|
TỪ SÁNG THẾ KÝ ĐẾN THẦN CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT
Các dân tộc đều có “Truyện Cổ Tích” nói về công
việc sáng tạo vũ trụ và con người. Đó là những
“Truyện Đời Xưa” được truyền miệng từ thế hệ này
qua thế hệ khác. Nếu đem so sánh thì các truyện “Đời Xưa”
của các dân tộc được truyền miệng hay văn bản đều
phảng phất giống nhau.
Từ thời mông muội của thuở tạo thiên lập địa,
con người sống giữa thiên nhiên quan sát thấy mọi vật
trong trời đất, từ ngọn cỏ cây cối mọc lên, từ khối
đá im lìm, các tinh tú vận chuyển, giông tố sấm chớp, bão
lụt… đều cho là có một năng lực, một vị thần thánh
tạo lập trời đất, sinh ra vạn vật con người. Họ trải
qua các thời kỳ, các giai đoạn, có lúc thanh bình ổn đĩnh,
có lúc tai ương hạn hán hay bão lụt, chết chóc. Họ đã
kể lại cho nhau, truyền tụng cho con cháu. Qua các thời đại,
lớp người nối tiếp di tản khắp mặt đất còn truyền
tụng các điều tổ tiên truyền bảo, nhưng với thời gian, các
điều truyền tụng, mỗi ngày mỗi dị biệt, chỗ này quên
một ít lại thêm một ít chỗ khác lại thêm thắt cho có
vẻ huyền bí gốc tích. Các truyện cổ tích đã thành thần
thoại của các dân tộc muốn tìm hiểu về nguồn gốc của
dân tộc mình.
Các thần thoại đó được truyền miệng qua truyện
cổ tích ông bà kể lại cho con cháu vào các buổi tối rãnh
rỗi hay qua các nghệ nhân ca hát kể truyện trong các buổi
hội họp, phiên chợ, Rồi sau có người gom góp ghi chép
lại. Nổi bật nhất là những sách của dân tộc Hy Bá Lai
(Hebrew, Do Thái) gọi là Thánh Kinh, trong đó có quyển Sáng
Thế Ký (Genesis) nói về việc tạo thiên lập địa và con người.
Chúng ta có bộ Lĩnh Nam Chích Quái và Việt Điện U Linh nói
về huyền thoại gốc tích của dân tộc.
Các dân tộc ở Việt Nam rất đa dạng, có đến hơn 50
sắc dân, sống rải rác
từ vùng rừng núi Bắc Việt, xuống tới Cao Nguyên
Trung Phần đã cho ta rất nhiều thần thoại về tạo thiên
lập địa, tạo dựng con người, rất giống với Thánh Kinh
của dân Do Thái.
Xin so sánh Sáng Thế Ký với thần thoại các dân tộc
ở Việt I- SÁNG TẠO TRỜI ĐẤT MUÔN VẬT VÀ LOÀI NGƯỜI A- Sáng Tạo
Trời Đất Muôn Vật
Sách Sáng Thế Ký (Genesis) trình thuật việc
Elohim (Thiên Chúa) dựng nên
vũ trụ, trời đất trong 7 ngày như sau : “Khởi
thủy Elohim Thiên Chúa đã dựng nên trời và đất Đất
trời trống không mông quạnh Và
tối tăm trên mặt đất uông mang Và
Khí Thần là là trên mặt nước Và
Thiên Chúa phán : “Hãy có ánh sáng” Và
ánh sáng đã có Và
Thiên Chuá đã thấy rằng ánh sáng thực tốt lành Và
Thiên Chúa đã tách ánh sáng với tối tăm Và
Thiên Chúa đã gọi ánh sáng là ngày Còn
tối tăm gọi là đêm Và
đã có một buổi chiều và một buổi mai Ngày
thứ nhất. (Kinh
Thánh, bản dịch của Lm. Nguyễn Thế Thuấn)) Ngày
thứ hai Thiên Chúa dựng
nên vòm trời Ngày
thứ ba Thiên Chúa dựng nên đất và biển. Đất sinh ta thảo
mộc hoa quả. Ngày
thứ tư Thiên Chúa dựng nên Mặt trời mặt trăng và các vì
sao. Ngày
thứ năm Thiên Chúa dựng nên cá dưới nước, chim trên
trời. Ngày
thứ sáu : “Và Thiên Chúa đã phán : “Đất hãy
sản xuất ra sinh vật theo loại : súc vật, côn trùng, mãnh thú
theo loại chúng”. Và
đã xẩy ra như vậy, Và
Thiên Chúa đã làm ra mãnh thú theo loại và súc vật theo
loại và côn trùng trên đất cát theo loại. Và Thiên Chúa đã
thấy thế là tốt lành. Và
Thiên Chúa đã phán : “Ta hãy làm ra người theo hình ảnh Ta
như họa ảnh của Ta Chúng
hãy ngự trị trên cá biển và chim trời và trên các súc
vật và mọi loài mãnh thú và mọi thứ côn trùng nhung nhúc
trên đất”. Và
Thiên Chúa đã dựng nên người theo hình ảnh mình. Là
Và
Thiên Chúa đã chúc lành cho chúng. Và
Thiên Chúa đã phán bảo chúng : “Hãy
sinh sôi nảy nở và hãy nên đầy dẫy trên đất Và
hãy bá chủ nó ! Hãy trị trên cá biển và chim trời Và
mọi sinh vật nhung nhúc trên đất”. Và
Thiên Chúa đã phán : “Này
Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ lả hạt giống có trên
mặt đất và mọi thứ cây có quả sinh hạt giống, chúng
sẽ làm của ăn cho các ngươi. Và
mọi loài sinh vật trên đất và mọi thứ chim trên trời Và
mọi loài nhung nhúc trên đất, loài có sinh khí nơi mình Ta
ban các thứ cỏ cây xanh tươi làm của ăn”. Và
đã có một buổi mai Ngày
thứ sáu. Ngày
thứ bảy Thiên Chúa hoàn tất công việc Người đã làm, Người
nghỉ ngơi. (Kinh
Thánh, Nguyễn Thế Thuấn)
Đó là sự tích Thiên Chúa sáng tạo trời đất vạn
vật. (phần trên đây sách Genesis gọi Thiên Chúa là Elohim, nơi
khác gọi là Yahweh hay Yehovah). Sách Sáng Thế Ký được cho là
viết vào thời kỳ dân Do Thái bị bắt lưu đầy ở
Người
Mèo kể về sáng tạo trời đất muôn vật
Chử Làu (Thượng Đế) sáng tạo trời và đất
trong bảy ngày. Trời có trước và đất có sau. Đất xinh đẹp,
tự nhiên sinh ra trái, mặt đất đầy hoa lớn bằng cái thúng.
Trên trời chưa có tinh tú, Chử Làu mới tạo ra mười (10)
mặt trời và chín (9) mặt trăng cùng vô số sao để chiếu sáng
mặt đất. Loài người cho những vì sao kia là
những hòn đá long lanh, sợ rơi xuống đè bẹp họ,
mới xin Chử Làu cất đi. Chử Làu không cất, mà chỉ tung ra
một tấm màn xanh mênh mông trên mặt đất để cho sao khỏi
rơi xuống. Mười
mặt trời là giống cái và chín mặt trăng là giống đực,
Chử Làu cho hồn vào miệng mỗi cái và hà hơi cho sinh động.
Những tinh cầu ấy chiếu sáng trong bảy năm liền khô ráo
mặt đất và trong thời đó chỉ có ngày liên tiếp mà không
có đêm. Ban đầu nước và đất lẫn lộn, Chử Làu mới
chia ra, rồi sau đó cỏ cây mới mọc trên mặt đất.
Khi mặt đất khô ráo, Chử Làu làm ra mọi thứ cỏ cây,
muôn vật, mỗi thứ một giống, rồi đến người. Cũng trong
khoảng đó Chử Làu tạo nên rừng rú ở trong mặt trăng. Cây
cối ở đất mọc lên um tùm giữa các cánh đồng bao la
ngập lụt, chồng chất hỗn độn lên nhau. Mặt đất nóng quá,
loài người bèn hạ cây
làm cung tên để bắn mười mặt trời và chín mặt trăng. Chín
mặt trời và tám mặt trăng bị trúng tên còn một mặt
trời và một mặt trăng trốn thoát chạy nấp trong bảy năm.
Trong thời gian đó chỉ có đêm liên tiếp mà không có ngày,
loài người phải sống trong bóng tối. Họ nài mặt trời và
mặt trăng trở lại, nhưng chúng không nghe. Cọp đi nài cũng
không được. Sau bảy năm, gà gáy đến bảy lần, chúng mới
chịu ra. Từ đó gà trống đều có mào đỏ, công trạng
của Chử Làu thưởng cho vì đã gọi được mặt trời với
mặt trăng trở về. Thần Thoại người Mán. Ngày xưa, thuở chưa có
trời đất, chưa có mặt trời mặt trăng soi sáng đất và nước,
đầu tiên chỉ có Nhiêu Vương (Thượng Đế) và Bàn Cổ. Bàn
Cổ thành hình một lượt với Nhiêu Vương.
Nhiêu Vương có ba trăm sáu (306) con mắt, Bàn Cổ có ba
trăm sáu (306) thân hình. Con mắt bên trái của Nhiêu Vương
sinh ra mặt trời (Dương), con mắt bên phải sinh ra mặt trăng
(Âm), đầu làm thành trời, chân làm thành đất. Còn loài người
thì do tâm của Bàn Cổ sinh ra trong đó có Bàn Vũ. Thần Thoại Người Lô Lô.
Kết Dơ (Thượng Đế) tạo ra trời trắng và
đất đen. Thuở
trời đất chưa có phân chia, không có ngày và đêm, mặt
trời và mặt trăng không chiếu sáng. Lúc đó chưa có con người
trên mặt đất. Chính Kết Dơ và Ga Gie đã phân chia ra trời
đất. Họ dùng bùn để làm ra ngườI, lấy đất từ phương
Tây đem qua phương Đông để nặn, nhưng đang dở dang thì
trời tối. Qua ngày hôm sau họ nhận thấy tượng nặn hôm
qua đã bị ai phá, và hai đem liền như thế. Họ nặn đế
lần thứ ba, rồi để ý coi chừng, đến nửa đêm thấy
thần đất hiện tới hỏi họ làm gì ? Họ trả lời : -
Chúng tôi nặn một con người. -
Thần đất nói : Đất này là của tôi,
nếu các người mượn để nặn con người, thì trong bao nhiêu
năm sẽ hoàn lại ? -
Họ đáp : Trong sáu mươi năm. Do
đó con người chỉ sống trong vòng sáu mươi năm rồi phải
chết để trả hình hài
lại cho đất. Thần thoại Roglai (Cao nguyên Trung phần) Ban đầu, trước tiên
mọi vật, khi trời đất chưa dựng nên, có một cõi gọi là
U Minh (Brah ting). Vị thần làm ra muôn vật, muôn loài tên
gọi là Bung. Bung tạo nên tất cả từ cõi U Minh : đá, đất,
loài vật cùng các lớp người đầu tiên mà ngày nay mọi ngườI
thờ kính như các vị thần linh. Bung tạo ra một lớp thần
để hầu hạ mình rồi cùng họ rời cõi U Minh để làm nên
trời đất. Những vị thần này gọi là Xi Ô, Bơ Lang, Cơ
Tang, Bơ Lang Ky An lên ở trên trời, cũng như Ngui, nữ thần
Mặt trời, soi sáng và nuôi dưỡng vũ trụ. Còn các vị
thần khác thì làm việc ở mặt đất, đưa từ cõi U Minh đến
các vật cần dùng cho loài người. Tất cả những gì có trên
mặt đất là đều do Bung sáng tạo từ cõi U Minh rồi cùng các
vị thần thuộc hạ đưa đến. Thần
thoại người Ba Na.
Trước khi chưa phân biệt ra trời đất,
vũ trụ là một cõi hư vô mù mịt không có gì cả. Trong cái
hư vô đó tự nhiên sinh
ra hai vị thần quyền phép vô cùng, ấy là Bok Kơi Dơi (Thần
Bok Kơi Dơi làm ra mặt
trăng, mặt trời và các ngôi sao, chỉ phán một lời là các
vật đó hiện ra. Mặt trời là một hòn lửa lớn, soi sáng
cho người trần thấy đường làm ăn. Mặt trăng thế mặt
trời soi sáng ban đêm. Nữ thần Ia Kon Keh dùng
cám vắt ra trời đất. Bầu trời thì vắt hình cong úp trên
mặt đất. Mặt đất thì phẳng đỡ lấy chân trời. Đấng
Nữ Tạo Hóa Ia Kon Keh dựng xong trời dất thì đấng Nam Tạo
Hóa Kon Kơi Dơi đem các tinh tú, mặt trăng , mặt trời treo lên
cao cho nhau chạy quanh trái đất để chiếu ánh sáng. Thần
thoại người Việt.
Ngày xưa trước hết tất cả mọi
sự đã có Ông Trời. Trời là một bậc quyền phép vô song
ở trên cao, làm ra tất cả, trái đất, núi non, sông biển, mưa,
nắng, sinh ra tất cả : loài người, muôn vật, cỏ cây. Từ
mặt trời , mặt trăng, các ngôi sao trên trời cho đến vạn
vật ở mặt đất, tất cả đều do Trời tạo nên. Trời có con mắt thấy
tất cả, biết hết mọi sự xẩy ra ở thế gian. Trời là
cha đẻ muôn loài, xét đến muôn vật, thưởng phạt không
bỏ ai. Do đó mà con người tin có đạo Trời, nhờ Trời, cho
là Trời sinh Trời dưỡng và đến khi chết thì về chầu
Trời. Trời cũng có vợ,
gọi là Bà Trời, và mỗi khi hai ông bà cãi mắng nhau là lúc
trời vừa mưa vừa nắng. Mỗi lúc Trời giận loài người
lầm lỗi thì giáng xuống thiên tai, bão táp, lụt lội, hạn
hán. Giang sơn của Trời là
từ cõi mặt đất lên đến trên cao chín từng trời, có
chỗ giáp với đất là chân trời. Trời vô hình, không nói,
nhưng người ta tin là ở đâu cũng có mặt của Trời, không
một ai tránh khỏi lưới Trời, mọi vệc đều do Trời định. Thần thoại Việt
Đời xửa
đời xưa, tự nhiên sinh ra trời đất. Trên trời có Ông
Trời, mặt trời, mặt trăng, ngôi sao cùng các thần sấm xét,
mưa, gió. Dưới đất có cỏ cây, muôn vật, con người cùng
các thần ma quỷ. Thuở trời đất còn
mịt mù, hỗn độn, tự nhiên hiện lên một vị thần to
lớn khác thường, đầu đội trời, chân đạp đất, đào đất
vác đá, đắp thành một cái cột to để chống trời lên, mà
phân chia ra trời đất. Trời như một cái vung úp, đất
bằng như một cái mâm vuông, chia ra làm bốn hướng đông, tây,
nam, bắc, chỗ giáp trời đất gọi là chân trời. Khi đã chống trời lên
cao rồi, thần phá bỏ cột trụ đi, ném tung vãi đất và đá
khắp tứ phương làm thành những đồi, núi, đảo, khiến
mặt đất hóa ra chỗ cao chỗ thấp. Còn chổ thần đào đất
để đắp cột chống trời về sau đầy nước thành biển. Dấu vết cột trống
trời ngày nay, người ta cho là ơ núi Thạch Môn, thuộc về
tỉnh Sơn Tây, Bắc Việt, cũng gọi là núi Không Lộ (Đường
lên trời) hay Khổng Lồ, hoặc là Kình Thiên Trụ (Cột
chống trời). Dân chúng còn có câu hát nhớ đến việc của
ông Trụ Trời vào thuở khai thiên lập địa :
Nhất ông đếm cát
Nhì ông tát bể
Ba ông kể sao
Bốn ông đào sông
Năm ông trồng cây
Sáu
ông xây rú
Bẩy ông trụ trời. Nhận
xét :
* Kinh
Thánh nói Elohim Thiên Chúa dựng nên trời đất muôn vật
trong 7 ngày. Thần thoại người Mèo cũng nói Chử Làu sáng
tạo trời đất trong 7 ngày, Con số 7 được nhắc nhiều
lần trong Kinh Thánh và Thần thoại người Mèo. * Thần thoại người Mèo
nói 10 mặt trời và 9 mặt trăng chiếu sáng trái đất trong 7
năm liền khiến trái đất nóng quá nên loài người chặt cây
làm cung tên bắn rơi 9 mặt trời và 8 mặt trăng chỉ còn 1
mặt trời và 1 mặt trăng, chạy trốn trong 7 năm liền khiến
trái đất bị tối tăm lạnh lẽo mãi cho tới khi con gà
trống gáy 7 lần, mặt trời và mặt trăng mới trở về soi sáng
trái đất. Người Trung Hoa cũng nói đến 10 mặt trời và 9
mặt trăng nung đốt trái đất nên Hậu Nghệ làm cung tên
bắn rơi 9 mặt trời và 8 mặt trăng chỉ còn lai một mặt
trời và một mặt trăng. Người
Mèo nói mặt trời là giống cái, mặt trăng là giống đực.
Người Roglai nói Ngui, thần mặt trời, là giống cái. Người
Việt cũng nói mặt trời là bà (giống cái), mặt trăng là ông
(giống đực). Câu đồng dao hát
Ông trăng mà lấy bà trời,
Tháng năm ăn cưới tháng mười ăn cheo.
Con lợn vừa bằng con mèo,
Làng ăn chả hết làng treo cột đình,
Sáng mai…Ông sãi đánh trống thình thình,
Bao nhiêu con nít ra
đình gặm xương ! * Thần thoại người Mán
nói rằng dầu tiên có Nhiêu Vương và Bàn Cổ, hai vị này cùng
sáng tạo dựng nên trời đất muôn vật. Nhiêu Vương dựng nên
mặt trời, biểu hiệu cho Dương và mặt trăng biểu hiệu cho
Âm. Còn Bàn Cổ thì sinh ra loài người và muôn vật, núi non,
cây cỏ, sông biển. Âm Dương Ngũ Hành do người Mán (Dao)
quan niệm đầu tiên rồi sau đó người Tàu khai thác thành
triết thuyết cũng như Bàn Cổ tạo dựng loài người vạn
vật đều là thần thoại của người Mán rồi người Tàu
vay mượn nhận là của mình. Người Mèo tức người H’mong,
người Mán tức người Dao, giống dân này được gọi chung là
H’mong Mien, Kinh Thư gọi họ là Tam Miêu. Dân Tam Miêu bị Hoa
tộc từ sa mạc phương bắc tràn xuống chiếm đất Việt
tộc, đã đầy dân Tam Miêu lên các vùng núi non hiểm trở vì
thế cho đến ngày nay họ toàn sống trên các vùng núi cao và
luôn khởi loạn chống đánh người Tàu. *
Thần thoại Roglai nói trước
hết Bung (Trời) tạo nên một lớp Thần để hầu hạ rồi
mới tạo nên vũ trụ, trái đất, vạn vật và con người.
Những vị thần này có tên gọi là Xi Ô, Bơ Lang, Cơ
Tang…Kinh Thánh cũng nói đến Yaveh dựng nên Thiên Thần có
những tên như Michael, Raphael, Cherubim… B-
TẠO DỰNG LOÀI NGƯỜI Sách Sáng Thế Ký (Genesis) viết về việc con người được
tạo dựng như sau : “ Vào ngày Yaveh Thiên
Chúa (cũng gọi là Yehovah, Eloahim) làm ra đất và trời thì trên
đất chưa có bụi cây đồng ruộng nào, chưa có cỏ lả đồng
ruộng nào, vì Yaveh Thiên Chúa không cho mưa xuống trên đất
và chưa có người để canh tác đất đai. Một con nước tự
đất dấy lên và cho cả mặt đất uống đã. Yaveh Thiên Chúa
đã nắn hình người với bụi lấy từ đất đai và Người
đã hà hơi sự sống vào mũi nó và người đã thành mạng
sống. Và Yaveh đã trồng vườn cây ở Và tên sông thứ hai là Ghikhôn. Nó chảy vòng quanh tất cả
đất Và Yaveh Thiên Chúa đã truyền dạy người rằng : “Mọi cây
trong vườn ngươi đều được ăn. Nhưng cây “sự biết
tốt xấu” ngươi không được ăn vì chưng ngày nào ngươi
ăn nó, tất ngươi sẽ chết”. Yaveh Thiên Chúa đã phán : “Không tốt, nếu người chỉ có
một mình. Ta sẽ làm cho nó cái gì trợ giúp đương đối
với nó”. Và Yaveh Thiên Chúa đã nắn ra từ đất đai mọi
thứ đã thú và mọi giống chim trên trời và Người dẫn đến
cho người để xem nó gọi làm sao.Và mọi mạng sống hễ người
gọi sao thì tên là vậy. Và người đã đặt tên cho mọi thú
vật và chim trời cùng mọi dã thú. Nhưng phần người, người
vẫn không gặp được sự trợ giúp nào đương đối. Và
Yaveh Thiên Chúa đã giáng xuống trên người một giấc đê mê
và nó đã ngủ thiếp đi. Và Người đã rút lấy một xương
sườn của nó, đoạn lắp thịt vào. Và trên sườn đã rút
tự người, Yaveh Thiên Chúa đã xây thành người đàn bà. Đoan
dẫn đến với người. Và nó đã nói : “Phen này là xương
tự xương tôi, thịt tự thịt tôi. Nàng sẽ đội danh là “đàn
bà” vì được rút tự “đàn ông”. Bởi
thế đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và khắn khít với vợ mình và
chúng sẽ nên một thân xác. Và
cả hai đều trần truồng, người và vợ nó, mà chúng không
hổ ngươi. SA
NGÃ Vả rắn là vật tinh ranh hơn mọi dã thú Yaveh đã làm ra. Nó
nói với người đàn bà : “Hẳn Thiên Chúa đã phán: các ngươi
không được ăn cây nào trong vườn ?” Người đàn bà đã nói
với rắn : “Quả cây trong vườn chúng tôi được ăn. Nhưng
về quả cây giữa vườn thì Thiên Chúa đã phán : các ngươi
không được ăn, không được rờ đến kẻo phải chết”. Và
rắn đã nói với người đàn bà : “Chẳng chết chóc gì đâu
! Quả nhiên Thiên Chúa biết : ngày nào các ngươi ăn nó,
mắt các ngươi sẽ mở ra và các ngươi sẽ trở nên những
Thiên Chúa biết cả tốt cả xấu”. Và người đàn bà đã
nhìn : quả là quả cây ăn phải ngon. Mà nhìn thì đã sướng
mắt. Nó đáng quý thực, cái cây ấy, để được tinh khôn và
bà đã hái lấy quả mà ăn, bà cũng đã trao cho chồng ở bên
bà. Và ông đã ăn. Và cả hai đã mở mắt ra. Và chúng biết
là chúng trần truồng. Chúng đã khâu lá vả làm khố cho mính. Vì Adam và Eva đã không tuân lời Thiên Chúa và nghe con rắn
ăn trái cấm biết tốt biết xấu nên bị đuổi ra khỏi vườn
Eden. Thiên Chúa bắt loài rắn phảI bò bằng bụng. Bắt ngườ
đàn bà phải mang nặng đẻ đau và người đàn ông phải làm
lụng vất vả mới có cái nuôi thân, sau cùng phải chết. Thiên
Chúa phán : “Ngươi
là bụi đất sẽ trở về cùng bụi đất”. Sáng
Tạo Loài Người Theo Các Dân Tộc ở Việt Thần
Thoại Người Mèo Khi mặt đất khô ráo rồi, Chử Làu lấy một nắm đất
nặn thân hình con người đầu tiên, hà sinh khí vào miệng,
cho hồn vào bụng và tiếng nói ở cổ họng. Người đàn ông
trở nên một sinh vật, có mắt và tiếng nói, đi đứng trên
mặt đất. Sau đó Chử Làu đưa đến cho người đàn ông
một người đàn bà để hai bên lấy nhau. Chử Làu làm ra
thức ăn để nuôi vợ chồng cùng các súc vật cho họ dùng,
nhưng vẫn để họ trần truồng. (Loài người đầu tiên dùng
lá để che thân, họ ăn tươi nuốt sống. Họ tìm ra lửa
trong khi lấy đá ném một con chó nằm trên tảng đá có rêu,
đá bắn tia lửa làm cháy đám rêu, từ bấy giờ con người
mớI biết dùng lửa để nướng thức ăn.) Chử Làu giao tiếp thẳng với họ, đối mặt nói truyện
trong ban ngày. Về sau, Chử Làu không liên lạc với loài người
nữa, kể cả ban ngày, mà chỉ cho biết ý muốn của mình
trong ban đêm, qua trung gian một người con gái hiện ra trong
giấc mộng của người. Thần
Thoại Người Lô Lô. Kết Dơ dùng bùn để làm ra người, lấy đất từ phương
Tây đem qua phương Đông để nặn, nhưng đang làm dở dang thì
trời tối. Qua ngày sau, họ nhận thấy tượng nặn hôm qua đã
bị ai phá, và hai đêm liền như thế. Họ nặn đến lần
thứ ba, rồi để ý coi chừng, đến nửa đêm thấy thần đất
hiện tới hỏi họ làm gì ? Họ trả lời : “Chúng tôi nặn
một con người”. Thần đất nói : “Đất này là của tôi,
nếu các ngươi muốn để nặn con người thì trong bao nhiêu năm
sẽ hoàn lại ?” Họ đáp : “Trong sáu mươi năm rồi phải
chết đi để trả hình hài lại cho đất”. Hai người Đó là sự tích Kết Dơ và Ga Gie phân chia trời đất và
hai người đàn ông, đàn bà đầu tiên sinh đẻ ra loài người
chúng ta. Thần
Thoại người Roglai. Bắt đầu khai thiên lập địa, Bung (Thượng Đế) lấy
một cái búa nhỏ làm ra đất, rồI lấy một cái búa lớn làm
ra trời. TrờI (Tru) và Đất (Tiah) lấy nhau. Ca Tru là Thần
TrờI, Ca Ty A là Thần Đất. TrờI và Đất lấy nhau sinh ra
Binh và Nơ Đon…. Sau
khi tạo ra mọi vật ở cõi U Minh, Bung sửa soạn mặt đất
cho người, vật, cỏ cây lên ở. Thần
Thoại người Ba Na. Những công việc ấy làm xong (tạo dựng vũ trụ), hai vị
thần Nam Kơi Dơi, thần Nữ Kon Keh mới cùng nhau phối hợp mà
sinh đặng ba con. Một con giữ làm thần trên trời (Yă Pôm),
còn hai con cho xuống làm người gọi là Yă Bok và Bà Ong,
tức là tổ tiên loài người. Buổi đầu mặt đất chỉ có đất và đá. Hai ông bà Ya
Bok bèn xin cùng cha mẹ sửa sang lại cho đẹp đẽ. Kơi Dơi
mới giao cho một nắm hột và bảo tổ tiên loài người đem
xuống vãi trên mặt đất, chẳng bao lâu, những hột trổ
chồi, mọc mầm sinh ra những cây cỏ tốt tươi. Tuy thế, đất
đai còn rộng nên ông bà Ya Bok lại lên trời xin một lần
nữa. Kon Keh liền phán một lời thì các loài chim muông tự
nhiên sinh ra. Sau các loài chim ăn trái cây, bay đến đâu gieo
hột ra đó, chẳng bao lâu cây cỏ mọc đầy đũ. Người
Mường : Huyền Thoại Trăm Trứng. Mặt đất vào thời kỳ ấy chưa có dấu vết cùa loài người.
Một ngày kia, có một cây si to lớn mọc trên núi cao, bị bão
đổ xuống, trong đó bay ra một đôi chim lớn. Chúng đến ở
động Hào, ngày nay là hang Ma Chung Diên ở về lối xóm Phú
Nhiên, làng Ngọc Hào, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đôi
chim đẻ ra một trăm cái trứng, trong có ba cái lớn dị thường.
Đẻ xong đôi chim biến thành người, gọi tên là Ay và Ua,
tức là hai con người đầu tiên ở trên mặt đất. Đã năm tháng qua mà không một quả trứng nào nở cả,
thất vọng, Ay và Ua mới vào rừng. Gặp hai bà tiên tên là
Đam Cha Cu và Gia Cha Cang, hai người liền bầy tỏ nỗi lo âu.
Hai bà tiên bảo : “Hai con hãy về xếp
lớp, cứ mỗi lớp năm chục trứng, lấy thứ cỏ
huyền diệu này về đề ấp trứng. Cứ năm ngày lại thay đổi,
lớp trên xuống lớp dưới, lớp dưới để lên trên. Cứ
thế sau năm mươi ngày cả trăm trứng sẽ nở ra con”. Ay và
Ua chưa kịp tạ ơn, hai bà tiên đã biến mất trong rừng..
Trở về hang, Ay và Ua làm y theo lời các bà tiên, và năm mươi
ngày sau, chín mươi bảy quả trứng nở ra thành người. Năm
mươi người về đồng bằng thành người Kinh, còn bốn mươi
bảy người ở mạn ngược, về sau thành tổ tiên các giống
dân Mường, Mán, Mèo, Thổ… Ba cái trứng lớn nhất vẫn không nở, Ay và Ua ngạc nhiên
quá, mới vào rừng, lại gặp các bà tiên, cho biết là ba
quả trứng này sẽ nở ra những đứa con đặc biệt, nhưng
phảI chờ đủ một trăm ngày. Rồi các bà biến đi. Ay và Ua
yên lòng trở về hang. Đủ một trăm ngày, ba quả trứng
lớn nở ra con. Quả trứng thứ nhất nở ra một người là
Đại Ca, quả trứng thứ hai nở ra Lang Đa Cần, quả trứng
thứ ba nở ra một người con gái, cô Nường Kịt. Mọi người
đều sống trong hang đá Lôi Vung, cho đến ngày bầy trẻ khôn
lớn. Dân Mường sinh ra trước tiên ăn toàn trái cây, đêm tìm
hang đá mà ngủ, nhưng họ vẫn làm mồi cho thú dữ, đất đai
thì bỏ hoang, họ không biết dùng lửa, sống rất kham
khổ… Người
Phú Nọi : Hai Trái Bẩu. Ngày xưa Ngọc Hoàng (Pó Then) cho con trai là Khun Bô Lom cùng
hai nàng dâu, vợ của Bô Lom, nàng Dôm Ma Pha La (vợ bên
phải) và nàng Ét Kheng (vợ bên trái) cùng mấy người ở thiên
đình xuống trần. Thuở ấy có cây song Khưa Khao Cát quấn
lấy cây Ton Hai to lớn che lấp cả trời. Khun Bô Lom phàn nàn
với Trời cây to lớn che lấp không nhìn thấy Trời. Trời
cho chặt cây, vì thế đường đi giữa trời và đất bị đứt
đoạn. Cây song có hai trái bầu. Trái bầu thứ nhất bị dùi
nung lửa cho chọc thủng, những người đầu tiên chun ra là
người Khả bị than võ bầu làm cho nám đen vì thế da họ đen.,
những người chun ra sau đó trắng hơn, Người Phú Nọi chun
ra tiếp theo sau người Khả trong lúc vỏ thủng còn nhỏ hẹp
vì thế mà họ nhỏ bé nhất. Quả bầu thứ hai được bổ
bằng rìu và mác. Người Lào chun ra không bị dồn éo, không
bị than nên thân hình họ cao hơn và nước da sáng hơn. Người
Việt : Sáng Tạo Vạn Vật. Sau lúc dựng xong vũ trụ, Ông Trời mới bắt đầu tạo ra
vạn vật, Tương truyền rằng ban đầu Trời dùng những
chất cặn còn sót lại trong trời đất mà nặn ra đủ mọi
giống vật, từ những con to lớn đến những con nhỏ bé như
sâu bọ. Sau đó Trời mới gạn lấy chất trong để nặn ra
con người. Do đó loài người khôn hơn các giống vật. Về công việc nặn ra người, Trời giao cho mười hai nữ
thần khéo tay mà hạ giới gọi là mười hai Bà Mụ. Mười
hai bà mụ mỗi người làm một công việc khác nhau, bà nắn
tay nắn chân, bà nắn tai, bà nắn mắt, bà nắn cơ quan sinh
dục, bà dạy bò, bà dạy lật, bà dạy nói cười. Có bà
mụ đảng trí nên giống người mói có kẻ á nam á nữ, vì
thiếu mất sinh thực khí. Khi sáng tạo loài ngườI, Trời có ý định cho họ sống mãi
khỏi phải chết, hể đến già rồi thì nằm yên một nơi
trong ít lâu tự nhiên lớp da ngoài thay đổi, bỏ lớp già đi
mà hóa trẻ lại, trái hẳn giống rắn, vì bản chất độc
ác nên chỉ sống đúng tuổi rồi phải chết. Một vị thần
được phái xuống hạ giới để thi hành việc đó, không
ngờ gặp nhằm loài rắn trước. Lũ rắn bết được sứ
mạng của thần Trời xuống tuyên án chết cho loài chúng
mới rủ nhau lại hàng vạn con xúm vây lấy sứ nhà Trời,
nhất quyết bắt thần phải nói là : “Rắn già rắn lột,
người già người chui tọt vào săng”, nếu không thì lũ
rắn nhất quyết một mất một còn với thần.Thấy lũ rắn
dữ tợn, liều lĩnh chỉ chực hại mình, thiên sứ đành nghe
theo lời chúng. Do đó mà loài rắn được lột xác sống mãi
còn loài người khi già đành phải chết. Khi Trời hay tin, giận thiên thần đã làm trái ý của mình,
mới đày xuống hạ giới hóa làm kiếp bọ hung suốt đời
chui rúc trong phân. Nhận
Xét : * Thánh Kinh nói Yaveh lấy bụi đất để tạo dựng con người
và hà hơi vào lỗ mũi để cho sự sống. Thần thoại các dân
tôc cũng nói con người do Thượng Đế lấy đất nặn thành.
Thần thoại người Mèo còn nói rõ Chử Làu lấy đất nặn
thành thân hình con người đầu tiên rồi hà sinh khí vào
miệng, cho hồn vào bụng và tiếng nói ở cổ họng. * Thánh Kinh nói Yaveh phán : “Người là bụi đất sẽ trờ
về với bụi đất”. Thần thoại người Lô Lô nói
Kết Dơ dùng bùn đế làm ra loài người, bị thần đất
bắt gặp đòi con người sống ở trần gian một thời gian
rồi phải chết đi để trả đất lại cho thần đất. * Thánh Kinh nói con người nghe lờI dụ dỗ của con rắn mà
ăn trái cấm nên bị Yaveh đuổi ra khỏi vườn địa đàng,
đàn ông phải làm lụng vất vả mới có cái ăn, đàn bà
phải mang nặng đẻ đau. Vì con rắn mà loài người phải
chịu mọi đau khổ và cuối cùng phải chết. Thần thoại người
Việt cũng nói nguyên do vì rắn mà loài người bị chết. Khi
sáng tạo ra loài người, Trời định cho họ sống mãi, hễ
khi già thì nằm yên một chỗ rồi tự nhiên trẻ lại, còn
loài rắn thì phải chết. Trời sai sứ thần xuống trần gian
để tuyên phán quyết định đó. Chẳng may, loài rắn biết
được ý định đó của Trời mới rủ nhau hàng ngàn hàng
vạn con xúm vây quanh thiên sứ bắt phải đổi bản án nhà
Trời mà đọc như sau :
“Rắn già rắn lột, người già người chui tọt vào săng”,
nếu không thì quyết ăn thua đủ với sứ nhà Trời. Thiên
thần sợ quá nên đành phải đọc bản án theo ý chúng. Vì
thế mà loài người phải chết. * Thần thoai Mường kể : Từ thuở tạo thiên lập địa có
cây si to lớn bị gió đánh ngã, từ trong đó bay ra hai con
chim đại bàng, đẻ ra một trăm cái trứng. Trăm trứng này
nở ra một trăm người con. Hai con đại bàng đẻ trứng xong
thì hóa thành hai người, đàn ông tên Ay đàn bà tên Ua. Đó
là hai người đầu tiên trên trái đất. Huyền thoại Việt
kể: ông Lạc và bà Âu đẻ ra một bọc trăm trứng nở ra trăm
con. Huyền thoại Việt cũng nói dòng họ vua đầu tiên là
Hồng Bàng. Hồng Bàng phải chăng do sự tích chim Đại Bàng mà
ra ? * Thần thoại Lô Lô và Phú Nọi kể hai người được Thượng
Đế tạo dựng nên đầu tiên đã đẻ ra hai trái bầu, từ
trong trái bầu chui ra loài người, tổ tiên của các dân
tộc. Thần thoại Việt kể hai ông bà Lạc và Âu đẻ ra
bọc trăm trứng, nở ra trăm con. Bầu hay bào cùng nghĩa như
nhau, người đàn bà có thai gọi là có bầu. Cái bầu cũng
gọi là bào thai. Bào hay bọc cũng đồng nghĩa. Vì chúng ta cùng
một bọc trăm trứng nở ra nên gọi nhau là đồng bào, nghĩa
là anh em cùng một bọc do cha mẹ Âu Lạc đẻ ra. * Thánh Kinh viết : “Bởi thế đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và
khắn khít với vợ mình và chúng sẽ nên một thân xác”. Thánh
Kinh đã nói đến chế độ mẫu hệ thời nguyên thủy, người
đàn ông về ở nhà vợ. Chế độ mẫu quyền đã bị các
thể chế vương quyền, thần quyền biến thành phụ hệ,
phụ quyền. Cho đến tận ngày nay chế dộ mẫu hệ còn sót
lại nhiều nơi như trong xã hội người Chăm, các dân tộc
thiểu số ở Cao Nguyên Trung Phần (Tây Nguyên). Huyền thoại
Tiên Rồng chỉ cho thấy đang ở thời kỳ mẫu hệ. Bà Âu Cơ
là vợ của Đế Lai rồi của Lạc Long Quân. Bà Âu Cơ đẻ
ra trăm con, chia 50 con cho Ông Lạc Long đi nơi khác, còn bà Âu
Cơ ở lại cai trị nước rồi truyền ngôi cho Hùng Vương.
Chế độ mẫu hệ của Việt tộc còn rõ nét cho tới thời
kỳ nhà Hán, Hai Bà Trưng rồi Bà Triệu nổi lên chống chế
độ xâm lăng của Hán triều áp đặt chế độ phụ hệ lên
Việt tộc. II-
Lụt Đại Hồng Thủy. Theo Thánh Kinh thì ông bà Adam và Eva bất tuân lệnh Yaveh mà
ăn trái cấm nên bị đuổi ra khỏi vưởn địa đàng “Yaveh đã thấy sự dữ của loài người đã sinh ra nhiều
trên mặt đất, suy tính chúng có nặn ra được gì thì chỉ
là độc dữ suột ngày. Và Yaveh hối tiếc vì đã làm ra con
người trên đất và Người đã đau phiền trong lòng Người.
Và Yaveh đã phán : “Ta sẽ xóa sạch khỏi mặt đất loài người
ta đã dựng nên, từ loài người cho đến súc vật, côn trùng
và chim trời, vì ta hối tiếc đã làm ra chúng. Nhưng Noeh đã
có nghĩa trước mắt Yaveh. Noeh sinh được ba con trai : Sem,
Kham và Yaphet. Thiên Chúa phán với Noeh : “Giờ khánh tận của mọi xác
phàm đã đến, Ta đã quyết định (trước nhan Ta). Bởi chưng
vì cớ chúng đã đầy dẫy tội ác. Vậy này Ta sẽ hủy
diệt chúng khỏi cõi đất. Ngươi hãy làm lấy một cái tàu
bằng gỗ bách, ngươi làm tàu ấy có buồng đoạn lấy lịch
thanh trám lại cả trong lẫn ngoài. Ngươi sẽ làm thế này :
dài ba trăm xích, rộng năm mươi xích, cao năm mươi xích
(chừng 450m,25m,25m). Ngươi sẽ làm cho táu một cái mui và cho
mui kênh cao lên một xích và bên mạn thì trổ một cửa. Ngươi
sẽ đặt làm tầng dưới, tầng nhì và tầng ba. Phần Ta, này Ta cho Hồng Thủy đến trên cõi đất mà hủy
hoại mọi xác thịt có sinh khí dưới gầm trời. MọI sự trên
đất sẽ biến thành thây ma. Nhưng với ngươi, Ta lập giao ước
của Ta. Và ngươi sẽ vào tàu, ngươi và con cái ngươi, vợ
ngươi và vợ con cái ngươi làm một với ngươi. Trong mọi
sinh vật, mọi xác thịt, ngươi sẽ đem vào tàu mỗI loại
hai con, để độ sinh cho chúng, làm một với ngươi. Chúng
sẽ là một con đực, một con cái. Thuộc chim chóc theo loại,
thuộc súc vật theo loại, thuôc côn trùng trên đất theo
loại, phảI có mỗI thứ hai con đến với ngươi, hầu được
độ sinh. Còn ngươi lấy mọI thức ăn được, hãy tích trữ
với ngươi. Đó là lương thực của ngươi và của chúng nó”.
Và Noeh đã làm mọi sự như Thiên Chúa truyền cho ông làm
sao, ông đã làm y như vậy. Vào
Tàu. Yaveh phán với Noeh : “Hãy vào tàu, ngươi và cả nhà ngươi,
vì Ta thấy ngươi là người đức nghĩa trước nhan Ta nơi
thế hệ này. Trong các thú vật thanh sạch, ngươi hãy lấy
với ngươi bảy con mỗi loại, đực và cái, còn trong các thú
vật không trong sạch (ngươi hãy lấy) hai con đực và cái (và
cả chim trời nữa, bảy con mỗi loại, trống và mái), để
độ sinh giống má trên mặt đất. Vì bảy ngày nữa Ta sẽ
cho mưa xuống đất bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, và Ta
sẽ xóa khỏi mặt đất mọi sinh vật Ta đã làm ra”. Và
Noeh đã thi hành mọi điều Yaveh truyền cho ông. Noeh chẵn sáu
trăm tuổi thì Hồng Thủy nước lụt xẩy đến trên đất. Và để tránh cơn Hồng Thủy Noeh đã vào tàu làm một với
con cái ông, vợ ông và vợ con cái ông. (Thuộc các thú vật
thanh sạch và các thú vật không trong sạch, và thuôc các chim
chóc và thuộc mọi vật bò trên đất, thì cứ từng hai con,
đực và cái, đến với Noeh mà vào tàu theo như Thiên Chúa đã
truyền cho Noeh). Và sau bảy ngày, nước Hồng Thùy đã xẩy
đến trên đất. Năm sáu trăm đời Noeh, tháng hai ngày 17 trong tháng, trong ngày
ấy, hết các mạch nước của uông mang vĩ đại bật tung và
các cửa tò vò tầng trời toang mở. Và mưa đổ xuống đất
bốn mươi ngày bốn mươi đêm. Nhằm chính ngày ấy, Noeh và Sem, Kham, Yaphet, các con của
Noeh, vợ Noeh, và ba người vợ của các con ông vào tàu. Cùng
với họ, mọi mãnh thú theo loại và mọi thú vật theo loại,
mọi côn trùng bò lê trên mặt đất theo loại, mọi chim chóc
theo loại, các thứ cầm thú có cánh. Chúng đến với Noeh vào
tàu mỗi thứ hai con thuộc mọi xác thịt và có sinh khí, và
đi vào có một đực một cái thuộc mọi loại xác thịt, chúng
vào chiếu theo điều Thiên Chúa đã truyền cho Noeh. Và
Yaveh đã đóng cửa lại đằng sau ông. Lụt. Và đã xẩy đến lụt Hồng Thủy trên đất bốn mươi ngày.
Nước đã trướng đại và nâng tàu mà cất bỗng lên khỏi
đất. Con nước dâng lên và trướng đại lớn lắm trên đất
và táu trôi lên mặt nước. Con nước dâng lên lớn lắm trên
mặt đất. Tất cả những núi cao nhất dưới mọi phương
trời đều bị phủ lụt cả. Nước đã dâng cao mười lăm xích
bên trên khiến mọi núi non đều bị phủ lút. Và mọi xác
thịt động đậy trên đất đều tắt thở : chim chóc, thú
vật, mãnh thú và mọi vật lúc nhúc trên đất và mọi người
hết thảy. Mọi loài có hơi thở nơi mũi, tức tất cả các
vật trên cạn đều chết hết.
(Yaveh) đã xóa sạch trên mặt đất hết thảy, từ người
cho đến xúc vật, côn trùng, chim trời, chúng đều bị xóa
sạch khỏi đất và còn lại chỉ có Noeh và những gì ở
trong tàu làm một với ông. Và nước đã dâng lên trên đất
một trăm năm mươi ngày. Nước
Rút. Và Thiên Chúa đã nhớ đến Noeh, và mọi mãnh thú, mọi thú
vật ở trong chiếc tàu làm một với ông. Và Thiên Chúa cho
gió thổi ngang trên đất và nước đã dặt xuống. Bấy giờ
các mạch nước uông mang và tò vò các tầng trời đóng
lại, và trời đã tạnh mưa. Và nước đã rút dần dần
khỏi đất. Mãn một trăm năm mươi ngày thì nước đã
giảm. Tháng bảy, ngày mười bảy tháng ấy, tàu đã đậu
lại trên núi non (xứ) Asarat. Nước cứ giảm dần cho đến
tháng mười. Vào tháng mười,ngày mồng một tháng ấy, các
đỉnh núi đã ló hiện. Mãn bốn mươi ngày, Noeh mở cửa sổ ông đã làm. Và ông
thả ra con quạ. Nó bay ra lượn đi lượn lại cho đến khi nước
đã cạn trên đất. Và từ trong, ông thả bồ câu để xem nước
đã chảy bớt khỏi mặt đất chưa. Những con bồ câu không
tìm đâu đậu chân được thì trở về với ông trong tàu, vì
nước vẫn còn trên mặt toàn cõi đất. Ông đã giương tay,
đón lấy nó mà đem vào với mình trong tàu. Ông còn đợi
bảy ngày nữa mới lại thả bồ câu ra khỏi tàu. Con bồ câu
trở về lại với ông, lúc xế chiều. Và này nơi mỏ nó có
cành ôliu mới ngắt. Vậy Noeh biết nước đã chảy bớt đi
khỏi đất. Ông còn đợi thêm bảy ngày nữa, rồi thả bồ
câu ra. Nhưng nó không trở về với ông nữa. Năm sáu trăm lẻ một (đời Noeh), thàng giêng ngày mồng
một tháng ấy, nước đã khô cạn trên đất. Noeh lật mái tàu
để ngó, thì này mặt đất đã khô cạn. Tháng hai ngày hai mươi
bảy tháng ấy đất đã khô ráo. Ra
Khỏi Tàu. Thiên Chúa phán bảo Noeh rằng : “Hãy ra khỏi tàu, ngươi,
vợ ngươi, con cái ngươi và vợ của chúng làm một với ngươi.
Mọi thú vật ở với ngươi, thuộc mọi xác thịt : chim chóc,
thú vật, mọi loài côn trùng bò trên đất : ngươi cũng cho
chúng ra làm một với ngươi, để chúng nhung nhúc đầy trên
đất và sinh sôi nảy nở trên đất”. Và Noeh đã ra cùng
con cái ông, vợ ông và vợ con cái ông làm một với ông.
Mọi mãnh thú, mọi côn trùng, mọi thứ chim chóc, mọi giống
bò trên đất, theo từng giống của chúng, đều đã ra khỏi
tàu. Và Noeh đã xây một tế đàn dâng kính Yaveh. Ông đã lấy
trong các thú vật thanh sạch và trong các thứ chim thanh sạch
mà làm lễ thượng hiến trên tế đàn. Và Yaveh đã ngửi hương
trấn nộ. Và Yaveh đã nói trong
lòng : “Ta sẽ không còn rủa độc đất đai lần nữa vì
cớ loài người. Vì ngay từ thiếu thời lòng chúng chỉ nặn
ra sự dữ. Ta sẽ không còn phá chúng sinh lần nữa như ta đã
làm. Bao
lâu đất được còn ngày, tất sẽ không ngơi gieo gặt,
lạnh nóng, hạ đông, đêm ngày”. Trật
Tự Mới. Và Thiên Chúa đã chúc lành cho Noeh và các con ông. Người
phán với chúng : “Hảy sinh sôi nảy nở, hãy nên đầy dẫy
trên đất. Oai ngươi sẽ làm cho mãnh thú trên đất, mọi
chim trời, mọi vật bò dưới đất và mọi cá trong biển
phải sợ hãi kinh khiếp. Chúng đều được phó nộp trong tay
các ngươi. Mọi vật máy động sinh sống sẽ là thức ăn
của các ngươi. Một thể như cỏ cây, nộn thảo xanh tươi.
Ta ban tất cả cho các ngươi. Song le các ngươi không được
ăn thịt với mạng nó, máu huyết nó. Song le ta sẽ đòi máu
huyết tính mạng các ngươi. Ta sẽ đòi mạng sống nơi các
loài thú vật. Ta sẽ đòi mạng sống nơi tay ngươi, nơi tay
anh em ngươi. Đại
Hồng Thủy trong thần thoại các dân tộc ở Việt Thần
thoại người Thái : Ngày
xưa có trời, đất, cỏ, cây. Trời giống hình như một cái nấm khổng lồ làm bằng
bảy miếng đất, ba khối đá, chín con sông trong đó có con
Nậm Tào (Hồng Hà), Nậm U và Nậm Khoong (Mekong). Trời cho xuống mặt đất đủ giống người đem theo nơm cá,
sắt và đồng. Con người học cách ăn gỏi cá và thịt, cá vằm với rau
thơm. Họ bắt cá khe, cá Bốt với dụng cụ chài lưới. Trên mặt đất họ bắt nai, hoẵng, trong làng họ bắt
ngựa. Thuở ấy, tất cả chim chóc, thú vật, cả loài rái cá, đều
biết nói. Chúng nó thưa kiện với Trời về sự phá hoại
của con người đã làm cho chúng. Trời bèn dùng phép tắc phi
thường làm cho hạn hán khắp nơi. Trâu bò chết vì thiếu
cỏ. Lúa khô cháy, loài cua chết khô ở ruộng đồng, rễ cây
ăn được hư thối ngay ở dưới đất, trái cây Pao hỏng
trong lúc còn ở trên cành. Thuở ấy, ông Tổ trên trời (Chô Cung Phạ) ra lệnh cho loài
rắn phải chết khô và loài nhái cùng chung một số phận.
Trời dùng nghêu ốc để làm ra đồ đong rượu (vang láu), dùng
con cú để làm ra một người bệnh (chao khoan), dùng ruồi làm
một thanh niên, dùng cá pơ lát làm ra một chú tiều, dùng
chim chích chòe (nốt thua) làm ra một người đàn bà tài
giỏi (nang lang). Sau đó trời trở nên tối tăm, sấm xét nổi dậy. Trong vòng
một ngày có trên một trăm ngàn trận mưa rơi đầy mặt đất.
Tất cả khe suối, ao hồ đều tràn ngập. Đồng ruộng cũng
đầy cả nước. Nước dâng lên cao tận trời, tất cả mọi
sinh vật sống trên mặt đất đều chết hết. Sau đại họa ấy Trời đưa xuống những sinh vật khác. Pu
Cha Tao Suông và Tao Ngân từ trời xuống mặt đất đem theo tám
quả bầu và tám cái gậy bằng đồng gọi là Sao Căm Phạ
(Gậy Chống Trời). Trong một những quả bầu ấy có đủ
mọi thứ cần dùng cho đời sống, có 330 giống lúa để
gieo, 330 giống người. Trong các quả bầu cũng có đủ những
sách dạy các phép phù thủy, bói toán, tiên tri. Chính Trời gởi hai vị thủ lãnh Tạo Suông và Tạo Ngân để
tạo lập lại trên mặt đất. Họ xuống đến Mường Um và
Mường Ai là nơi chính giữa Trời và đất. Họ chị thấy
một vùng nước mênh mông còn đang bao phủ cả mặt đất.
Trong ba tháng nước mới bắt đầu rút xuống. Sáu tháng mặt
đất mới thật khô ráo. Tạo Ngân đóng ở Mường Um và Mường
Ai, còn Tạo Suông xuống phía dưới thấp hon để tạo lập
thế giới. Đến Mường Lô, Tạo Suông phân phát các quả bầu và gậy
đồng. Y gởi đến Mường Bô-Te-Thiên-Chiên sáu trái bầu và
sáu chiếc gậy, còn lại hai trái bầu và hai chiếc gậy thì
phân chia cho các Mường sau đậy : Mường
Keo (Trung Việt)
Mường Lào (Ai Lao) Mường
Lự (Xứ Lư)
Mường Mán (Miến
Điện) Mường
Koi ( Thái Lan)
Mường Rô (Cao
Miên) Hồng
Thủy theo người Khả. Ngày xưa có một người con trai cùng với em gái đi trong
rừng gặp một con chuột lớn cho hay là trong sáu ngày nữa
sẽ có một trận lụt lớn vô cùng. Nếu các người muốn
thoát chết thì chặt một thân cây, đẽo ruột đi, để dành
thức ăn vào đó rồi buộc vào một cây vả rừng. Hai người
vào ở trong đó và nhớ lấy sáp ong bịt kín lại cho kỹ. Sáu hôm sau, xẩy đến một trận lụt khắp nơi. Hai anh em
nghe lời chuột chui vào trong thân cây, nhìn qua lỗ nhỏ thấy
nước mênh mông tràn ngập cả xứ. Sau vài hôm nước rút
xuống, hai anh em trong thân cây chui ra. Chung quanh họ chết
sạch. Họ gặp con chim Còn trái bầu nguyên, người đàn bà sợ làm vỡ bị thương
đến người trong đó, mời lấy một cái dùi nung lửa rồi
từ từ chọc thủng. Người Khả ở trong liền chui ra với làn
da nám đen than cháy ở vỏ bầu, Vì thế người Khả đen hơn
tất cả các dân trong xứ. Hồng
Thủy theo người Mèo Loài
người sống trên mặt đất được chín ngàn (9.000) năm. Có
hai anh em cùng cuốc đất làm ở một cánh đồng, một hôm
nhận thấy bao nhiêu luống đất họ đã cuốc lên hôm qua đến
ngày sau lại liền như cũ. Đêm đến, họ thấy một ông già
đang lấp lại những luống đất đã cuốc lên trong ngày. Người anh cả toan giết ngay đi, nhưng người
em út cản lại để hỏi duyên cớ thì ông già cho biết
rằng đừng làm lụng vô ích, không được sống để hưởng
mùa màng trồng tỉa đâu, vì đến tháng bảy năm nay có một
trận lụt ngập cả mặt đất. Hai anh em mới nhận ra ông già
kia không ai lạ hơn là Chử Làu, bèn hỏi làm cách nào cho
khỏi chết đuối. Với người anh cả tính tình hung tợn,
Chử Làu bảo hãy làm một cái trống bằng sắt, còn với người
em út hiền lành thì Chử Làu khuyên nên làm một cái trống
bằng gỗ trong đó sẽ chở người chị theo, cùng các giống
vật mỗi thứ một con đực, một con cái. Hai anh em làm y theo
lời Chử Làu dặn. Đến
tháng bảy, mưa liên miên suốt bốn mươi ngày đêm, nước tràn
ngập mặt đất, dâng cao đến trời. Hai anh em chui vào trống
mong thoát chết. Chiếc trống sắt chẳng bao lâu thì chìm, người
anh cả chết theo. Còn chiếc trống gỗ trôi theo nước lên
tận trời, người em út cùng chị lên nói với Chử Làu là
mặt đất tràn ngập không còn ở được nữa. Chử Làu nhìn
xuống thấy đất tràn ngập khắp nơi mới sai chín con rồng
hình cầu vòng rút nước cho ráo mặt đất. Trong năm mươi ngày
nước hạ xuống, trống theo nước trở về mặt đất ướt
lầynhư cứt gà. Nước đã rút hết, hai chị em ở trong
trống mới chui ra, thấy cả loài người đều chết sạch.
Một con đại bàng bay lại mang hai chị em trên cánh đưa đến
một nơi cao ráo. Chim không tìm thấy thức ăn trên mặt đất,
hai chị em muốn trả ơn chim mới lấy thịt mình cho chim ăn.
Mỗi người cho chim ba miếng thịt lấy ở gáy, dưới nách và
kheo chân, do đó mà về sau thân hình người ta đều hõm vào
ở ba chỗ đó. Rồi
họ bắt đầu làm đất, vãi những hạt giống mang theo. Người
em lớn lên, ngỏ ý muốn lấy chị, người chị từ chối,
bảo rằng trời cấm chị em không được lấy nhau. Người em
mới nài ép chị lấy cớ rằng trên mặt đất không còn có
người đàn bà nào khác nữa. Hai chị em bèn hỏi ý Chử Làu
bằng cách lăn hai cái thớt cối xay từ trên núi xuống, hai cái
thớt dính liền nhau, cho rằng đó là ý trời muốn vậy, hai
chị em bèn kết làm vợ chồng. Con
của họ đẻ ra không đầu, không tay, không chân, tròn như
một quả trứng. Cho là có lẽ đứa bé ở trong đó, họ
cắt ra. Không thấy đứa bé trong trứng, song mỗi miếng cắt
ra rơi xuống đất thành một người. Thấy thế họ mới
cắt ra thật nhiều miếng thành có vô số con. Mặt đất
nhờ đó mà có người trở lại. Hồng
Thủy theo người Mán kể :
Thuở
trời đất mới dựng nên, có một vị thần tên Chang Lô Cô
xây một ngôi nhà lợp
bằng lá chuối,
một vị
thần khác tên Lung
Cung ( thần sét ) thách thức sẽ làm đổ
ngôi nhà, và làm thật, rồi
sau đó hóa thành một con gà trống tỏ vẻ đắc thắng.Chang
Lô Cô thừa cơ túm đựơc, nhốt gà trống vào cái lồng hình
vuông, không cho uống nước. Thần Sét khát quá, đưa ra một
cái răng xin đổi lấy ít nước uống. Chang Lô Cô nhận lời
đưa nước cho gà uống, gà vừa uống xong thì hiện nguyên hình
Thần Sét, phá tan lồng bay lên trời. Chang
Lô Cô đem chiếc răng
của Thần Sét gieo xuống đất, thì mọc lên
một nhánh bầu với
một quả bầu khổng
lồ. Tức giận vì bị Thần Sét
đánh lừa, Chang Lô Cô ngồi
trên nóc nhà đã bị làm đổ giữa một cái ao, dùng phép
ngăn sông dâng nước
lên trời để đánh
đuổi kẻ thù.
Nước dâng lên cao làm
chết đắm cả loài người.
Chỉ có một người đàn
ông là Phu Hay
đựợc chim thần
đến báo cho biết trước
tai nạn và khuyên
anh em tìm đến quả bầu khổng lổ ấy để lánh nạn. Khi
nước dâng lên đến cửa nhà Trời,
Chang Lô Cô đập
mạnh cửa gọi Thần Sét.
Thần Sét bèn tháo
nước trôi tuốt ra biển, Chang Lô Cô bị rơi theo, đầu va vào
ngọn núi Côn Lôn và chết. Trái
bầu chở anh em Phu Hay thoát nạn cũng mắc trên đỉnh núi đó.
Hai người độc nhất còn sống sót lại trên mặt đất, không
biết tai hại thảm khốc đã tiêu diệt cả loài người,
dắt nhau đi tìm người cùng nòi giống để kết hôn.
Đầu tiên họ gặp một
con rùa, rùa bảo trên
mặt đất chỉ còn có hai
anh em mà thôi, rồi khuyên
họ lấy nhau Cho là rùa nguyền rủa mình,
Phu Hay đập con rùa tan ra từng mãnh. Những mảnh vỡ
của rùa nối liền ngay lại với nhau, và ngày nay rùa còn
mang đấu vết ở trên mai. Sau
đó, hai anh em lại ra đi,
gặp một cây tre, tre cũng
khuyên họ như rùa, Phu Hay tức giận chặt tre ra làm nhiều khúc
nhưng các khúc tre nối liền với nhau và từ đó có dấu
vết từng khúc trên thân tre. Cuối cùng Phu Hay cùng em gái
phải lấy nhau, rồi đẻ ra một trái bầu.
Phu Hay cắt quả bầu lấy
hột giao cho vợ đem gieo
mỗi hạt mọc lên hóa thành một người. Sau
trận hồng thủy, xuất
hiện mười hai tinh cầu để làm khô ráo mặt đất. Nhưng
sau khi mặt đất khô ráo, 12 tinh cấu vẫn chiếu nóng mãi
khiến cho cây cối không mọc được.
Con người mới lấy cung bắn rụng hết các tinh cầu,
chỉ để lại mặt trời và mặt trăng. Hồng
Thủy Theo Người Lô Lô. Gia
đình tổ tiên chúng ta gồm có bốn người, ba người anh và
một em gái. Một hôm họ cày ruộng, đến ngày sau trở ra đồng
thì thấy những luống
cày dính liền lại với
nhau như cũ. Họ cày đến ngày
thứ ba cũng lại thấy như
thế. Thì ra đến đến nửa đêm có ông Nhi Gia tay cầm gậy
trắng đến lấp những luống đã cày.Người anh cả muốn đánh,
người em thứ muốn bắt trói lại, người em út muốn hỏi
nguyên do tại sao ông già lại làm vậy. Ông già đáp, các ngươi
làm việc làm gì nữa vô ích, lụt
hồng thủy sắp tới nơi rồi,
nước sẽ dâng lên tới tận trời, loài người sẽ
chết hết. Bốn anh em kia lo sợ không biết tính ra sao…. Người
anh cả ngồi trong
chiếc trống bằng
sắt bị nước chìm.
Người em thứ ngồi
trong chiếc trống bằng
đồng cũng bị chết chìm. Người em út cùng chị
ngồi trong chiếc trống bằng
gỗ theo lời khuyên của ông già đã dặn,
mang theo một cái
trứng, đợi lúc nào
gà nở lên tiếng kêu
thì hãy mở trống
ra.. Trống gỗ chở hai người theo nước rút xuống mắc ở
một cành cây si mọc ở sườn
đá lưng chừng núi. Hai
người phải nhờ đến một cây tre
cứu thoát cho. Khi xuống được
đất rồi, người con trai mới nói với cây tre rằng :
“Tôi không có tổ tiên vậy tôi sẽ thờ tre làm tổ”. Từ
đó người Lô Lô lấy tre làm vật tổ. Hồng
Thủy Theo Người Roglai. Biển
đông dâng lên phía mặt
trời mọc,
nước dâng cao đến
tận trời. Mây cũng theo
nước lên cao. Những người
ở miền núi, một đàn
ông, một đàn bà người
Chàm, một đàn ông,
một đàn bà người
Việt, một đàn ông,
một đàn bà người Cao Nguyên cùng loài chim một đực, một
cái, hết thảy những giống có đôi cùng đếu theo chui vào cái
trống. Nước
rút để lại hết thảy ở ngọn núi Yang La, voi, nai, tê giác,
heo rừng, trâu ngựa, heo mỗi
giống một đôi. Khi mặt đất đã khô,
người ta từng đôi đi
về xứ mình ở, người
Chàm về xứ họ, người
Việt cũng thế, còn người
Thượng thì ở lại núi rừng. Do đó dân miền rừng núi còn
truyền giống cho đến ngày nay. Một
Truyền Thuyết Khác : Khi
nước lụt từ biển đông dâng
lên đến ngọn núi,
có hai người ở miền Thượng, một trai một gái chui vào
một cái trống. Nước dâng lên cao vượt đầu các ngọn núi
đến tận trời cuốn trông trôi theo. Khi
nước rút cái trống chở hai người mắc cạn ở ngọn núi
Yang La thuộc vùng bộ lạc Roglai ngày nay. Sau trận lụt to
lớn ấy, tất cả đều chết sạch chỉ trừ hai người còn
sống sót ở trong cái trống. Họ
lấy nhau rồi dần dà sinh sôi nẩy nở ra loài người. Hồng
Thủy Theo Người Ba Na. Ngày
xưa, thuở ban đầu,
con diều hâu có
truyện gây gỗ với con
cua, thừa lúc mổ một cái
thật mạnh vào lưng con cua, nứt thủng mai cua,
còn để lại dấu vết đến ngày nay.
Con cua muốn trả thù nhưng không biết làm sao vì
con diều hâu bay nấp ở trên mây,
bèn dâng nước sông và
biển lên tận trời. Tất
cả mọi sinh vật đều chết, trừ có hai người, anh em trai và
gái vào nấp ở trong một chiếc trống lớn.
Nước dâng lên bẩy ngày bẩy đêm, rồi người anh nghe
có tiếng gà gáy bên ngoài. Con gà này do thần sai đến
báo cho hai người còn
sống sót hay là nước đã rút.
Người con trai liền mở cửa trống cho các giống vật
chui ra. Hai anh em ra sau cùng,
hết sức bối rối vì gạo mang theo đã lấy ra ăn hết
sạch, mà mùa màng đã
bị hư hại cả, biết lấy lúa đâu mà gieo. Đang lúc hai anh
em lo lắng thì bỗng nghe gọi đến tên mình, và tiếng nói
từ mặt đất đưalên.Người Anh
nhìn xuống dưới chân
thấy một con kiến đen, gọi
là Hmoch Kenton. Con kiến
tha đến hai hột lúa của thần cho,
bảo với người anh rằng : “ Này, người lấy hai
hạt lúa đem gieo ngay đi,
rồi sẽ được mùa sớm ”. Người con trai nghe lời,
đem gieo hai hạt giống thần,
thì sáng hôm sau, cánh đồng mọc lên
đầy những lúa tươi tốt, mỗi hột to đầy một
nồi, ăn vừa một bữa.
Sau đó anh em lấy nhau, sinh
nhiều con cái. Người nào
đến lúc già chết đem chôn ở gốc cây Lông Blô thì sống
lại như hồi niên thiếu, vì vậy cho nên mặt đất chẳng
bao lâu có người đông đúc. Số người trở nên đông quá,
đến nỗi con kỳ đà Moueul Jol không thể bò đi chơi được
vì bị người ta dẫm lên đuôi. Nó bèn gạt người ta, khi
chết đem chôn ở gốc cây Lông Khung, và từ đấy loài người
hễ chết là chết luôn.
Người Ba Na còn có một sự tích khác về Lụt Hồng
Thủy như sau :
Loài người trở nên hoang
dâm vô độ, khắp nơi bày
ra cảnh kỳ quái. Bok Kơi
Dơi lấy làm căm tức, mới
làm mưa luôn mấy ngày đêm thành một trận đại hồng
thủy, thiên hạ đều chết hết. Chỉ có hai anh em nọ tính
nết hiền lành được Bok Kơi Dơi bảo tránh nạn vào một cái
trống và đem theo đủ các loài thú vật, mỗi giống một
cặp đực cái. Vì vậy người ta kêu hai anh em ấy là Bok Sơgơr
(ông bà tránh nạn trong trống).Bềnh bồng trên mặt nước độ
chừng trên một tháng Ia
Bok Sơgơr mới thả thử một con chim bồ câu ra
thời nó bay luôn không về,
lại thả thêm một con quạ nữa,
đến khi nó bay trở lại
thì chân có vết bùn. Hai
anh em biết nước rút xuống rồi mới chui ngoài trống và
tnhả các giống vật ra. Số hạt giống đem theo họ đã ăn
hết sạch, họ nhờ có con kiến đem lại một hột lúa
thần, đem gieo thì ngày hôm
sau lúa mọc đầy đồng
mênh mông, mỗi
hạt lúa có thể nấu đầy một nồi và ăn no một bữa..
Hai anh em ở trống
chui ra là hai người còn sống sót trên mặt đất, nên phảI
lấy nhau. Họ sinh được mười tám người con, 7 trai và 11 gái.
Số trai gái không bằng nhau nên
các anh em trai phải
lần lượt thay phiên nhau
lấy các chị em gái. Do đó mà con họ đẻ ra chỉ biết có
mẹ mà không biết cha là ai. NHẬN XÉT
: *
Thánh Kinh nói nguyên
do có Đại Hồng Thủy là
vì loài người đã
phạm nhiều tôi ác, Yaveh
muốn hủy diệt loài người để tạo dựng
một thế hệ mới lành mạnh hơn.
“ Chúng có nặn ra được gì thì chỉ là độc dữ
suốt ngày”.
Người
Thái nói, loài người
thời đó đã bắt cá
trong khe suối để
ăn gỏi với rau thơm, lại
bắt cả các thú vật khác như nai, hoẵng,trâu, ngựa…. để
ăn thịt. Các loài vật
kiện lên Ổng Tổ
trên trời (Chô Cung
Phạ). Chô Cung Phạ mới
làm lụt, trong một
ngày có trăm ngàn
trận mưa làm ngập lụt tất cả mặt đất nước dâng
cao tới tận trời giết chết tất cả loài người. Theo
người Mán thì vì
sự thách thức của hai
vị thần, một vị thần
chạy lên trời trốn, vị kia tức giận làm mưa dâng nước
lên tận trời để đuổi bắt, vì thế mà có trận lụt
lớn làm chết cả loài người, thú vật. Người
Ba Na nói vì con diều hâu và con cua gây gỗ nên cua dâng nước
lên bắt diều hâu làm lụt. Người
Ba Na cũng nói nguyên do loài người hoang dâm vô độ nên Thượng
Đế làm lụt để trừng
trị giết hết loài người chỉ trừ hai anh em có tính nết
hiền lành được cứu sống. Ở
vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia)
trong truyện Upanapishtim (
tương đương với ông Noeh ) nói thần Enlil tức giận
vì loài người gây ồn ào quá làm thần
không nghỉ ngơi được nên
ra tay trừng phạt cho trên trời mưa xuống, nước biển dâng
lên làm chết hết loài người cùng thú vật. *
Trời tuy hủy diệt loài
người cùng thú vật, nhưng
cũng cứu một số người
để gây dựng lại loài người. Thánh Kinh kể :
vì Noeh có nghĩa trước
mặt Yaveh nên
Yaveh dạy đóng
một chiếc tàu dài 300
xích, rộng 50 xích,
cao 50 xich đem theo vợ cùng 3 con và dâu cùng các thứ súc
vật có cặp đực cái. Truyện
Upanapishtim cũng nói thần
Enlil bảo ông đóng tàu, đem
gia đình và giống vật mỗi thứ một căp đực cái để gây
giống sau này. Người
Mèo nói, loài người
sống trên mặt đất được
9.000 năm thì có lụt lớn.
Chử Làu bảo với
người anh hung dữ làm một cái trống bằng sắt, còn với người
em hiền lành thì Chử Làu bảo làm một cái trống bằng gỗ
trong đó chở người chị theo cùng
các giống vật mỗi thứ một
cặp đực cái và đủ thức ăn.
Khi nước lụt đến, trống
bằng sắt của người anh bị chìm,
còn trống gỗ người em và chị thì nổi. Người
Roglai nói nước biển dông
dâng lên đến tận trời
làm chết hết mọi, sinh
vật người và thú vật chỉ trừ hai người miền Thượng,
một trai một gái, sống
sót nhờ chui vào cái trống, họ
cũng mang theo các giống thú vật mỗi thứ một cặp đực cái. *
Thánh Kinh nói khi nước rút cạn thì tàu ông Noeh đậu trên
đỉnh núi Ararat thuộc nước Truyện
Upanapishtim nói tàu của họ đậu trên núi Nisia. Người
Roglai nói chiếc trống chở hai anh em đậu trên ngọn núi Yang
La thuộc bộ lac Roglai. (Cao Nguyên Trung Phần Việt Người
Mán nói hai anh em được chim thần bảo cho hay nên chui vào trái
bầu để tránh nạn hồng thủy. Khi nước rút, trái bầu
mắc cạn trên ngọn núi Côn Lôn. (thuộc vùng Trung Á) Người
Lô Lô nói trái bầu anh em họ mắc vào cành si ở cạnh núi và
nhờ cây tre mà họ được cứu. Người
Ba Na (Cao Nguyên Trung Phần VN) nói “trong cơn hồng thủy,
một con heo đực đã phá tung đoạn đâp chắn,
cho nước rút đi, cứu
thoát loài người”. Dân
bản địa Đài Loan Tsuwo
và Bunun cũng có truyện con heo đực phá đập cứu loài người
như người Ba Na. *
Kinh Thánh nói ông
Noeh thấy trời tạnh mưa, thả
chim để dò xem đất đã khô ráo chưa. Đầu tiên ông thả
một con quạ, nước chưa
rút thì nó cứ lượn qua lượn lai.
Sau ông thả một con chim bồ câu, vì nước còn ngập
mặt đất, nó không tìm
được chỗ đậu nên bay
trở vế tàu. Rồi
ông lại thả một con bồ câu khác ra, con chim bồ câu bay
trở về, chân lấm bùn còn mỏ ngậm một cành ô liu mới
ngắt. Ông biết nước đã cạn. Ông ra khỏi tàu. Truyện
Utanapishtim kể : “ Đến
ngày thứ bảy (theo
truyện này thì lụt chỉ có sáu ngày),
tôi đã đem ra một
con bồ câu mà thả nó ra. Bồ
câu đi rồi trở về. Bởi
nó không có chỗ đậu thì
đã trở lại. Tôi đem ra
một con én mà thả nó đi. Con
én đi rồi trở về bởi nó không có
chỗ nào đậu, nó
đã trở lại. Tôi đem ra
một con quạ mà thả nó đi, quạ
đi và thấy nước cạn rồi. Nó
ăn, nó lội bì bỏm, nó
kêu oác oác, nó không trở lại. Và tôi thả nó ra tứ
phia”.
Người Ba Na nói anh em ở trong trống
muốn biết đã hết mưa hay chưa
mới thả một chim bồ câu ra thì nó bay đi mất, lạI
thả một con quạ thì nó bay về chân lấm bùn, họ biết là
nước đã cạn. *
Kinh Thánh nói khi ra khỏi tàu, ông Noeh lập
đàn tế lễ tạ ơn Yaveh.
Yaveh hứa sẽ không
còn “phá hủy chúng sinh như đã làm” và lấy dấu hiệu
cầu vòng như lời giao ước.
Truyện Upanapishtim nói dâng
lễ vật trên núi chỗ tàu ông đậu lại và thấy
“chư thần hít được mùi thơm, chư thần như ruồi bu
lại trên đầu người tế lễ”. *
Truyện Đại Hồng
Thủy của người Việt
đã biến dạng thành
truyện của hai thần Sơn
Tinh và Thủy Tinh tranh
nhau cưới Mỵ Nương con
vua Hùng. Sơn Tinh đem đồ
sính lễ tới trước với “voi
chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao ”
nên cưới được Mỵ Nương.
Sơn Tinh tức giận dâng nước lên đánh Sơn tinh,
làm lụt lội khắp dân gian.
Còn Sơn Tinh thì nước dâng
tới đâu làm núi cao tới đó nên không hề hấn gì. VƯỜN
ĐỊA ĐÀNG (VƯỜN Kinh
Thánh nói về vườn Địa Đàng ( “ Và
Yaveh Thiên Chúa đã
trồng vườn cây ở Và
cây sự sống ở giữa vườn và cây sự biết tốt biết
xấu. Một con sông từ
Vàng đất ấy là thứ vàng tốt, ở đó cũng có nhũ hương
và mã não. Và tên sông thứ hai là Ghikhon. Nó chảy vòng quanh
tất cả đất
Điểm đáng lưu ý là vườn
Địa điểm vườn địa đàng theo Kinh Thánh viết thì
phải ở vào thượng nguồn hai con sông Tigris và Euphrastes
tức vùng đất phía bắc Iraq tức vùng đất của ngườI
Kurdish. Người ta hồ nghi nơi đây có thể là vườn địa dàng
hay không vì đất nơi đây chỉ có đá và cát, cây cối lơ
thơ thì làm sao có thể là vườn địa đàng được ?
Mới đây, vào năm
1994, do một người chăn
súc vật phát hiện, các
nhà khảo cổ đã tìm ra ở Gobekli Tepe, phía đông của Thổ
Nhĩ Kỳ, phía bắc
“… Gobekli Tepe bao gồm những
tảng đá thuôn hình chữ
nhật, được dựng trên
những tấm thạch phẳng, khiến nhiều người liên tưởng
tới vòng tròn đá
Hầu hết những tảng đá được khắc những hình vẽ
rất tinh tế và kỳ lạ, với phần lớn hình các con vật
giống như vịt hay lợn rừng, những con rắn rất dài, thậm
chí cá tôm và sư tử cùng các nét vẽ mô tả hoạt động săn
bắn, các trò chơi.
Những tảng đá đó còn có những hình vẽ rất giống
với hình dạng con người. Về chức năng, các nhà khảo cổ
học tin rằng Gobekli Tepe trước đây là một thánh đường
hoặc khu vưc hành lễ.
… Đầu tiên là
về “tuổi thọ”, theo khảo sát cacbon,
tổ hợp này ít nhất tồn tại từ
12.000 năm nghĩa là
nó được xây dựng trong
khoảng năm 10.000 trước
Công nguyên. Trong khi đó Gobekli
là khu vực có công trình xây dựng “già” nhất trên thế
giới, trước khi có chữ viết,
xuất hiện đồ gốm.
Ngày nay, xung quanh Gobekli là khu đất khô cằn.
Tuy nhiên theo những chạm khắc trên phiến đá cũng như
những vết tích khảo cổ còn sót lại thì nơi đây tùng là
một mảnh đất xanh tươi, màu mỡ với những sông đầy cá,
chim muông để săn bắn, các thảm cỏ xanh và cây quả dại.
10.000 năm trước, khu sa mạc này từng là một thiên
đường. Điều gì đã phá hủy môi trường nơi đây. Câu
trả lời rất có thể là … con người.
Khi loài người bắt đầu canh tác đã làm thay đổi khí
hậu cũng như cảnh quan nơi đây. Khi cây bị chặt bỏ, tất
cả những việc cày
cấy, thu hoạch,
khiến cho đất bị
xói mòn và khô cằn. Như
thế có thể nghĩa là
“thiên đường bị đánh cắp”.
Giống như trong Kinh Thánh viết : “Kẻ săn bắn Adam
bị buộc rời thiên đường
Trong cuốn sách Genesis,
Trong cuốn sách của Assyra
có nhắc đến “ Beth Eden ”,
một ngôi nhà ở vương quốc nhỏ này nằm cách Gobekli
Tepe 50 dặm. Bản thân từ
Tổng hợp các yếu tố trên, bằng chứng tỏ ra khá
thuyết phục. Gobekli Tepe là “thánh địa ở
Khoảng 8.000 năm trước Công nguyên, những người sáng
tạo ra Gobekli đã cho lấp ngôi đền này dưới hàng nghìn
tấn đá, tạo thành một khu đồi như hiện nay.
Không ai biết tại sao lại bị vùi sâu dưới lòng đất.
Có lẽ đó là một sự hy sinh cho đấng tối cao đang tức
giận hay đó là sự sám hối cho
những tội ác và hình phạt hà khắc,
mà những tảng đá tín ngưỡng này
góp phần vào. Dù câu
trả lời là gì, những tảng đá ở Gobekli Tepe dường như
muốn cảnh báo con người nhìn vào những sự thật mà họ đang
tạo ra, vì chính con người phá hủy khu Eden đầu tiên trên
thế giới.”
Đó là sự kiện các nhà khảo cổ cho “vườn Eden” nói
trong Thánh kinh là ở khu vực Gobekli Tepe
thuộc Thổ Nghĩ Kỳ ngày nay.
Nhưng cũng có những người nói “vườn địa đàng”
nằm trên dãy núi VƯỜN
ĐỊA ĐÀNG (
Phía tây dãy Hy Mã Lạp Sơn nơi giáp ranh giữa Tây
Tạng với Nepal và Ấn Độ, có đỉnh núi mang tên Kailas, cao
22.000 bộ. Đây là ngọn núi thiêng của người theo Ấn giáo
và Phật giáo. Người ta
tin nơi đây là ngọn núi
Tu Di (Meru, Sumeru),
là trục của vũ trụ, nơi
ngự trị của thần
Shiva. Người ta tổ
chức các cuộc hành hương
tới Kailas, đến từ Ấn
Độ, Nepal và Tây Tạng.
Họ bỏ cả năm trời, vượt đèo, vượt suối, với những
lối đi chật hep, gập gềnh, cheo
leo, chỉ xẩy chân một
chút là rơi xuống vực thẳm tan xương nát thịt. Thời tiết
thì khắc nghiệt, lạnh lẽo, lúc thì mưa đá,
lúc thì gió, có lúc lại nắng cháy da. Dọc đường có
rất ít nhà cửa, phố
xá nên những người hành
hương phải tự túc mang
theo đồ ăn thức uống,
chăn mền và lều trại. Có
những người tự hành xác, chỉ xin ăn dọc đường, hy vọng
là sẽ có một đời sống tố lành vào kiếp sau.
Kailas đứng sừng sững một mình trong dãy Hy Mã Lạp Sơn,
phủ đầy tuyết trắng, nom như một chiếc đĩa bạc khổng
lồ in trên nền trời trong xanh, vì thế
được gọi là Ngân Sơn. Dưới chân Ngân Sơn có hai cái
hồ, cái lớn tên Manasarovar, cái nhỏ tên Rakastal. Từ đây phát
xuất bốn con sông
sông
“ Tất cả chúng đều được phát xuất từ khu vùng
Ngân Sơn – Manasarovar, đó
là vùng cao nhất của cao nguyên Tây Tạng. Trong các tài liệu cũ, các con sông này đều
được xem như chảy ra từ hồ Manasarovar nằm dưới chân Ngân
Sơn và người ta cho
rằng nước chảy bảy vòng
quanh vùng thiêng này trước
khi chảy về bốn phía và
với cách này đã biểu lộ lòng kính trọng ngai vàng
cùa các vị thiên nhân, đúng như truyền thống đi
diễu chung quanh (pradaksina). Người Tây Tạng gọi tên con sông
Mối
liên hệ tôn giáo và văn hóa giữa Ấn Độ và Tây Tạng ở
những dòng sông này mà trở nên rõ nét.
Chúng thể hiện rõ nét ở con sông Indus và Bramaputra,
hai con sông đó hiện ra như hai cánh tay khổng lồ từ vùng Ngân
Sơn- Manasarovar, ôm lấy tổng thể của Hymalaya và bán đảo
Ấn Độ, trong đó con sông Indus chảy ra vịnh Ai Cập ở phía
Tây và Brahmaputra chảy ra vịnh Bengale phía Đông”. (Con
Đường Mây Trắng, Anagarika Govinda)
Ông A.Govinda viết về Ngân Sơn như sau :
“ Khi qua thung lũng phía tây của Ngân Sơn, khách thấy
mình nằm giữa vách đá đỏ rực mà cấu trúc của nó làm
khách tưởng như mình đi giữa đền đài khổng lồ, với màn
trướng, vách cột. Trên những cấu trúc đó đỉnh Ngân Sơn
trắng xóa bỗng hiện ra.
Dáng hình của đỉnh núi thật hết sức đều đặn,
hầu như nó được đẽo ra từ một tảng băng vĩ đại.
Phía tây của đỉnh là hai hố lõm vào như hai con mắt
của một chiếc đầu lâu trắng, nhìn kẻ hành hương phía dưới
một cách bí ẩn và nhắc
nhở họ nghĩ đến khía
cạnh dữ dội của Shiva
và Demtschog, cả hai vị
đều được trang hoàng bằng đầu lâu và biểu thị cho trí
tuệ của tính không và tính vô thường của mọi sự.
Mây đen và bão tuyết thường che phủ ngọn núi thiêng
và khách hành hương phải đợi cả ngày, thiên nhiên mới nguôi
giận và bức mản mây
của mây mù mới kéo nhau
đi. Rồi ngọn núi bỗng
hiện hình trong một sự sáng rỡ và thanh tỉnh siêu nhiên,
với đĩnh núi trắng xóa, với những tảng băng
loáng màu xanh lục, những
hình bóng màu xanh và vách
đá mảu đỏ tím, ở
những nơi mà băng tuyết không
bám giữ được, một
cảm quan làm mọi ngôn từ đều im bặt.
Ngọn núi hiện ra gần tới mức mà khách hành hương tưởng
có thể vươn tay tới được đồng thời khách lại có cảm
giác đứng trước hiện tượng Thiện Mỹ không thể với
tới, không thể sờ mó
được, hầu như nó nằm
bên kia thế gian, bên kia của sự thực vật chất.”
Ông A. Govida viết về hai hồ thiêng :
“
Và cũng như các ngôi đền Ân Độ luôn luôn có hồ nước
thiêng thì phía nam Ngân Sơn cũng có hai hồ thiêng liêng,
Manasarovar và Rakask, trong
hai cái thì cái thứ nhất có
hình mặt nhật, biểu tượng cho sức mạnh của ánh sáng,
còn cái sau có hình trăng
lưỡi liềm, biểu tượng
cho sự ẩn tàng của bóng đềm,
sức mạnh đó, nếu tự tính của nó không được
nhận rõ và đưa vào vị thế đúng đắn sẽ hiện thành năng
lực đen tối của ma quái…
…Mặt trời mặt trăng biểu tượng hai nguồn năng
lực tâm lý, chúng là hai
dòng chảy năm bên phải và bên trái của cột sống. Trong phép
du già, hai dòng năng lực đó được hợp nhất trong một
nguồn năng lực trung tâm và vươn lên
qua các trung khu hay mức độ nhận thức (luân
xa), cuối cùng nó đạt
mức độ cao nhất, bốn chiều của ý thức giác ngộ.
Tương tự, Ngân Sơn
biểu tượng cột sống của con ngườI
nó cũng chính là truc của vũ trụ có có ý thức, vũ
trụ đó xuyên suốt vô
số các tầng lớp thế giới – từ tầng mức con người
đến các cõi thiên, trong lúc đó thì hai hồ chính là
bể chứa của hai nguồn năng lực tâm linh đó.
|
|