|
*
Cuộc tấn công lần thứ ba của quân Mông Cổ
(1287-1288)
Tin chiến bại ngang đầu sét đánh
Khiến Nguyên vương nổi trận lôi đình,
Truyền đem bọn tướng Nam chinh
1796. Lôi
ra chém chẳng vị tình thân sơ.
Triều thần những phân bua tha thiết
Mới chuyển lòng, tội chết tạm dung
Hầu cho chuộc tội lập công
1800. Bao
nhiêu bại tướng tạm mong sống còn.
Lúc ấy bởi bồn chồn phục hận,
Nguyên chủ ngưng việc đánh Phù-Tang;
Truyền cho ba tỉnh : Hoài Giang,
1804. Giang
Tây, Hồ Quảng sẵn sàng động binh (195).
Truyền thuỷ lục tận tình thao luyện,
Ðịnh sang đông tử chiến phục thù,
Lại truyền các tỉnh biên khu
1808. Khâm,
Liêm chuẩn bị trùng tu mở đàng.
Tin chiến sự bay sang phòng tuyến,
Lại một phen rung chuyển Thăng-Long;
Dẫu cho dạ sắt gan đồng
1812. Hai
vua không khỏi động lòng lo âu.
Bèn thỉnh Quốc-Tuấn vào vấn kế;
Vương tâu trình sự thể trước sau:
Giặc dù quyết trả thù sâu
1816. Cái
gương Toa, Lý dễ nào đã quên.
Nay quân ta kinh rèn chinh chiến,
Lại toàn dân nguy biến rõ thông,
Ngoài trong, trên dưới một lòng,
1820. Giặc
kia mạnh mấy phá không khó gì.
Bèn ban lệnh truyền đi khắp nước
Quân dân theo chiến lược sẵn sàng,
Chiến thuyền, võ khí, quân trang
1824. Rèn
binh nung chí quật cường kháng Nguyên.
Xuân Ðinh-Hợi (dl.1287) từ miền Hồ-Bắc
Thoát-Hoan đưa Ích-Tắc hồi hương,
Phong làm Ðại-Việt Quốc-Vương,
1828. Quân
ba mươi vạn lên đường tòng chinh.
Ngoài hàng ngũ hùng binh Mông-Cổ,
Còn Hán binh Bắc thổ lược thao,
Vân-Nam binh, mới tuyển vào,
1832. Lê
binh, thuỷ trận khác nào kình nghê.
Hàng dũng tướng thêm bề uy mãnh
Ái-Lỗ làm Hành-tỉnh Hữu thừa,
Bình-chương Lỗ-Xích (196) nào vừa,
1836. Bằng
Phi (197), Trương Ngọc, ... có thua oai hùm.
Quân Thoát Hoan Liêm, Khâm tiến phát,
Ðến Tư-Minh đã sát biên thuỳ,
Tiên phong Trương Ngọc, Lưu Khuê
1840. Binh
hùng hai vạn, thuyền bè năm trăm.
Hai vạn quân sơn thâm, lộ dịch
Theo Bằng-Phi, Lỗ-Xích kéo đi;
Hải thuyền: Phàn Tiếp, Mã-Nhi,
1844. Tướng
Trương Văn Hổ lo bề vận lương.
Mặt Vân-Nam do đường thuỷ lộ
Quân Hữu thừa Ái-Lỗ tiến sang
Vào sâu đến Ðại Tam Giang (198)
1848. Mới
dừng quân giữa chiến tràng giao phong.
Phía Nam quân bố phòng phân tán,
Tuyến Lạng-Sơn ba vạn tinh binh,
Tướng quân Duật, Khoái xuất chinh,
1852. Lập
đồn chặn ngõ Tư-Minh đón thù.
Trần Quốc-Toản trấn khu Thanh, Nghệ,
Cùng Phụ-Trần (199) bảo vệ tuyến Nam.
Các miền thuỷ khẩu, duyên giang
1856. Ðều
chia quân đóng sẵn sàng giao tranh.
Hưng-Ðạo Vương đóng thành Vạn-Kiếp
Tiện điều quân ứng tiếp mọi nơi.
Vừa khi tin trận cấp thời
1860. Quân
ta chạm địch bên ngoài Vạn-Ninh (200).
Tướng Trần Ða thua binh thất thế,
Ô
Mã-Nhi vượt bể tiến nhanh,
Lương thuyền chậm chạp hải hành
1864.
Trương Văn Hổ phải án binh giữa dòng.
Bộ binh giặc tấn công tỉnh Lạng,
Trịnh Bằng-Phi đánh xuống Lộc-Châu;
Ðại quân Hoan vượt tuyến đầu,
1868. Tràn
qua Khả-Lợi vào sâu chiến trường.
Thấy thế giặc bốn phương vây bủa,
Hưng-Ðạo về giữ cửa Ðại-Than,
Dựa vào Vạn-Kiếp dàn quân,
1872. Thoát
Hoan tràn tới đích thân công thành.
Liền Phả-Lại, Chí-Linh hỗn loạn,
Quân Bằng-Phi hai vạn tràn vào;
Mã-Nhi thời ngả Lục-Ðầu (201)
1876. Cùng
A-Bát-Xích vào sâu sông Hồng.
Quân Phàn-Tiếp tấn công tỉnh Bắc,
Ta chống không nổi giặc phải lui.
Bắc-Ðông mặt trận vỡ rồi,
1880. Ðồng
bằng sông Nhị nay nơi chiến trường.
Lại nói bọn gian vương Ích-Tắc
Theo gót thù lưu lạc Tư-Minh;
Gian thần Lê Tắc thân chinh
1884. Dẫn
Hầu Sư-Ðạt mang binh kéo về.
Chúng vượt nẻo sơn khê biên ải,
Phá Nội-Bàng tiến tới Bằng giang;
Năm ngàn binh mã tràn sang,
1888. Ta
dàn cung thủ chận ngang thủy đầu.
Làn tên độc đan mau tựa bấc,
Ngọn lửa thù vây chặt dường nêm;
Giao tranh cho đến nửa đêm
1892. Giặc
thua, Sư-Ðạt trúng tên lìa đời.
Bọn Lê Tắc sáu mươi người ngựa
Chạy thâu đêm xấp ngửa đảo điên.
Mờ sương tới ải Châu-Chiên
1896. Mới
hay về đến đất Nguyên sống còn.
Dời ải Bắc Lạng-sơn chốn cũ,
Trở về miền châu thổ sông Hồng;
... Tiến vào sông Cái mênh mông
1900. Quân
A-Bát-Xích tấn công bến Hàm.
Hàm-Tử mất mặt Nam trống trải,
Phòng tuyến Ðông triệt thoái còn chăng!
Quân Hoan tràn ngập đồng bằng,
1904. Trùng
trùng vây hãm thành Thăng bốn bề.
Hai tướng giặc Mã-Nhi, Bát -Xích
Hội chiến thuyền tấn kích Thăng-Long.
Quân ta đón giặc giao phong,
1908. Hai
vua tạm lánh vào vùng Hà-Nam.
Giặc Ô-Mã như sam bám chặt,
Quyết cùng đường đuổi bắt vua ta.
Ngự thuyền rong ruổi đã xa,
1912.
Mã-Nhi nổi giận quật nhà Chiêu-Lăng (202).
* Quân Trần phản công.
Xuân Mậu-Tí (dl.1288) muộn màng khói Tết,
Hoan rút về Vạn-Kiếp dưỡng quân.
Giặc lui ta lại tiến dần,
1916. Việt
quân lại đánh, vua Trần lại ra.
Cửa Ðại-Bàng binh ta thắng lớn,
Thu chiến thuyền vây khổn quân Nguyên,
Trời chiều rực ánh thiên nhiên,
1920. Mây
pha sắc máu, nước nghiêng dáng buồm.
* Trận Vân-Ðồn:
Trần Khánh Dư phá lương giặc.
Giặc càng đánh binh lương càng cạn,
Nuôi sao ba mươi vạn miệng công;
Cướp dân thì cũng như không,
1924. Vườn
hoang, nhà vắng, ruộng đồng xác xơ.
Thuyền Trương Hổ càng chờ càng bặt,
Bụng ba quân càng thắt càng đau;
Xông pha khói sóng bạc đầu,
1928.
Mã-Nhi đành vượt biển sâu đi tìm.
Trần Khánh-Dư hay tin nghênh cản,
Ô
Mã Nhi phá trận vượt qua;
Vân-Ðồn giặc đã đi xa,
1932.
Thượng-hoàng triệu Khánh-Dư về Thăng-Long.
Dư xin nán lập công chuộc tội,
Tính lương thuyền tất phải đến sau;
Quả nhiên vài bữa không lâu
1936.
Mã-Nhi quay mở đường vào cửa sông.
Dư để giặc ung dung vượt sóng,
Lặng lẽ chia quân đóng Lục đầu;
Thuyền lương chậm chạp tới sau
1940. Tiến
vào cửa Lục, chìm sâu lửa hồng !
Trương Văn Hổ Quảng-đông thoát chạy,
Trần Khánh Dư thu lấy binh lương,
Mang tin thắng trận lên đường;
1944. Vua
truyền xá tội tuyên dương công đầu.
Cùng Hưng-Ðạo mưu sâu định kế
Thượng hoàng cho lệnh thả tù binh;
Quân Hoan tin dữ cả kinh,
1948. Trận
công lương ấy tan tành tặc tâm.
* Trận Bạch-Ðằng:
Hưng-Ðạo đánh tan thuỷ lực giặc.
Tình hình giặc đã lâm ngõ bí
Ngày thiếu ăn đêm nghỉ không an,
Kéo nhau cướp bóc xóm làng,
1952. Còn
đâu hồn vía mà bàn quân mưu.
Tổng-quản nọ đặt điều tạm rút,
Thủy tướng kia bàn đốt chiến thuyền,
Om xòm tả hữu can khuyên,
1956. Càng
nghe thôi lại càng thêm rối mù.
Thoát Hoan mới truyền cho tướng sĩ
Tập trung quân chuẩn bị chiến hồi;
Ô, Phàn theo ngã biển khơi,
1960. Ðại
quân vượt bộ mà rời nước Nam.
Trần Hưng-Ðạo biết tâm ý giặc
Bèn điều quân chặn khắp lối về,
Bộ thì tận nẻo sơn khê,
1964. Thuỷ
thì cửa biển bốn bề lưới giương.
Lại theo kế Ngô Vương thuở trước,
Ðóng cọc ngầm dưới nước Ðằng giang;
Thuỷ triều đợi nước mênh mang
1968. Ta
đem thuyền nhẹ đánh sang thượng nguồn.
Khi triều xuống nước tuôn vội vã
Ta lui thuyền tất tả về xuôi,
Dụ cho thuyền giặc tới nơi
1972. Mới
quay thuyền lại chết thôi đánh tràn...
Vương theo kế mật bàn Nguyễn Khoái,
Lại chia quân chặn ải Nội-Bàng,
Rồi cùng chỉ xuống Hoá-giang
1976. Thề
không tan giặc không màng về sông!
Dòng Ðằng-giang mênh mông bát ngát,
Chiến thuyền Nguyên san sát theo nhau;
Vừa vào Chúc-Ðộng bến sâu,
1980. Quân
ta vượt sóng bạc đầu tấn công.
Lưu Khuê cậy quân đông thế mạnh,
Tung thuyền ra vây đánh quân Trần;
Tàn đêm lửa khói tan dần,
1984.
Thuyền ta bỏ chạy mười phần còn ba.
Quân Mã-Nhi tiến ra vừa lúc,
Nguyễn Khoái tung toàn lực tấn công;
Thuỷ triều lồng lộng dòng sông,
1988. Quân
Trần quẫy sóng giữa vùng lửa thiêu.
Chiến thuyền ta rút theo con nước,
Ô
Mã-Nhi toàn lực theo ngay;
Năm xưa cũng ở chốn này
1992. Vạn
quân Nam-Hán phơi thây còn truyền!
Quân Nguyễn Khoái quay thuyền tử chiến
Hưng-Ðạo Vương tiếp viện tăng cường,
Hai vua vừa tới tiền phương,
1996.
Ngũ-doanh-quân nhập chiến trường bổ vây.
Quân tướng giặc hồn bay phách lạc,
Chiến thuyền Nguyên lui nát tơi bời,
Chật dòng thây đổ máu rơi,
2000. Thiên
thu sóng vẫn ngậm lời thương tâm!
Ta thu được bốn trăm thuyền giặc,
Quân Ðỗ Hành đuổi bắt tướng Nguyên
Mã-Nhi, Phàn Tiếp lại thêm
2004. Tích
Lệ, Cơ Ngọc dâng lên Thượng hoàng.
* Truy kích Thoát Hoan:
Nay lại kể cánh quân đường bộ,
Nghe thuỷ quân đã vỡ tan tành,
Thoát Hoan mặt xám mày xanh,
2008.
Truyền quân nhổ trại khẩn hành tháo lui.
Chẳng mấy bữa đến nơi biên ải,
Vượt Nội-Bàng là tới Nữ-Nhi;
Bỗng đâu đá chạy cát phi
2012. Ðại
binh Ngũ-Lão đã thì bổ vây.
Thấy chủ soái hồn bay phách tán,
Tướng giặc là Trương Quán liều thân
Dẫn binh bản bộ ba ngàn,
2016. Bỏ
thây giải cứu Thoát Hoan vượt trùng.
Thảm thay đã thế cùng lực kiệt,
Từ Nội-Bàng tới miệt Bằng-giang
Ðường đèo trăm dậm quan san
2020. Quân
Trần như kiến chắn ngang lối về.
Ngựa truy kích nghe bề dồn dập,
Ải Nữ-Nhi, Khưu-Cấp còn xa;
Rừng chiều nắng quái, mây pha
2024. lưng
đèo, còn biết đâu là cố hương !
A-Bát-Xích mở đường huyết lộ,
Trương Ngọc mang bản bộ đột xung;
Thương thay cũng bậc anh hùng,
2028. Mũi
tên nào biết phân cùng lác lau!
Ðường dịch lộ xác cao từng đống;
Hoan tắt vùng sơn động trốn đi,
Tùy tùng còn Trịnh Bằng-Phi
2032. Ðược
người châu mục dẫn về Tư-Minh.
Áo Lỗ-Xích một mình một ngựa
Nhặt nhạnh thêm mấy đứa tàn binh,
Cũng về tới được Yên-Kinh,
2036. Thảm
thay giấc mộng viễn chinh kiêu hùng!
* Cuộc giải hoà với Nguyên triều.
Non nước Việt lại bừng xuân mới,
Khắp nơi nơi vui hội thái hoà,
Mục đồng nối khúc âu ca,
2040. Ruộng
xanh nắng nhuộm một và cánh chim.
Nhìn sông núi càng thêm chan chứa,
Xếp chiến bào nhớ thủa chuân chuyên,
"Nhọc nhằn thạch mã hai phen,
2044. Ngàn
năm non nước vững yên âu vàng" (203).
Giặc Nguyên đã kinh hoàng vỡ mật,
Song hận kia vị tất đã quên,
Ta dù chinh chiến từng phen,
2048. Nỗi
dân giặc giã triền miên ích gì.
Cuộc hoà hoãn thôi thì liệu thế,
Triều đình ta lấy lễ đãi thù,
Cử quan là Ðỗ Thiên-Thu
2052. Mang
đồ phương vật cống như thuở nào.
Kịp lúc ấy Nguyên trào cũng nản,
Việc binh đao ngao ngán đẩy đưa,
Căm gan dù cái nhục thua
2056. Cũng
đành nuốt hận mà mua cuộc hoà.
Song vị lẽ quốc gia vương thể
Ðòi Nhân Tông giữ lệ sang chầu,
Phái Trương Lập-Ðạo đại triều
2060. Sang
ta bàn định buộc điều ước trên.
Biện cư tang vua liền phúc đáp
Sai quan là Ðại-Pháp đi thay (204)
Năm sau biện lễ vật đầy
2064. Tử-Kỳ
vâng mệnh vua nay sang chầu ! (205)
Nguyên nổi giận câu lưu sứ giả,
Truyền tạm giam nơi ngả Giang-Lăng,
Lại truyền chuẩn bị binh lương,
2068. Cử
Lưu Quốc-Kiệt lên đường viễn chinh.
Bãi Trường-Sa hội binh Nam Bắc;
Bọn tớ thầy Ích-Tắc theo sau
Lòng đang khấp khởi bỗng đâu
2072. Hốt
Tất-Liệt đã vội chầu Diêm-Vương.
Nguyên Thánh Tông ngai vàng kế nghiệp,
Truyền khắp nơi bãi việc binh đao;
Bắc Nam nối cuộc bang giao,
2076. Sứ ta
cũng được hồi trào bình yên.
Năm Kỷ-Sửu (dl.1289) vua truyền ân xá,
Nguyễn Thịnh thân trao trả tù binh,
Tích, Cơ... đưa tận biên đình,
2080.
Phàn-Tiếp trả gói phù sinh tro tàn. (206)
Ô
Mã-Nhi bởi dân ta thán,
Lại chuốc thù gây oán đã sâu
Nên thuyền ra biển chưa lâu
2084. Sóng
yên gió lặng bỗng đâu mà chìm! (207)
Ðất bằng lẽ nào im sóng gió,
Triều đình Nguyên phẫn nộ hỏi tra;
Trần triều ngự bút đưa qua
2088. Gió
kia mới lặng, sóng đà tạm yên.
Lại xét cuộc kháng Nguyên gian khổ,
Người công nhiều kẻ lỡ tội mang;
Thượng hoàng đốt tráp biểu hàng (208)
2092. Mới
bình công tội hai đàng phân minh.
Từ đấy mối đao binh mới dứt,
Thượng hoàng về ẩn dật an cư;
Hạ tàn vui giấc thiên thu
2096. Bên
người áo vải, bên hồ tịnh tâm.
|