Bỉ và Thử Tôi chỉ là một người dân bình thường nên mọi ý nghĩ tư tưởng cũng rất bình dị tầm thường chẳng có gì tối tăm bí hiểm. Suốt đời tôi chỉ có một ước muốn rất bình dị là được sống hòa với mọi người, chẳng muốn bị lôi cuốn vào những vụ cãi vã vớ vẩn về những vấn đề trên trời dưới đất. Nhưng làm sao để có thể hòa với tất cả mọi người? Cúi đầu làm tôi tớ, ai bảo sao nghe vậy, ai sai gì làm đó, uốn gối khom lưng, bưng tai nhắm mắt, giả điếc giả câm, vùi đầu xuống cát, như vậy gọi là hòa chăng? Hình như không phải. Hình như đó chỉ là Hèn chứ không thể gọi là Hòa. Giữa Người với Người, giữa Bỉ với Thử, dường như luôn luôn có những tác động hỗ tương. Chính những tác động hỗ tương đó đã làm nảy sinh ý niệm Thiện và Ác. Có thể ý niệm Thiện và Ác còn lan rộng đến mọi loài sinh vật, nhưng rất khó mà lan tới cỏ cây gỗ đá. Chẻ cây tre ra - như Vương Dương Minh đã làm - không thấy Thiện Ác ở đâu. Thiện Ác không ở trong những vật vô tri, mà chỉ có trong lòng người. Sở dĩ như vậy là vì con người vừa có thể là nguồn hạnh phúc vừa có thể là gốc khổ đau cho đồng loại. Bỉ và Thử vừa là nguồn sáng vừa là tấm gương phản chiếu lẫn nhau. Những nỗi khổ đau mà con người gánh chịu do Trời Ðất tạo ra thì ít mà do con người tự tạo ra hoặc do người nọ gây ra cho người kia thì nhiều gấp bội. Tôi đã có dịp quan sát những gia đình bất hòa và những gia đình hòa thuận. Có gì khác nhau giữa những gia đình đó? Những nguyên nhân gây ra mối bất hòa nhiều vô kể nhưng tựu chung có ba nguyên nhân chính: Một là vợ chồng không chịu nổi áp lực của xã hội bên ngoài, không đủ sức đối phó với nghịch cảnh, quay về trút hết những phiền muộn uất ức đáng lẽ phải xả ra ngoài vào người phối ngẫu, coi người phối ngẫu như cái thùng rác. Hai là bất đồng ý kiến trong cách cư xử giải quyết mọi vấn đề trong cuộc sống - như khác nhau trong cách dạy con chẳng hạn. Ba là một bên nảy lòng ham muốn thèm khát những cái mình chưa có trong tay. Từ đó lừa nhau, lợi dụng nhau, coi người phối ngẫu như công cụ cho mình sử dụng để chạy theo những ảo ảnh bên ngoài, hoặc để đạt cho được những tham vọng thầm kín. Nhưng gom cả mọi trường hợp lại thì dường như nguyên nhân của mọi nỗi bất hòa chỉ là mỗi người đều cảm thấy mình là người sáng suốt nhất, chuyện gì cũng biết, biết phân biệt Tốt Xấu, biết rõ cách giải quyết công chuyện thích đáng nhất và muốn người kia phải nghe theo. Dù bất đồng ý kiến với nhau trong mọi lãnh vực, mọi vấn đề thì ít ra hai người cũng đồng thuận, nhất trí với nhau ở một điểm: cả hai bên đều thất vọng về nhau, cùng giơ tay lên trời tuyệt vọng chán ngán và cùng than một câu y hệt như nhau là không sao có thể hòa hợp được với nhau. Muốn hòa với nhau thì hai bên phải biết nghe lời nhau. Nhưng ai phải nghe ai? Vợ nghe chồng hay chồng nghe vợ? Cha mẹ nghe con cái hay con cái nghe cha mẹ? Quản giáo nghe tù hay tù nghe quản giáo? Ðảng nghe dân hay dân nghe Ðảng? Hòa hợp biến thành khúc xương gà mắc trong cổ họng, khạc ra không được nuốt vào không xong. Muốn hòa với nhau tại sao Nó không nghe lời Tôi? Tại sao Nó không vâng lời Tôi, phục tùng Tôi để cho Tôi sai gì làm đó, chỉ đâu đánh đó? Tại sao Nó cứ bắt Tôi phải nghe lời Nó, phục tùng Nó, vâng lời Nó, để cho Nó mặc tình sai khiến? Lắng nghe cả hai bên cãi nhau ta ngạc nhiên một cách kỳ lạ vì lập luận của hai bên giống nhau như đúc, không sai mảy may. Ðiểm khác nhau duy nhất chỉ là sự khác nhau giữa Bỉ và Thử, giữa Tôi và Nó. Vợ thấy mình là Tôi, chồng là Nó, chồng thấy chồng là Tôi vợ là Nó. Nguyên nhân đích thực của mọi mối bất hòa chỉ là vậy. Nếu ta có thể đổi được vị trí để Bỉ biến thành Thử, Thử biến thành Bỉ thì có lẽ sẽ có thể hiểu nhau hơn, tin nhau hơn, thương nhau hơn chăng? Ông Trời dường như không phải là một ông quan tòa ngồi trên chín từng mây cao ngất ngó xuống phán xét hành vi của mỗi người và ra tay thưởng phạt. Ông Trời chỉ cho ta những cơ hội để sống, chiêm nghiệm cuộc sống và tự tìm ra Lẽ Phải. Ông Trời tạo ra những biến dịch làm cho thế đứng của mỗi người luôn luôn thay đổi, Bỉ biến thành Thử, Thử biến thành Bỉ. Một trong những biến dịch đáng suy ngẫm nhất có lẽ là sự thay đổi vị trí giữa cha mẹ và con cái. Con người sinh ra ít ai chỉ làm cha mẹ hoặc chỉ làm con cái. Vừa oa oa cất tiếng khóc chào đời ta đã là con cái. Lớn lên lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái, ta biến thành cha mẹ. Nếu cha mẹ ta còn sống thì đồng thời ta vừa là con cái vừa là cha mẹ. Bỉ là cha mẹ Thử là con cái hay Bỉ là con cái Thử là cha mẹ? Ta là Bỉ hay Thử? hay vừa là Bỉ vừa là Thử? Hiểu được tương quan giữa cha mẹ và con cái có lẽ cũng sẽ hiểu được tương quan giữa Bỉ và Thử, giữa Người và Người. Khi làm cha mẹ ta muốn con cái phải vâng lời mình. Ta muốn con ta biết ngoan ngoãn nghe lời ta, phục tùng ta. Ta muốn uốn nắn dạy dỗ cho con ta vào khuôn vào phép. Có được như vậy con cái mới nên người. Con không nghe lời cha mẹ là đứa con hư. Tâm lý đó rất phổ cập, Ðông cũng như Tây, xưa cũng vậy mà nay cũng vậy. Nhưng khi là con cái lớn lên đến tuổi trưởng thành ta bắt đầu suy nghĩ, bắt đầu thắc mắc, hoài nghi và phản tỉnh. Ðôi khi ta day dứt với ý nghĩ rằng cha mẹ ta vị tất lúc nào cũng sáng suốt, cúi đầu ngoan ngoãn nghe lời cha mẹ vị tất đã là điều hay. Cha mẹ già rồi, đầu óc lú lẫn, tư tưởng không bắt kịp những biến chuyển của thời đại mới, cứ ôm mãi những ý nghĩ lỗi thời hủ lậu nay đã đặc cứng lại như chiếc bình vôi. Ta muốn vùng lên đập phá hết mọi khuôn phép để tự giải thoát, tự quyết định đời mình. Những mâu thuẫn đó cứ tái diễn từ thế hệ này sang thế hệ khác triền miên bất tuyệt. Mấy ai sống trọn cuộc đời lắng tâm suy nghiệm thấy mình vẫn là mình, hóa giải được những mâu thuẫn giữa Bỉ và Thử, thấy được điều gì mình cho là đúng khi là con cái vẫn còn là đúng khi là cha mẹ? Mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái không phải là mâu thuẫn giữa Ta với cha mẹ Ta, hoặc Ta với con cái Ta. Ðó chính là mâu thuẫn giữa cùng một cái Ta khi ta biến đổi thế đứng từ con cái thành cha mẹ hoặc ngược lại. Không giải được những mâu thuẫn đó thì ta lại tự mâu thuẫn với ta. Giải được mối mâu thuẫn đó thì Bỉ và Thử hòa với nhau thành một. Tôi đã lắng nghe, tìm hiểu, suy ngẫm ý nghĩ của rất nhiều người, và cảm thấy đã có những người nhìn rất rõ những nguyên nhân của những mối bất hòa giữa Bỉ và Thử. Một người cha thực lòng thương con không muốn con ngoan ngoãn cúi đầu trước quyền lực- dù đó là quyền lực của cha mẹ. Hậu quả của nếp suy nghĩ cúi đầu trước quyền lực có thể rất khác nhau, nhưng cách nào cũng tai hại như nhau. Hoặc là đứa con sẽ in sâu vào óc tinh thần nô lệ, khi bước ra xã hội hễ gặp cường quyền áp bức là nem nép uốn gối khom lưng cúi đầu phục tùng vô điều kiện. Hoặc là đứa trẻ uất ức ngấm ngầm, khi lớn lên vùng dậy hung hãn đập phá cả xã hội, oán hận bố mẹ, oán hận tất cả loài người, tìm mọi cách cướp lấy quyền lực để chà đạp dày xéo cả xã hội. Người cha thực lòng thương con chỉ muốn con nghe theo Lẽ Phải. Nghe theo Lẽ Phải là nghe theo tiếng gọi của Lương Tâm chính mình. Nghe theo tiếng gọi của Lương Tâm chính mình sẽ không còn ẩn ức, sẽ không còn đối kháng giữa cha mẹ và con cái. Bỉ và Thử hòa với nhau làm một. Nghe theo Lẽ Phải đứng thẳng lên làm người, không nghe theo mệnh lệnh của cường quyền, dù uy quyền đó phát xuất tự đâu - đó chính là cái chìa khóa để có thể hòa với nhau, chìa khóa của Niềm Tin và Tình Thương. Mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái tựu chung vẫn chỉ là mâu thuẫn giữa Người với Người khi mỗi người đứng ở một vị thế khác nhau. Nó không có gì khác biệt so với mâu thuẫn giữa Vợ Chồng, Chủ Thợ, Trẻ Già, Mới Cũ, Ðông Tây, Giàu Nghèo... hay giữa Ðảng Thống Trị và Dân Bị Trị. Một bên cho rằng ngoan ngoãn vâng lời, cúi đầu phục tùng, chỉ đâu đánh đó, sai gì làm đó là Tốt. Bên kia nghĩ ngược lại cho rằng vùng lên giành lấy quyền tự chủ tự quyết là Tốt. Cúi đầu hay đứng dậy? Ngoan ngoãn phục tùng hay vùng lên đối kháng? Giữa ngoan ngoãn phục tùng và vùng lên đối kháng chỉ cách nhau một sợi tóc thật mong manh, nhưng sợi tóc đó cũng có thể biến thành một vực thẳm sâu hun hút tách lìa Bỉ và Thử. Ðảng thống trị luôn luôn nghĩ rằng bắt dân bị trị cúi đầu phục tùng vô điều kiện là Tốt. Nếu ta lật ngược thế cờ đưa người bị trị lên thành kẻ thống trị, đem kẻ thống trị xuống làm người bị trị, để cho người bị trị sai khiến áp bức đầy đọa chém giết hành hạ kẻ thống trị y hệt như trước đây họ đã làm, liệu rằng kẻ thống trị có còn cho đó là Tốt nữa hay không? Căn nguyên của mâu thuẫn sinh ra mối bất hòa giữa Bỉ và Thử chính là sự Dối Trá và Lường Gạt. Tự dối mình và lường gạt người. Cái điều mình lớn tiếng rêu rao là Tốt chỉ là điều Tốt trên đầu môi chót lưỡi. Khi người khác áp dụng đúng cái điều Tốt đó vào mình thì giãy lên như đỉa phải vôi. Nằm trong ách thống trị tàn bạo phi nhân của Cộng Sản những người dân bị trị đã nhìn thấu tim đen của kẻ thống trị. Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đã vạch rõ nguyên nhân gây ra thảm họa khốc liệt cho cả dân tộc. Nguyên nhân đó vẻn vẹn ở hai chữ: Lường Gạt. Vì đã lường gạt nhau Niềm Tin giữa Người với Người vỡ vụn, nguồn sinh lực của dân tộc suy kiệt dần. Không phải tự nhiên mà Phùng Quán nhớ lời mẹ dặn và viết lên những câu thơ hùng tráng bất hủ : Yêu ai cứ bảo rằng yêu Dù ai ngon ngọt nuông chiều Cũng không nói yêu rằng ghét Ghét ai cứ bảo rằng ghét Dù ai cầm dao dọa giết Cũng không nói ghét rằng yêu... Cũng không phải tự nhiên mà Nguyễn Văn Trấn viết cho quốc hội mà lại nghĩ tới mẹ. Giữa Phùng Quán, Nguyễn Văn Trấn và cha mẹ hai ông không hề có sự đối kháng. Những lời mẹ dạy thấm sâu vào tận tâm khảm và hướng dẫn mọi ý nghĩ hành động của hai ông. Hai ông không hề cảm thấy uất ức phẫn nộ hoặc bị áp đặt tư tưởng khi nghe theo lời mẹ dạy. Tại sao vậy? Vì lời mẹ dạy bao hàm Sự Thật và chan hòa Tình Thương. Sự Thật và Tình Thương nối liền Bỉ và Thử, xóa nhòa cách biệt, hòa Bỉ và Thử làm một. Khi ước muốn của cha mẹ hoàn toàn phù hợp với ước muốn của con cái thì đối kháng sẽ tan biến. Khi ước muốn của cha mẹ vỏn vẹn chỉ là được thấy con mình đứng thẳng lên làm người thì sợi dây nối kết cha mẹ và con cái không còn là sợi xích sắt khổng lồ nữa mà biến thành sợi tơ hồng êm ái. Nếu nguyên nhân gây ra mối bất hòa giữa Bỉ và Thử là sự Lường Gạt thì lòng Thành Thật và Tình Người chính là chất keo kết hợp lòng người.
|