|
Trần Nhân Tông
(1279-1293)
* Mặt trận ngoại giao với Mông Cổ tan vỡ
Thái tử Khâm nối dòng hào kiệt
Lên ngai vàng Ðại-Việt Quốc vương
Thời nay Nam quốc tự cường
1384. Gươm
đao đọ với Bắc phương kiêu hùng.
Nguyên năm trước Sài Thung (169) sang sứ
Hạch sáu điều sách dụ năm xưa (170)
Mười năm trải mấy nắng mưa
1388. Mà
cơn cuồng vọng vẫn chưa nguôi lòng.
Sài Thung vốn kiêu căng quen thói,
Triều đình ta cứng cỏi dễ đâu;
Nhân Tông nào chịu đi chầu
1392. Sai
Trịnh Quốc Toản sang Tầu thảo thương.
Sứ đã bị Bắc phương giữ lại,
Nguyên triều kia còn phái Thung sang
Truyền rằng: Ngoài kỹ, nho, lang, ...
1396. Thay
vua phải đúc người vàng tiến dâng.
Vua e việc chiến tranh tàn hại,
Mới cử Trần Di Ái sang thay (171),
Vốn hàng quốc thích xưa nay,
1400. Tùy
tùng Lê thị hai người Mục, Tuân (172).
Nguyên vốn đã tính phần xâm lược,
Bèn thừa cơ bầy chước gian ly,
An-Nam quốc đổi thành Ty (173),
1404. Phong
Trần Di Ái chức vì Quốc vương.
Năm Nhâm-Ngọ (dl.1282) Sài Thung điều động
Hơn ngàn quân hộ tống Ái về;
Quân hùm theo ngọn tướng kỳ
1408. Sứ-đô
Nguyên-soái họ đề "Sài" lang (174).
Cuộc giao hiếu giữa đàng tan vỡ,
Trần triều thêm phẫn nộ căm gan,
Ðiều quân chặn nẻo Nam-Quan,
1412. Quyết
đem gươm giáo luận bàn thị phi.
Trúng tên nhọn phách lìa chủ soái,
Vướng giáo dài cạn lối gian vương,
Sài Thung bôn tẩu tìm đường,
1416. Bọn
Trần Di Ái vô phương ra hàng (175).
Chưa quên thói sài lang cậy sức,
Nguyên chủ sai Bỉnh-Trực giả danh,
Mượn đường sang đánh Chiêm kinh
1420. Chẳng
qua mượn kế đoạt thành, cướp lương !
Vua cầu phong "Bình-Chương" mượn thế
Cốt chối từ trá kế mượn lương.
Thế mà trăm sách nghìn phương
1424. Vẫn
không thoát cuộc chiến trường oan khiên.
|