GIẶC NGUYÊN

 

* Thành-Cát Tư-Hãn;

 

*Nguồn gốc và thành tích chiến đấu của quân Mông Cổ.

 

 

          Nguyên Trung Quốc, về miền Tây Bắc,

          Phía thượng lưu sông Hắc Long Giang,

          Trên vùng cỏ cháy cát hoang,

1168. Giống dân du mục an nhàn sinh nhai.

 

          Người Mông-Cổ giỏi tài kỵ mã,

          Lại sở trường thiện xạ cung tên;

          Hung-Nô là giống tổ tiên

1172. Chăn nuôi trên những thảo nguyên xanh rì.

 

          Họ chưa biết sống nghề trồng trọt,

          Chữ nghĩa chưa thông suốt văn thư;

          Tuy nhiên trên giải hoang vu,

1176. Mình đồng da sắt rèn từ chiến chinh.

 

          Khi lâm trận kỵ binh tràn tới

          Như sóng thần vừa mới đâu đây,

          Sau lưng thoắt đã hiện ngay,

1180. Ðịch không tan trận cũng bay tinh thần.

 

          Dưới trướng Thiết Mộc-Chân Ðại-Hãn (151)

          Lệnh ban ra muôn vạn phục tùng,

          Tử sinh nhẹ tựa lông hồng,

1184. Cơ nào đội ấy trùng trùng xông pha.

 

          Ðầu thế kỷ mười ba, Thành-Cát

          Quân Thổ vừa tan tác dưới tay,

          Ầm ầm vó ngựa chinh Tây,

1188. Quay về Trung thổ bủa vây Trường-thành (152).

 

          Người Kim Quốc hùng anh dũng liệt,

          Thành Bắc-Kinh dù chết không hàng;

          Ngút trời khói lửa tan hoang,

1192. Vỡ thành, đá nát vàng tan thảm sầu.

 

          Thành-Cát lại vó câu Tây tiến,

          Qua Tân-Cương đến vịnh Ba-Tư;

          Nhành cây ngọn cỏ chẳng chừa

1196. Kinh hoàng cho đến thiên thu còn truyền.

 

          Hung-Gia-Lợi vừa yên nội bộ

          Bỗng như cơn cuồng nộ phong ba,

          Ðại quân Mông-Cổ tràn qua,

1200. Dân Hung nửa triệu máu hòa đỏ sông.

 

          Cả một giải mênh mông Hồi Quốc,

          Từ Ấn, Hồi trở ngược cận đông,

          Bốn mươi mấy vạn binh hùng

1204. Ðã thành tro bụi nát cùng kinh đô.

 

          Miền cực bắc Nga-Tư lãnh thổ,

          Mấy năm trời tử thủ kháng Mông,

          Máu xương trải khắp ruộng đồng,

1208. Tám phần lãnh thổ mất trong kinh hoàng.

 

          Người Tây Âu hoang mang khủng khiếp,

          Tưởng như ngày tận kiếp tới nơi;

          Giáo-hoàng La-Mã tức thời

1212. Cùng vua nước Pháp cử người sang Mông (153).

 

          Lúc ấy đã lấy xong Tây-Hạ,

          Triều đại Mông truyền đã ba đời,

          Hiến Tông vừa lại về trời,

1216. Hốt-Tất-Liệt mới lên ngôi trị vì...

 

          Vương hiệu tự xưng là Thế-Tổ,

          Quốc hiệu xưa Mông-Cổ đổi Nguyên;

          Ngựa chưa kịp cởi cương yên

1220. Ba quân đã nổi lệnh truyền Nam chinh.

 

          Quân dân Tống tận tình chống giữ,

          Ðến hơi tàn thất thủ Tương-Dương;

          Quân Nguyên như ngọn sóng cuồng,

1224. Tràn vào quét sạch chiến trường Hoa-Nam.

 

          Kể từ mấy ngàn năm lịch sử,

          Trên chiến trường kim, cổ, Ðông, Tây,

          Bốn mươi quốc thổ dưới tay,

1228. Chưa từng thấy chuyện xưa nay bao giờ.

 

          Hơn nửa mảnh thế đồ dẵm nát,

          Giặc Nguyên chưa thỏa đất tung hoành;

          Nào ngờ giấc mộng Nam chinh

1232. Ba lần tràn xuống tan tành cả ba.

 

          Ðánh cho giặc biết ta Văn-Hiến,

          Cho ngàn sau hãnh diện giống dòng,

          Cho cao đại nghĩa Diên-Hồng,

1236. Cho tình thế giới còn trong loài người (154).