Trần Anh Tông (1293-1314)

 

*Thời thịnh trị.

 

          Ngày xuân nhớ Võ-Lâm chùa cũ,

          Nhân Tông thăm Yên-Tử núi xưa;

          Vui hồi chuông sớm mõ trưa

2100. Xe loan đổi cỗ đại thừa độ duyên (209).

 

          Vua truyền Thái-tử Thuyên nối nghiệp,

          Về Thiên-Trường trông việc quốc gia.

          Anh Tông hiếu hạnh, khoan hoà

2104. Tuy bề phóng túng, hào hoa khác người.

 

          Một hôm trót vui chơi quá chén,

          Thượng hoàng về ngự đến triều đường;

          Kịp khi tỉnh giấc quỳnh tương

2108. Bá quan về hội Thiên-Trường đã lâu.

 

          Vua cả sợ vó câu vội vã,

          Ngoài hoàng cung gặp gã tú tài,

          Nhìn ra cũng khách vãng lai

2112. Họ Ðoàn, chữ gọi Nhữ-Hài quen tên.

 

          Vua nắm áo kéo lên rong ruổi,

          Mượn viết bài tạ tội biểu văn;

          Ngày đêm nào dám dừng chân

2116. Thiên-Trường kịp hội quần thần may ra.

 

          Nghề nghiên bút tài hoa kẻ sĩ,

          Thượng hoàng toan nghiêm trị Anh Tông,

          Biểu văn xem lại khoan hồng,

2120. Vua thôi, từ đấy sạch không rượu chè (210).

 

          Việc quốc trị, gia tề cũng giỏi,

          Phép nước nghiêm khắp cõi bình yên,

          Ðống lương nhiều bậc tôi hiền

2124. Ðĩnh-Chi, Trung-Ngạn ... danh truyền sử xanh (211).

 

          Lại kể những tinh anh thuở trước,

          Nay mái đầu đã bạc gió sương,

          Trước là danh tướng Chương-Dương (212),

2128. Sau là Hưng-Ðạo Ðại-Vương lánh trần (213).

 

          Ðất nước phải mấy lần giặc giã,

          Quân Lào sang quấy phá Nghệ, Thanh

          Vua từng mấy trận thân chinh

2132. Sau Phạm Ngũ Lão xuất binh tiễu trừ.

 

 

* Mối duyên Chiêm-Việt:

 

Việc gả Huyền-Trân công chúa.

 

 

          Năm Tân-Sửu (dl.1301) vân du Chiêm quốc,

          Vua Nhân Tông dạo bước Ðồ-Bàn,

          Gặp người quân trưởng Chế Mân,

2136. Thượng hoàng hứa gả Huyền-Trân cho chàng.

 

          Mây ngàn dậm thêu trang tình sử,

          Khói biên thuỳ dệt chữ thuỷ chung,

          Thuyền quyên sánh khách anh hùng

2140. Ngàn năm cây quế giữa rừng còn reo! (214)

 

          Sứ Chiêm đến Trần triều nạp lễ,

          Lại dâng thêm Ô, Lý hai châu.

          Bẽ bàng thay cuộc nông sâu,

2144. Kẻ trông ngàn dặm, người đau tấc lòng. (215)

 

          Năm Bính Ngọ (dl.1306) Thăng-Long cử sứ

          Ðưa Huyền-Trân công chúa lên đường;

          Hai châu Ô, Lý biên cương

2148. Ðổi thành Thuận, Hoá rộng phương nam thuỳ.

 

          Ðoàn Nhữ Hài vừa khi trấn nhậm,

          Việc trị bình còn lắm đa đoan,

          Bỗng thì tin dữ bay sang

2152. Người kia mà khách đông sàng (216) còn đâu.

 

          Tục hoả táng thay câu hương lửa,

          Các hậu, phi, ngự nữ đốt theo;

          Thương thay một đoá thuỵ kiều

2156. Chưa say chén ngọc đã thiêu gan vàng!

 

          Vua Anh Tông bàng hoàng thương sót

          Sai Khắc-Chung lập chước tháo thân;

          Ngựa hồng vượt lối Hải-Vân

2160. Viếng tang mà đón Huyền-Trân trở về.

 

          Duyên kia đã lỗi bề tơ tóc,

          Ðất nọ thì ngang dọc còn đâu;

          Dân Hời ngơ ngẩn nhìn nhau,

2164. Quân Chiêm tức giận hai châu tràn vào.

 

          Binh Ðại-Việt gươm đao tiến xuống,

          Anh Tông cùng chư tướng điều quân,

          Trần Khánh-Dư với Quốc-Chân

2168. Vượt châu Ô, Lý đã gần Chiêm kinh.

 

          Bắt Chế Chí, an bình Chiêm quốc

          Cử A-Bà trị nước thay anh;

          Hùm kia thất thế cũng đành

2172. Nam sơn gởi lại, Bắc thành lưu vong! (217)