|
Lư
Thánh Tông (1054 - 1072)
* Đổi
quốc hiệu là Đại-Việt: thời toàn thịnh của nước nhà.
Trải mưa nắng
mấy mùa dầu dăi,
Sen Tây hồ nay
lại trổ bông,
Đắm say ngàn
biếc chen hồng,
560. Vành khuyên thỏ
thẻ, bướm ong tự t́nh.
Năm Long-Thụy
Thái-b́nh mở hội,
Lư Thánh Tông
lên nối ngôi vua
(104),
Ơn trời ḥa gió
thuận mưa,
564. Vườn xuân Văn-Hiến
được mùa trổ hoa.
Nước từ nay gọi
là Đại-Việt
(105),
Dân bây giờ
càng biết văn phong,
Phạm nhân cũng
được khoan hồng,
568. H́nh quan cũng
được dậy ḷng thanh liêm.
Định quan chế,
trang nghiêm phẩm phục,
Soạn binh thư,
bổ túc quân cơ
(106),
Nổi danh binh
chế bấy giờ
572. Tống triều cũng
phải thăm ḍ học theo.
Cửa từ bi cũng
nhiều công đức,
Chẳng những xây
mấy bậc phù đồ,
Dựng bia Phật ở
Tiên-Du,
576. Mà c̣n thương xót
trùng tu ḷng người.
Nền Nho học đến
thời vinh vượng,
Thờ thánh hiền,
đắp tượng Chu-Công,
Xây miếu Khổng
ở Thăng-Long,
580. Khơi nguồn đạo
sống từ trong luân thường
(107).
* Chính
sách biên thùy: Cứng rắn với phương Bắc, mở rộng bờ cơi về phương Nam.
* Lư
Thường Kiệt b́nh Chiêm.
Việc giao hiếu
Bắc phương cũng khéo,
Hội Ung-Châu dễ
chịu kém ai;
Năm xưa Tống
tướng Bảo-Tài
584. Bị quân Việt bắt ở
ngoài biên cương...
Nay Tống phái
Thị-lang Dư-Tĩnh,
Đến Ung-châu
bàn định thảo thương;
Việt không trao
trả họ Dương
588. Hiển nhiên đă có
chủ trương Bắc thùy (108).
Người Chiêm
quốc lắm khi quật khởi,
Vượt biển khơi
gây rối ven duyên;
Tiền triều hai
cuộc chinh yên
592. Vẫn chưa nguôi chí
cương kiên phục thù.
Từ dạo Tống cho
mua lừa ngựa,
Ban bảo câu,
nâng đỡ tinh thần,
Giúp ngầm lực
lượng Chiêm quân,
596. Chiêm vương Chế Củ
định phần tuyệt giao.
Thế là cuộc
binh đao Chiêm-Việt
Do Lư triều
Thường Kiệt thảo nghiên
Bệ rồng nay đă
dâng lên,
600. Vua cho chuẩn bị
chiến thuyền vượt khơi
(109).
Năm bữa tới
chân trời Nhật-Lệ
(110)
Thuỷ lực Chiêm
ra bể cản nghênh,
Rồng thiêng một
trận tung hoành
604. Ba đào thắt đă an
b́nh như không.
Bốn ngày tới
Tư-Dung duyên hải,
Thêm ba ngày
Thị-Nại hiện ra,
Mênh mông một
giải cát ngà,
608. Việt quân đổ bộ
vượt qua chiến hào.
Tướng Chiêm dựa
Tu-Mao dàn trận
(111),
Quân Thăng-Long
thừa vận tràn lên,
Ầm ầm thác đạn
mưa tên,
612. Việt quân rầm rộ
thẳng miền kinh đô.
Chế Củ thấy cơ
đồ đă nát,
Bỏ kinh thành
lưu lạc Nam phương;
Việt quân đuổi
đến cùng đường,
616. Vua Chiêm phải dắt
vợ con xin hàng
(112).
Thành Phật-Thệ
thêm trang quốc phá,
Hận Đồ-Bàn vay
trả rồi đây,
Vua tôi năm vạn
bó tay,
620. Mây thành theo
ngọn gió bay thảm sầu!
Đoạn trường có
qua cầu mới biết,
Khí hùng thời
oanh liệt c̣n đâu,
Mũ gai, áo vải
gục đầu,
624. Theo xe vua Lư mà
đau nỗi nhà!
Chiêm vương
phải dâng ba châu huyện
(113)
Mới được cùng
gia quyến hồi hương;
Từ nay Đại-Việt
hùng cường,
628. T́m đường Nam tiến,
mở mang Nam thuỳ
(114).
* Ỷ-Lan
Thái phi.
Lư Thánh Tông
khi về cơi phúc,
Thái tử là
Càn-Đức nối ngôi.
Nhân Tông đang
thuở thiếu thời,
632. Buông rèm giám
quốc ấy người Ỷ-Lan
(115).
Thái-sư Lư
Đạo-Thành phụ chánh,
Vốn vẹn toàn
đức thịnh tài cao;
Vơ thần thêm
bậc lược thao
636. Một tay
Thường-Kiệt trào đ́nh vững yên
(116).
Nay nhắc chuyện
nhân duyên thuở trước,
Buổi thái hoà,
dân nước b́nh an;
Thánh Tông phải
nỗi muộn màng
640. Mới cầu tự khắp
chùa làng, miếu kinh.
Một hôm ngự
phương đ́nh Thổ-Lội
(117),
Cho bàn dân
chiêm bái long nhan;
Thôi th́ nô nức
hân hoan,
644. Trẻ già, trai gái
mấy làng chen nhau.
Hương đồng nội
hoa cau thanh thoát,
Sắc quê mùa
xanh ngát vườn ai,
Có người thôn
nữ trâm cài,
648. Thản nhiên dựa bụi
lan đài hái dâu.
Cảnh xa mă
trước sau chẳng ngó,
Sắc khuynh
thành chưa tỏ dung nhan;
Vua bèn vời đến
hỏi han,
652. Mới hay ngôn hạnh
đoan trang tuyệt vời.
Trúc xanh ngắm
càng tươi nét trúc,
Lan nụ nh́n
thêm tạc vẻ lan;
T́nh trong thôi
đă chứa chan,
656. Vua cho xa mă vời
nàng về kinh.
Yến nương vốn
thông minh ưu tú,
Chẳng bao lâu
kinh sử lầu thông,
Nào hay người
chốn ruộng đồng,
660. Cũng trang liệt nữ
đứng trong đất trời.
Khi thuyền ngự
vượt khơi Nam tiến,
Mấy tháng trời
chinh chiến cầm quân,
Ỷ-Lan giờ bậc
phu nhân
664. Sau rèm định việc
quân thần thay vua
(118).
Nay tự quân mới
vừa bẩy tuổi
Nước nhà lâm
thời buổi khó khăn,
Trong th́ chính
kiến đôi phân
(119),
668. Ngoài th́ giặc
Tống chuyển quân đắp đường.
Thái -phi vẫn
cương cường trung chánh
Vừa dậy con vừa
gánh sơn hà
(120);
Mới hay trong
đạo đàn bà
672. Tam ṭng, tứ đức,
nước, nhà ... dễ đâu.
Thế mới biết
nối sau Trưng, Triệu
Khách má hồng
nào thiếu tinh hoa;
Lẽ thường cọp
chết để da,
676. Tiếng thơm là cái
người ta để đời.
|