|
NHÀ
TIỀN LÊ
(980 -1009)
*Lê Hoàn phá quân Tống
Buổi triều chính suy vi chìm nổi
Cõi biên thuỳ quen thói phong ba
Nhìn vào cơ sự nước ta
224. Bọn
biên quan Tống dễ tha được nào.
Truyền văn võ, Tống trào nghị sự,
Kén tướng tài gấp cử đại binh
Ầm ầm cờ kéo Nam chinh
228. Ðạo
xuôi xứ Lạng, đạo vòng biển khơi
(45).
Tin chiến sự dập dồi quan ải
Hồi trống khuya khắc khoải canh thâu
Lòng riêng gác lại bấy lâu
232. Ba
quân thề thốt trước sau một lòng.
Phạm Cự-Lượng nay phong đại tướng
Lãnh cẩm nang chấp chưởng binh phù;
Trước giờ ban lệnh xuất sư
236. Họp
cùng tướng sĩ phân bua ngọn ngành:
Kẻ chinh chiến vào sanh ra tử
Vua còn thơ, ai xử cho đồng,
Hoặc khi tiến thoái đột xông,
240. Hoặc
là tưởng thưởng chiến công chu toàn.
Chi bằng trước tôn Hoàn lên chúa,
Sau chiến bào yên ngựa xuất chinh.
Ba quân vang dậy đồng thanh,
244.
Hoàng bào phút đã trong mành trao tay
(46).
Lê-Hoàn bước lên ngai quốc tể
Xưng Lê triều Hoàng-đế Ðại-Hành
(47)
Sai người kíp ruổi Tống kinh
248. Dâng
thư, dối của họ Ðinh phong cầu.
Mồi rước mắt dễ đâu buông thả
Lời sách yêu nghiệt ngã chẳng vừa
Ðòi Lê Hoàn đích thân đưa
252. Mẹ
con Ðinh Tuệ thẳng qua Tống triều
(48).
Biết giặc Tống đặt điều cự tuyệt,
Chí Nam quân đã quyết đá vàng;
Mịt mờ khói toả Nam hoang
256. Nhấp
nhô thuyền chiến rộn ràng vó câu.
Quân lên Bắc chống Hầu-Nhân-Bảo,
Thuyền sang Ðông ngăn nẻo Lưu-Trừng,
Ðại-Hành Hoàng-đế ung dung
260. Ðem
binh thuyền xuống đóng vùng Ðằng-giang.
Thuỷ quân giặc đánh sang dữ dội,
Chiến thuyền Nam toàn đội phải lui.
Ðằng-giang sóng bạc sáng ngời
264. Quân
Nam liều chết đền bồi núi sông.
Mặt trận Bắc giặc công càng mạnh,
Ải Chi-Lăng cờ lệnh ngả nghiêng;
Viện quân chưa kịp kéo lên,
268. Ðại
quân Tống đã ngang nhiên tiến vào.
Quân Lê vẫn lùi sâu tuyệt địa,
Bước đường cùng người ngựa thảm sao!
Tướng quân cởi lớp chiến bào,
272. Dâng
hàng thư tự nạp vào Tống doanh.
Hầu-Nhân-Bảo hùng oanh lẫm liệt
Kéo quân vào sào huyệt Ôn-khâu;
Ầm ầm thác đổ bỗng đâu
276. Nam
quân khắp ngả xuất đầu bổ vây.
Cờ Lê chúa tung bay phấp phới,
Trận trống đồng vang dội sơn khê,
Giáo gươm sáng quắc chỉnh tề
280. Nam
quân xung trận muôn bề hùng uy.
Quân nhà Tống hồn phi phách tán,
Chết thảm thương mấy vạn hùng binh,
Ðại quân phút đã tan tành,
284. Sa
cơ chủ tướng cũng đành đầu rơi!
(49)
Thuỷ quân giặc rụng rời tháo chạy,
Sóng Bạch-Ðằng nay lại bình yên.
Non xanh nước bạc ngoan hiền,
288. Ngàn
năm công nghiệp còn truyền sử xanh.
*Chính sách đối ngoại:
Ðánh Chiêm, hoà Tống.
Năm Thiên-Phúc thăng bình mở hội
(50)
Vầng đẩu tinh chói lọi trời Giao.
Vừa yên ổn với Bắc trào
292.
Ðại-Hành thân dẫn quân vào Nam chinh.
Nguyên năm trước Chiêm-Thành đoạn nghĩa,
Lại giam cầm sứ giả Giao-Châu
(51);
Lòng riêng dẫu chẳng thù sâu,
296. Quốc
hờn giục giã vó câu gập ghềnh.
Gươm xẻ núi bạt thành chém tướng,
Giáo chuyển rừng phá chướng khai thông,
Ðánh vào cho tới Chiêm cung,
300. Ðánh
cho tỏ mặt anh hùng Giao-Châu
(52).
Nam Chiêm đã cúi đầu thần phục,
Bắc Tống còn e lúc đa đoan;
Âu là cứ kế vẹn toàn,
304.
Ngoài hoà cường Tống trong an cõi bờ.
Sứ Nam đến kinh đô nhà Tống,
Xin giữ phần tiến cống như xưa,
Lại đem Quách, Triệu
(53) trả qua,
308.
Trước là thông hiếu, sau là thị oai.
Tống đế đã gờm tài Lê chúa,
Lại đang hồi khói lửa Bắc biên
(54),
Cho nên dưới giải Nam thiên
312. Mặc
giao Lê chúa trọn quyền an dân
(55).
Năm Ư'ng-Thiên Nam quân khởi hấn,
Mang chiến thuyền cướp trấn Như-Hồng
(56),
Lại khi quấy nhiễu châu Ung,
316. Khi
truy nội tặc đến vùng Khâm-Châu.
Triều đình Tống trước sau chẳng hỏi,
Lại ân ban ngọc đới, chiếu thư.
Ðại-Hành tạ sứ, phân bua
320.
Rằng: là giặc bể, năm xưa Như-Hồng;
Nếu Giao quân, Phiên-Ngung thẳng tiến,
Rồi đại quân, Mân-Việt tràn lên,
Há chi một mảnh trấn biên
324.
Chẳng hay văn võ Ngự tiền biết chưa?
(57)
Nền Bách-Bảo nắng mưa dầu dãi
(58),
Ngọn Ðại-Văn vạn đại trơ trơ;
Nhân dân một thuở ơn nhờ
328.
Công, thương, nông nghiệp bấy giờ mở mang.
Dân nô nức khai hoang lập ấp,
Quân mở đường ngăn giặc lập công
(59),
Hai mươi năm lẻ mặn nồng,
332.
Thịnh suy rồi cũng nối vòng tử sinh
(60).
* Nhà Tiền Lê suy: Lê Trung Tông và Lê Ngoạ Triều.
Khi Hoàng đế Ðại-Hành mệnh tuyệt,
Con thứ là Long-Việt nối ngôi;
Nhà Lê đến vận suy đồi
336. Loạn
cung em mượn tay người giết anh
(61).
Trong gia đạo đoạn tình cốt nhục,
Chốn cung đình nát mục ươn hèn,
Triều thần văn võ bon chen,
340. Khóc
vua riêng có Ðiện-tiền Tướng-quân
(62).
Long-Ðĩnh triệu quần thần xưng đế,
Học đòi theo nghi vệ Tống liêu.
Người đâu dâm bạo đủ điều,
344. Liệt
giường nên phải ngoạ triều trị dân!
(63)
Ngoài trăm họ oán than bất phục,
Trong anh em quay mặt chống nhau,
Phù-Lan vừa mỏi vó câu
348. Giặc
Cử-Long đã vào sâu chiến tràng
(64).
Tiếc cho kẻ trụ vàng giáp ngọc,
Thương cho người bổng lộc ngựa xe;
Triều cung bầy một trò hề
352. Ðắm
chìm bể khổ sông mê mặc lòng.
Thế mà cũng viển vông kinh kệ,
Cũng ra tài tế thế kinh bang
(65)
Canh thâu kinh khuyết mơ màng
356. Nào
ngờ bụng kẻ sói lang biên đình.
Sứ Tống rõ nội tình Nam thổ,
Xin cất quân thủy bộ Nam chinh.
May thay Tống đế thể tình
360. Lê
triều một dạ chẳng đành binh đao
(66).
Sai sứ xuống đất Giao phủ dụ,
Khuyên anh em khá giữ luân thường,
Lại phong Giao-Chỉ Quận-vương,
364. Ban
cho ấn tín liệu phương trị bình.
Lê Long-Ðĩnh bình sinh tàn bạo,
Bốn năm trời nắm đạo trị dân
Chưa hề bố đức thi ân
368. Nên
khi nằm xuống Lê phần đổ theo
(67).
Mới biết lưới trời treo lồng lộng,
Càng ác tai càng chóng suy tàn,
Mất lòng dân mất giang san,
372. Gìn
tâm đức mới muôn vàn bền lâu.
|