Trần Dụ Tông (1341 - 1369)

 

*Nhà Trần suy tàn; thua Chiêm, rối loạn cung đình.

 

 

          Vừa mấy độ thu đi đông lại,

           Ðã xuân tàn héo dải nắng hanh,

          Hiến Tông từ kiếp phù sinh (223),

2276. Dụ Tông - Trần Hạo thay anh trị vì.

 

          Phường mũ áo thôi thì gặp lúc,

          Kẻ hạ lưu có phúc cũng nên;

          Triều đình bầy cuộc đảo điên,

2280. Vua tôi hoan lạc bon chen một tuồng,

         

          Trên xã tắc còn không chẳng thiết,

          Dưới dân lành rên xiết nào hay,

          Cuộc cờ, canh bạc mê say,

2284. Triều cung hoang loạn thế này thì thôi!

 

          Nghề hát bội tới thời thịnh đạt

          Tử tôn nhà Nguyên-Cát vẻ vang (224);

          Nhà giầu, chiếu bạc chung sàng,

2288. Công danh, hai trật trăm thăng đua tài! (225)

 

          Bọn hầu cận ra oai chiếm đất,

          Kẻ quan trên mỏi cật bon chen;

          Dân cùng uất ức nổi lên,

2292. Kìa như Ngô-Bệ ở miền Hải-dương.

 

          Năm Ðại-Trị (dl.1358) thượng-hoàng khuất núi,

          Các lương thần tiếp nối ra đi;

          Trong triều ngoài cõi suy vi,

2296. Quan thì mọt nước, lại thì sâu dân.

 

          Riêng có bậc chính nhân triều trước,

          Vốn toan vì vận nước trừ gian,

          Họ Chu, tên gọi Văn An,

2300. Sớ dâng xin chém bảy quan đại thần (226).

 

          Lời chính khí bàn quân vô đạo

          Khéo nghịch duyên đàn dạo tai trâu!

          Non xanh hẹn với bạc đầu

2304. Cúc tùng, phong nguyệt vui câu thanh bần (227).

 

 

* Việc bang giao với phương Bắc:

 

          Nay lại nói phương lân Bắc thổ,

          Lúc Trần tàn, Nguyên đã phai hương;

          Có người tên gọi Nguyên-Chương

2308. Từ-Châu khởi nghĩa, Kim-Lăng tiến vào.

 

          Mười lăm năm gian lao phục quốc

          Chu Nguyên-Chương giành được sơn hà,

          Lập nhà Minh ở Trung-Hoa,

2312. Bắc triều niên lịch chép là Mậu-Thân (dl.1368).

 

          Minh Thái Tổ xuất thân chinh chiến,

          Tuy nhiên còn lo chuyện tề gia,

          Cho nên vó ngựa Trường-Sa

2316. Chưa xâm phạm tới cõi bờ Thăng-Long.

 

          Sứ phương Bắc ruổi rong xuống dụ,

          Quan triều Nam áo mũ lên mừng;

          Gọi là cống vật minh trưng,

2320. Tránh loài lang sói vẫy vùng một khi.

 

 

* Việc động binh với Chiêm Thành.

 

 

          Dời cõi Bắc quay về Chiêm Quốc;

          Chế A-Nam bạc phước lìa trần,

          Con trai, con rể tranh phần,

2324. Triều cung hỗn loạn, quần thần láo lơ!

 

          Chế Mộ qua kinh đô Ðại-Việt

          Xin giúp quân tiễu diệt Bồ-Ðề;

          Quan quân gươm giáo sáng lòe,

2328. Lệnh vua, đưa họ Chế về Chiêm kinh.

 

          Binh Ðại-Việt vào ranh Cổ-Lũy (228)

          Gặp Bồ-Ðề bộ, kỵ tràn ra;

          Than ôi! hùng khí Ðông-A

2332. Ðành chôn dưới ngọn tháp ngà không tên.

 

          Chế Mộ nuốt ưu phiền mà chết,

          Giải biên thùy Chiêm-Việt khói bay;

          Ðồ-Bàn sóng dậy từ đây

2336. Mười ba năm lẻ mấy ngày bình yên (229).

 

          Chiếu Thăng-Long lệnh truyền chinh phạt

          Cõi Nam thuỳ gió cát tuôn mây;

          Tử-Bình men rặng núi Tây,

2340. Thế-Hưng thẳng lối chim bay tiến vào.

 

          Miền Chiêm-Ðộng (230) gió gào lửa hận

          Quân Ðồ-Bàn say trận tràn lên,

          Bãi hoang, đồi núi, lâm tuyền,

2344. Rợn nghe tiếng hú oan khiên vọng về.

 

          Quân Chiêm-Thành bốn bề vây chặt,

          Trần Thế-Hưng vỡ mật sa cơ;

          Hậu quân trở giáo cuốn cờ,

2348. Ðỗ Tử-Bình kéo quân thua chạy về.

 

 

* Việc Dương Nhật-Lễ lên nối ngôi (1369 -1370)

 

          Quân thế đã muôn bề bạc nhược,

          Dân tình càng sa sút héo hon,

          Vua thì mải giấc Vu-Sơn

2352. Hại thay thác xuống không con nối dòng.

 

          Cung Ðịnh Vương cũng trong huynh đệ (231)

          Ðược triều đình cử thế Dụ Tông;

          Huệ-Từ Thái-hậu bất đồng

2356. Lập Dương Nhật-Lễ khác dòng lên ngôi.

 

          Nhật-Lễ vốn con người kép hát

          Tên Dương-Khương lưu lạc kinh kỳ;

          Vợ thời cũng kẻ ca nhi,

2360. Mặt hoa da phấn, dung nghi diễm kiều.

 

          Cung Túc Vương mến yêu nhan sắc

          Ðem về cung hoan lạc vui vầy;

          Ong kia trước đã đậu đài (232)

2364. Kết nhành Nhật-Lễ xinh trai, tốt lời.

 

          Dụ Tông mất, không người thừa kế

          Di chiếu cho Nhật-Lễ nối ngôi;

          Huệ-Từ cũng khéo nực cười,

2368. Bỏ dòng tôn thất lập người tha phương!

 

          Cuộc hi hữu hí trường chưa hết,

          Nhật-Lễ lên Ðại-Việt Quốc-vương

          Bèn toan đổi lại họ Dương,

2372. Giết ngay Thái-hậu, Tĩnh-Vương họ Trần.

 

          Các Cung Vương xa gần tạm lánh

          Ðem quân về vây đánh hoàng cung,

          Diệt xong được đứa gian hùng,

2376. Mẹ thời lẩn trốn sang vùng Chiêm kinh.

 

          Chiêm vương rõ tình hình Ðại-Việt

          Bèn quyết sang tiễu diệt Thăng-Long!

          Bấy giờ triều đã định xong

2380. Cung Ðịnh Vương, Phủ, nối dòng lên ngôi.