bịp nên chúng tôi mới hận Cộng Sản hơn các anh, chứ chúng tôi không tin là các anh có thể hận Cộng Sản hơn chúng tôi được.

Lời của Trần Ngọc Tuấn thật thấm thía và đáng suy ngẫm. Không phải chỉ có những người tù cải tạo và thân nhân những người chết trên biển Ðông mới oán hận Cộng Sản. Con cháu cán bộ Cộng Sản còn oán hận Cộng Sản hơn nữa.

Nguyên nhân gây ra lòng Thù Hận là Bạo Lực và Lường Gạt. Hậu quả tàn khốc của Bạo Lực và Lường Gạt đã thấm vào tận xương tủy, tụy tạng và máu huyết quá nhiều người. Nó tàn phá tâm hồn con người, biến con người thành dã thú, người nọ thành kẻ thù không đội trời chung của người kia. Con thù cha, vợ thù chồng, bè bạn thù nhau, đồng bào đồng loại oán nhau căm gan tím ruột. Sống để dạ chết mang theo.

Nhưng tại sao Bạo Lực và Lường Gạt đã được đưa vào nước Việt Nam ? Bởi vì Bạo Lực và Lường Gạt chính là sách lược thần kỳ nằm trong cẩm nang mà Lenin đã trao cho Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh vui mừng đến rơi lệ khi nắm được cẩm nang đó. Ông ta biết rằng đó chính là bí quyết để tạo nên sức mạnh. Ðó chính là thủ thuật hữu hiệu nhất để nắm đầu xỏ mũi quần chúng và thâu tóm quyền lực trong tay.

Vì lợi ích một năm: cướp của người. Vì lợi ích mười năm: bỏ tù người. Vì lợi ích trăm năm: chôn sống người. Vì lợi ích ngàn năm: biến con người thành dã thú.

Viết tới đây tôi cảm thấy tất cả những điều tôi viết có thể tóm tắt trong một câu: một nỗi bùi ngùi chua xót. Sau cả ngàn năm đóng cửa khép kín, người Việt đã túa ra đi học khôn thiên hạ. Một số người đi học khôn thiên hạ tưởng rằng họ đã học được những tinh hoa của nhân loại. Họ tưởng rằng đang theo đuổi những lý tưởng cao đẹp. Họ tưởng rằng đã nắm được bí quyết nắm đầu xỏ mũi thiên hạ và tạo nên sức mạnh thần kỳ. Họ tưởng rằng những thủ thuật nắm đầu xỏ mũi quần chúng đó chính là văn hóa.

Không, nó không phải là văn hóa. Nó chỉ là ảo ảnh của văn hóa. Nó thực sự chỉ là cái xác con chuột chết thối tha.

Kim Bằng