Lư Thái Tông (1028 - 1054)

 

* Lê Phụng Hiểu dẹp loạn triều đ́nh.

 

 

          Vua Thái Tổ mới vừa tạ thế (87),

          Trong hoàng triều huynh đệ tranh ngôi.

          Đông-cung tuy đă định rồi,

448.   Nọc tham xui khiến ḷng người đảo điên.

 

          Bởi sẵn nắm binh quyền vây cánh,

          Vơ-Đức vương, Dực-Thánh, Đông-Chinh

          Mang quân vây kín thành kinh,

452.   Triều cung rối loạn, dân sinh phiền hà.

 

          Đau xót cảnh nồi da xáo thịt,

          Gánh cương thường dẫu biết nặng vai,

          Trong hàng Vơ vệ có người

456.   Chỉ gươm dơng dạc mấy lời trung ngôn:

 

          "Các ngươi trước quên ơn tiên đế,

          Sau sinh ḷng khi dễ tự quân;

          Đă không giữ đạo quân thần,

460.   Vậy Lê Phụng-Hiểu xin dâng gươm này!".

 

          Quát một tiếng chém ngay Vơ-Đức,

          Ṿng trùng vi lập tức vỡ tan,

          Đông-Chinh, Dực-Thánh kinh hoàng,

464.   Buông gươm bỏ giáp dậm ngàn cao bay.

 

          Lư Phật-Mă lên thay ngôi vị (88),

          Vốn am tường chính trị, lược thao,

          Thái Tông cũng bậc anh hào

468.   Đáng cho hậu thế liệt vào minh quân.

 

          Vua v́ đạo quân thần, cốt nhục

          Lấy khoan dung mở đức hiếu sinh;

          Một nền Đồng-Cổ u linh

472.   Treo cao Hiếu, Nghĩa, Trung, Trinh sáng ngời (89).

 

          Năm hoạn nạn cứu người nghèo đói,

          Lại thường khi xá tội giải oan,

          Sửa điều luật pháp đa đoan

476.   Đúc tiền Minh-Đạo, sửa sang cầu đường.

 

         

* Giặc Nùng : Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao

 

 

          Mười năm lẻ bốn phương phẳng lặng,

          Giải Trung châu mưa nắng thuận hoà,

          Đất bằng bỗng nổi can qua

480.   Một miền sơn cước chàm pha máu đào.

 

          Đất Quảng-Nguyên bấy lâu nội thuộc,

          Nay biến thành cơi nước Tràng-Sinh (90);

          Người Nùng một thuở liệt oanh,

484.   Vạch riêng bờ cơi, đắp thành chiêu quân.

 

          Năm Minh-Đạo Mậu Dần (dl.1038) vừa lúc

          Người Nùng tên Tồn-Phúc quật cường

          Xưng là Chiêu-Thánh Đế-vương

488.   Ngang nhiên chống lại triều đường Thăng-Long (91).

 

          Đầu Kỷ Măo Thái Tông ngự giá,

          Tiến quân vào biên địa Quảng-Nguyên,

          Đạp bằng một giải lâm tuyền,

492.   Bắt Nùng Tồn-Phúc dẹp yên cơi bờ (92).

 

          Ngọn sóng gió vẫn chưa chịu lắng,

          Vợ con c̣n mật đắng nấu nung;

          Trí-Cao cũng kẻ anh hùng,

496.   Quật cường chiếm lại một vùng Đảng-Ro (93).

 

          Đại-Lịch quốc lập cơ nghiệp mới,

          Vạch sơn hà, chí nối cha anh.

          Thái Tông lần nữa thân chinh,

500.   Bắt rồi lại thả chẳng đành chu di (94).

 

          Mười năm thoáng qua đi như chớp

          Nùng Trí-Cao lập nước Đại-Nam

          Xưng Nhân-Huệ Đế Thánh -hoàng (95)

504.   Lâm tuyền lại đổi sa tràng, thảm chưa!

 

          Quách Thịnh-Dật xuất sư tiễu giặc,

          Hai bên cùng tổn thất bất phân.

          Trí-Cao bèn cử sứ thần

508.   Xin quy phục Tống toan phần dựa nương.

 

          Triều đ́nh Tống t́m phương cự tuyệt,

          Nùng Trí-Cao bèn quyết điều quân,

          Tiến sang vây hăm Ung, Tân

512.   Tràn binh chiếm lấy phủ thành tám châu (96).

 

          Vua Đại Tống toan cầu nhà Lư

          Khởi Nam quân b́nh trị biên đ́nh.

          Bấy giờ Tống tướng Địch-Thanh

516.   Can, xin Lưỡng Quảng cử binh đánh vào.

 

          Quân Lưỡng Quảng binh đao chểnh mảng

          Khiến Tống triều hốt hoảng càng thêm;

          Trí-Cao dâng biểu ngang nhiên

520.   Đ̣i phong Tiết-độ hai miền Quư, Ung.

 

          Thế mà Tống toan ưng cho ổn,

          E đánh càng hao tổn thiệt thua.

          Địch-Thanh lần nữa can vua,

524.   Xin cầm quân lệnh liệu mà phản công.

 

          Tống Địch-Thanh vốn ḍng danh tướng,

          Cầm đại quân trụ vững như non,

          Đợi khi giặc đă mỏi ṃn

528.   Mới điều quân, cửa Côn-Lôn đánh vào.

 

          Giặc đang lúc trí kiêu ư măn,

          Chia tướng tài phân tán đại binh;

          Vừa toan bổ cứu t́nh h́nh,

532.   Kỵ binh Tống đă cắt ngang bên sườn.

 

          Hoàng Sư-Mật tử thương trên ngựa,

          Nùng Trí-Cao nổi lửa bỏ thành.

          Vạn quân phút đă tan tành,

536.   Ngổn ngang chiến địa một vùng tang thương! (97)

 

 

* Lư Thái Tông đánh Chiêm, vào thành Phật-Thệ.

 

 

 

          Lại nhắc chuyện Chiêm vương ngày trước,

          Dưới tiền triều gây cuộc binh đao (98).

          Hai mươi năm lẻ về sau,

540.   Chưa nguôi khói lửa siết bao hăi hùng.

 

          Năm Giáp Thân (dl.1044) Thái Tông ngự giá,

          Mang chiến thuyền qua cửa Ngũ-Bồ;

          Tướng thành, ôi vạn cốt khô!

544.   Việt quân dẵm nát cơ đồ nước Chiêm (99).

 

          Cảnh quốc phá càng thêm tan nát,

          Phản tướng Chiêm hạ sát vua Chiêm (100);

          Bó thân hàng trước trận tiền,

548.   Kinh thành Phật-Thệ lại phen điêu tàn (101).

 

          Quân Việt bắt mấy ngàn người ngựa,

          Cùng Chiêm triều nhạc nữ, vương phi (102)

          Ngự thuyền rong ruổi về quê,

552.   Rượu vui vua bắt Mỵ-Ê sang chầu.

 

          Đau nhục nước ḷng sầu dạ hận,

          Mảnh chăn chiên gói phận thuyền quyên,

          Nước sâu rửa sạch ưu phiền,

556.   Nêu cao tiết liệt lưu truyền ngàn thu (103).