|
Lư Anh
Tông (1138 -1175)
* Việc
Đỗ Anh-Vũ và công nghiệp Tô Hiến-Thành
Thần Tông đă ra
người vạn cổ,
Thái-tử là
Thiên-Tộ nối ngôi.
Anh Tông đang
thuở ấu thời,
856. Bà Lê Thái-hậu ấy
người trị dân.
Bấy giờ kẻ cận
thần Anh-Vũ,
Vốn cùng người
quả phụ tư thông,
Lạm quyền tính
chuyện cuồng ngông,
860. Triều đ́nh thao
túng, cửa công kéo phường.
Bọn Vũ Đại,
Nguyễn Dương, Nguyễn Quốc,...
Đă toan v́ đại
cuộc trừ gian,
Chẳng may hành
sự đa đoan,
864. Cơ mưu bại lộ thác
oan mấy người.
Ấy có phải ḷng
trời xui khiến,
Mới gieo cơn
tai biến thử xem,
Hay là nhân
thuật đảo điên,
868. Mới gây nên nỗi
oan khiên lật lường?
May c̣n bậc
trung lương chính trực,
Gánh cương
thường tận lực pḥ nguy,
Mới qua bến
mộng bờ mê,
872. Nước nhà thoát
cảnh rẽ chia tương tàn.
Người ấy hiện
làm quan Thái-úy,
Tên Hiến-Thành,
nguyên thủy họ Tô
(129),
Chính là một
bậc chân Nho,
876. Thân dân, minh đức
chăm lo chuyên cần.
Khi quốc biến
cầm quân lên ngựa,
Lúc thái b́nh
khai hoá dân tâm;
Ngẫm trong sự
nghiệp ngàn năm
880. Cũng là một bậc
chính nhân đại hiền.
Nhờ vận nước đă
yên chính sự,
Bởi tôi hiền
giặc dữ gờm e;
Quân Lào, giặc
Hống đôi khi
884. Nhọc công đánh dẹp
đuổi về ngoại biên.
Riêng ở mạn
Thái-nguyên, Thân-Hợi
Tự xưng là hậu
bối Nhân Tông
(130),
Khởi binh chống
lại Thăng-Long,
888. Triều đ́nh đă phải
mấy công tiễu trừ.
Đỗ Anh-Vũ xuất
sư đánh giặc,
Thân-Hợi thua
bỏ mặt Phú-lương
Đưa quân lên
đóng Lạng-sơn,
892. Hiến-Thành đuổi
đến cùng đường đánh tan.
Từ đấy được
b́nh an trăm họ;
Năm Măo, Th́n
vua ngự long xa,
Thăm dân, xem
cảnh nước nhà,
896. Sai người lưu họa
quốc gia địa đồ
(131).
Thời ấy nước
gọi là Đại-Việt,
Từ Hán, Đường
vẫn liệt quận châu,
An-Nam gọi cũng
từ lâu,
900. Tống triều nay đă
bắt đầu đổi thay
(132).
An-Nam Quốc từ
rầy thay Phủ,
Phong Anh Tông
hai chữ "Quốc-Vương"...
Ở ngôi ba bảy
năm trường,
904. Vua Anh Tông mất,
ngôi nhường Cao Tông.
|