|
Trần Phế Ðế (1377-1388)
Duệ Tông mất triều cung tùy tiện
Lập con là Ðế Hiển lên ngôi (241);
Nỗi nhà việc nước bời bời,
2460. Triều
đình nhớn nhác đứng ngồi không yên.
Dân tình đã triền miên thống khổ,
Sĩ khí càng lấp ló thảm thê,
Vua quan khi tỉnh lúc mê,
2464. Chôn
vàng giấu xuống Kiện-Khê, Nam Hà.
Việc bờ cõi binh gia chiến trận
Mượn đám tăng Ðại-Nạn Thiền-sư;
Thóc kho cạn đã mấy mùa,
2468. Ba
quan tiền thuế tận thu đầu người (242).
Lớp sĩ tử chưa thôi mải miết
Ðua đòi theo cử nghiệp từ chương,
Vinh thân ôm cái mộng thường,
2472. Mắt
ngơ nào thấy quê hương chết mòn.
Trên triều Bắc ngó dòm gây chuyện,
Hết đòi lương cấp viện Vân-Nam,
Lại đòi đưa đến Kim-Lăng
2476. Mấy
mươi học sĩ nhân tăng nước nhà.
Dưới Chiêm quốc lấn qua sinh sự;
Ðược tin ta án ngữ Ðại-An,
Thần -phù (243) quân giặc tràn sang,
2480. Vào
Thăng-Long tựa thác ngàn cuốn phăng.
Năm Mậu-Ngọ (dl.1378) thành Thăng lại vỡ,
Quân Chiêm theo đường bộ Nghệ-An,
Chiến thuyền ngược Ðại Hoàng giang,
2484. Tiến
lên đốt phá tan hoang kinh thành.
Năm Canh-Thân (dl.1380) Nghệ, Thanh cấp báo,
Lê Quý-Ly thủy đạo chuyển binh,
Hợp quân cùng Ðỗ Tử-Bình
2488. Ðánh
tan giặc ở Ngu-giang (244) sông nhà.
Năm Nhâm-Tuất giặc ra Thanh-Hóa,
Ðại quân ta chặn ngả Thần-Ðầu (245),
Tấn công các mặt trước sau,
2492. Quân
Chiêm bại trận kéo nhau rút về.
Trông quân thế có bề đã mạnh,
Quý-Ly bèn tiến đánh phương Nam,
Chiến thuyền đến cửa Nương-Loan (246)
2496. Hại
thay gặp bão đắm tan cũng nhiều.
Ra quân đã lắm điều trắc trở,
Giữ nước càng gian khổ đắng cay;
Giặc Chiêm lại vượt Nam nhai,
2500. Theo
đường núi đến Quốc-Oai đóng đồn.
Trấn thủ ta Mật-Ôn bị bắt,
Ðoạt Tam-Kỳ quân giặc vây kinh;
Vua tôi lên Bắc lánh mình,
2504. Giao
Ða-Phương trấn giữ thành Thăng-Long!
* Việc thanh trừng trong cung cấm.
Ngoài chưa yên giặc trong đã dấy,
Trò biển dâu siết mấy cho vừa;
Ðồn rằng năm ấy sao tua,
2508.
Mậu-Thìn (dl.1388) ấy hạn thí vua hại thần.
Bởi vận số nhà Trần đã kiệt,
Khiến xui điều oan nghiệt tai ương;
Người khôn phò kẻ trí thường,
2512. Kình
nghê khép phận trạch lươn dễ gì.
Ðế-Hiển thấy cơ nguy cảnh giác,
Mưu cùng Trần Thúc-Ngạc biểu huynh (247),
Dăm mười văn võ triều đình,
2516.
Mật bàn tính chuyện kết minh thanh trừng.
Vương Nhữ-Mai ngoài cung tiết lộ,
Lê Quý-Ly kinh sợ tính đường;
Tướng quân là Nguyễn Ða Phương
2520.
Khuyên Ly tạm lánh vào vùng Ðại-Lai (248).
Phạm Cự Luận ghé tai bàn kế,
Ly cả mừng gọn ghẽ tư trang,
Vào cung mật tấu thượng-hoàng
2524. Phế
vua lập Chiêu-Ðịnh Ngang nối dòng (249).
Nghệ Tông vốn cạn lòng nhẹ dạ,
Chưa phân suy thật giả, gian trung,
Triệu ngay Ðế-Hiển vào cung,
2528.
Truyền giam ở chốn lao lung Phật đường (250).
Bọn Nguyễn Khoái, Lưu Thường, Lê Lạc...
Ðuổi quân theo cướp đoạt tù xa,
Hầm hầm vó ngựa xông ra,
2532. Kiếm
thì ngoài vỏ, cung đà sẵn giương.
Ðau sót cảnh máu xương tranh chấp,
Phế Ðế truyền giải giáp lui binh;
Ðem thân vào chốn tử sinh
2536. Ôi
thôi vua cũng giảo hình khác chi! (251)
Ðế-Hiển bị Quý-Ly sát hại,
Bọn công thần biên ải đầy đi,
Ðồng mưu tông thất thân chi
2540. Sang
cường Chiêm mượn quân uy nước ngoài.
Dòng Hoàng thuỷ chia hai chiến tuyến,
Hai quân Trần đối diện giao binh
Máu đào đục sóng thủy tinh
2544. Bờ
hoang lộng tiếng oan linh thét gào.
Trần Khát-Chân binh trào thắng thế,
Trần Thiểm-Bình (252) túng kế cao bay;
Hoàng-giang một giải vơi đầy,
2548. Nấm
mồ vô định chôn thây cũng nhiều!
Riêng còn có đương triều Thái-uý,
Trang-Ðịnh Vương, xử lý khó thay;
Quý-Ly quỷ kế sẵn bầy
2552. Ðưa
lời thương nghị định ngày nối ngôi.
Trần Thúc-Ngạc kiếm lời thoái thác,
Lại lánh mình ra hạt Vạn-Ninh;
Quý-Ly giữa chốn triều đình
2556. Tâu
xin triệu Ngạc về kinh xum vầy.
Lại sai tướng ra tay cường khấu,
Giết người rồi man tấu về kinh.
Tội oan chống mạng triều đình,
2560.
Thương thay Trang-Ðịnh giáng thành Man-Vương!
|