Lư Nhân Tông (1072 - 1127):

 

*Triều đại hùng cường, đánh Tống b́nh Chiêm.

 

 

          Khi Càn-Đức lên ngôi cửu ngũ,

          Pḥ Lư triều văn vơ trung lương,

          Lập nên triều đại hùng cường,

680.   Văn tài hiển đạt, vơ công rạng ngời.

 

          Tuy chinh chiến chẳng dời chính trị,

          Ngoài đê điều trị thủy ích dân,

          Vua c̣n xứng bậc anh quân,

684.   Mở khoa chọn kẻ chính nhân hiền tài (121).

 

          Lớp sĩ tử chen vai từ đó,

          Khoá Tam-trường rộng mở Nho tâm;

          Quốc-tử-giám, viện Hàn-lâm

688.   Là nơi kiến tạo mống mầm quốc gia.

 

          Kẻ trên ngựa xông pha cũng lắm

          Đem máu đào tô thắm non sông

          Thời nay con cháu Lạc-Hồng

692.   B́nh Nam đánh Bắc chiến công chưa từng.

 

 

* Lư Thường Kiệt đánh Tống

 

 

          Nguyên, Tể-tướng Tống Vương An-Thạch

          Nuôi hùng tâm quét sạch biên thùy,

          Cử người Thẩm-Khởi chỉ huy,

696.   Toàn vùng biên địa tùy nghi tiến hành (122).

 

          Thẩm ban lệnh tuyển binh lập trại,

          Đắp cầu đường, triệt thoái biên dân,

          Sung công thuyền muối tập quân,

700.   Xuất tiền mua chuộc thành phần nước đôi (123).

 

          Việc chuẩn bị đang hồi tiến triển

          Bỗng xẩy cơn binh biến Hạ, Liêu

          Quảng, Ung ta thán cũng nhiều

704.   Cho nên việc đánh Lư triều tạm ngưng.

         

          Lư lên tiếng đ̣i Nùng Thiện-Mỹ

          Đem về triều xử trị dậy răn;

          Kẻ kia chưa chịu phân trần

708.   C̣n thêm chiêu dụ thích thân họ Nùng.

 

          Cuộc Bắc phạt đă trong định kế:

          Thủy quân từ cửa bể Đồ-Sơn,

          Chiến thuyền dựa vách núi non

712.   Tiến lên đánh úp thủy đồn Khâm-Châu.

 

          Lục quân cũng ba đầu Bắc tiến,

          Từ Quảng-Nguyên, Cổ-Vạn, Quảng-Lăng;

          Đại quân thẳng nẻo Tư-Minh,

716.   Hợp cùng thủy lực đánh thành Ung-Châu.

 

          Lư Thường-Kiệt cầm đầu hạm đội,

          Tôn Đản thân phân phối lục quân;

          Việt quân mười vạn giáp nhân

720.   Tràn lên tựa ngọn sóng thần bủa vây.

 

          Pḥng tuyến địch Quảng-Tây tan vỡ

          Mặt Đông-Nam toàn bộ tan tành.

          Lục quân Đại-Việt tung hoành,

724.   Bảy ngày đă tới vây thành Ung-Châu.

 

          Quân thủy lực càng mau tốc chiến,

          Đánh tràn vào ven biển Quảng-Đông,

          Khâm, Liêm hai mặt tiến công,

728.   Ung-châu thoắt đă ở trong tầm nh́n.

 

          Tống triều mới hay tin hoảng hốt,

          Hạ lệnh cho sĩ, tốt, quân, dân;

          Khắp nơi tử thủ liều thân,

732.   Chờ quân tiếp viện Quế, Tân đổ về.

 

          Trời tháng chạp lạnh tê chiến băi,

          Tuyết pha màu quan tái thê lương,

          Nửa đêm trống giục đoạn trường,

736.   Thành Ung thôi đă vô phương sống c̣n!

 

          Quân tiếp viện mỏi ṃn chẳng thấy,

          Phút tử ly trông đấy mà đau.

          Tô-Giàm mượn ngọn lửa sầu,

740.   Đền xong nợ nước vẹn câu anh hùng (124).

 

          Quân Lư đánh hỏa công tiêu diệt,

          Dân thành Ung một chết không hàng.

          Thương thay mấy vạn hồn oan ,

744.   Ghi trong chiến sử một trang năo ḷng!

 

          Việc đánh Tống cũng trong chiến sách,

          Cốt phá tan kế hoạch Nam chinh.

          Tháng ba vừa tiết Thanh-Minh,

748.   Lư Thường Kiệt kéo đại binh trở về.

 

 

* Nhà Tống phục thù.

 

 

          Việc châu chấu đá xe gây hấn

          Khiến Tống vương nổi trận lôi đ́nh,

          Cấp thời kén tướng điểm binh,

752.   Xuất quân tinh nhuệ Nam chinh phục thù.

 

          Quân Đại-Việt c̣n chưa cởi giáp,

          Lấy binh nhàn cường tập sau lưng,

          Hai bề Nam Bắc giáp công,

756.   Ấy là kế sách bàn trong Tống triều.

 

          Cử Triệu Tiết làm Chiêu-thảo-sứ

          Cùng Quách Quỳ chức Phó nguyên nhung

          Cờ bay, tám vạn binh hùng

760.   Hội quân Chiêm, Lạp trùng trùng kéo sang.

 

          Thuyền Tống ngược tiểu giang Như-Nguyệt,

          Gặp thủy quân Đại-Việt đón đường,

          Việt quân làm chủ chiến trường

764.   Đánh cho giặc Tống tổn thương hơn ngàn.

 

          Đại quân Tống tiến sang sông Nhị

          Cũng bị quân nhà Lư bổ vây;

          Ầm ầm sóng dập, tên bay,

768.   Lửa chan mặt sóng, khói dầy cồn hoang.

 

          Trận mưa đá bắn sang như bấc,

          Chiến thuyền Nam thủng nát tơi bời,

          Mấy ngàn tử sĩ thây phơi,

772.   Hồn thiêng thét sóng đáp lời núi sông.

 

          Đêm băi chiến chập chùng sương cát,

          Nh́n trại thù san sát vây quanh;

          Bỗng nghe vang vọng âm thanh

776.   Từ đền Trương-Hát bên ghềnh khói lam:

 

          "Nước Nam Việt vua Nam làm chủ,

          Đă tiệt nhiên định ở Thiên thư;

          Kẻ kia xâm phạm cơi bờ

780.   Trước sau cũng bại, chỉ mua nhục nhằn!" (125).

 

          Lời sông núi muôn phần linh ứng,

          Thủy quân ta chặn đứng quân thù;

          Từ miền biên địa hoang vu,

784.   Đến vùng châu thổ dựng cờ phản công...

 

          Xuân vừa đấy đă nung lửa hạ,

          Cuộc tranh hùng chưa ngả hơn thua;

          Đầy đồng bao băi xương khô,

788.   Cỏ vàng chen lộn nấm mồ không tên.

 

          Buồn nghe giọng đỗ-quyên thảm thiết

          Nẻo quê nhà biền biệt thêm xa;

          V́ chưng thể diện quốc gia,

792.   Được thua cũng hổ tiếng là ngoại xâm.

 

          Triều đ́nh Lư biết tâm dạ giặc,

          Cử sứ thần sang Bắc nghị hoà,

          Cũng là điều Tống thiết tha,

796.   Ngày đi tám vạn nay đà nửa vơi.

 

          Đại quân Tống phải dời Nam thổ,

          Song rút về c̣n giữ mấy châu

          Quảng, Tư, Tô... mạn địa đầu (126)

800.   Hẳn mong vớt lại nửa câu anh hùng.

 

          Năm Mậu Ngọ (dl.1078) Nhân Tông cử sứ

          Sang Bắc triều nối sự bang giao;

          Năm voi đổi Quảng-Nguyên Châu,

804.   Mấy vùng c̣n lại cũng sau đ̣i về (127).

 

 

* Lư Thường Kiệt đánh Chiêm Thành.

 

 

 

          Nhắc lại việc trước khi đánh Tống

          Giặc Chiêm-Thành đă động binh đao.

          Dù chưa thoả chí lược thao,

808.   Hùng binh Lư đă tiến vào ba châu.

 

          Gần ba chục năm sau Lư Giác

          Lại gây mầm loạn lạc Nam biên;

          Quân triều đánh dẹp đă yên

812.   Nào ngờ Giác đă sang miền Chiêm vương.

 

          Chế Ma-Na quật cường nuôi chí,

          Nay được lời họ Lư hưng binh

          Mang quân lấy lại ba thành

816.   Ầm ầm kinh động triều đ́nh Thăng-Long.

 

          Việc chinh phạt nhọc công lăo tướng (128)

          Lại đem quân kéo xuống biên thùy.

          Chiêm vương bại trận khiếp uy

820.   Ba châu xin lại quy về nước Nam.