|
* Cuộc
xâm lăng lần thứ hai của giặc Mông Cổ
(1284-1285)
Thu Nhâm-Ngọ (dl.1282) từ trên xứ thượng,
Ngựa biên thùy ruổi xuống Thăng-Long;
Tin xa canh cánh bên lòng
1428. Còn
ngờ sét đánh giữa đồng bỗng dưng,
Năm mươi vạn binh hùng Mông-Cổ
Dưới soái kỳ thái-tử Thoát Hoan,
Trùng trùng tướng hổ quân lang
1432. Vó
câu sầm sập kéo sang biên thùy.
Lấy cớ mượn đường đi quá độ,
Giặc đem quân thủy bộ tràn qua,
Toan bề chiếm lấy nước ta
1436. Biến
thành quận huyện xóa nhoà biên cương.
* Hội nghị Bình Than:
Triệu tập các Vuơng hầu, văn võ.
Tình thế đã muôn đường khẩn cấp,
Vua bèn cho triệu tập tham mưu,
Triều đình văn võ vương hầu,
1440. Cuối
thu hội tại thủy đầu Bình-Than (176).
Khắp văn võ hoang mang sợ hãi,
Người bàn nên mở ải nạp lương,
Kẻ rằng nên biết tư lường,
1444. Hiến
dâng quý vật liệu đường hoãn binh.
Riêng đứng trước tình hình nguy biến
Có hai người quyết chiến chủ trương:
Một là Hưng-Ðạo Ðại Vương,
1448. Hai
là người chốn thảo đường, Khánh Dư (177).
Lúc ấy giận mình chưa đủ tuổi
Ðược họp bàn nghị hội kháng Nguyên,
Có người anh dũng thiếu niên
1452. Tên
Trần Quốc Toản xuất tiền mộ quân ...
Vua đã quyết liều thân cự giặc
Song còn e xã tắc suy vi,
Ngài bèn thân đứng chỉ huy
1456.
Truyền cho thủy lục hội về sông Thao.
Hai mươi vạn binh trao Tiết-chế
Phận nước nhà định vị từ đây,
Tướng tài mấy bậc xưa nay
1460. Hùng
uy Hưng-Ðạo đã dầy sử xanh.
Cuộc tập trận lưu danh thiên cổ,
Ðông Bộ Ðầu sóng vỗ quân reo,
Trùng trùng nước bạc buồm kiêu
1464. Giáo gươm sáng quắc, ráng chiều điểm son.
Trời Thăng-Long khói đùn mây thấp,
Ðường Lạng-sơn dồn dập vó câu,
Nam-Quan từ ải địa đầu
1468. Ðến
miền Thanh, Nghệ trước sau rộn ràng.
Trần Bình Trọng Bình-Than đóng ải,
Cửa Vân-Ðồn thủy trại Khánh Dư,
Ðại quân đóng ở Trung du,
1472. Xây
đồn Vạn-Kiếp tiến thu kíp thời.
* Hội nghị Diên Hồng:
Triệu tập các bô lão khắp trong nước.
Tết Giáp-Thân (dl.1284) mờ trời gió cát,
Ðại quân Nguyên đồng loạt tiến công,
Bộ từ Hồ-Quảng đột xông,
1476. Thủy
quân xuất phát từ vùng Quảng-Châu.
Trước tình thế hai đầu thọ địch
Hưng-Ðạo Vương thống lĩnh ba quân;
Riêng còn ngại nỗi toàn dân
1480. Ðồng
tâm hiệp lực chung phần nước non.
Từ sơn cốc, hương thôn, bộ thuỷ
Những bạc đầu trực chỉ Thăng-Long,
Ðáp lời dự hội Diên-Hồng,
1484. Trước
bàn quốc sự sau chung chuyện nhà.
Ngoài ải Bắc tin về dồn dập,
Cõi Nam thuỳ khẩn cấp quân đi;
"Sơn hà xã tắc lâm nguy,
1488. "Hoà
thì nước mất, chiến thì thân vong!"
Khắp bô lão một lòng xin đánh,
Khắp làng thôn một lệnh kháng Nguyên,
Vừa khi tin ở Bắc biên
1492. Thoát
Hoan quân đã đóng miền Nam-Quan.
Sai A-Lý chiêu an trá thuyết
Dụ mượn đường sang diệt Chiêm vương,
Sự thành tất có tuyên dương,
1496. Nhược
bằng chống lại miếu đường nát tan!
* Các mặt trận kháng Nguyên:
Trần Quốc-Tuấn căm gan đuổi sứ,
Chia quân ra trấn thủ địa đầu,
Khả-Li cùng ải Lộc-Châu,
1500. Các
vùng hiểm địa yết hầu Lạng-Sơn.
Bộ binh giặc hai đường bôn tập,
Ðông đạo vào Khưu-Cấp, Kỳ-Lừa;
Khưu-Ôn, tây đạo tràn qua;
1504. Ðại
quân nguyên soái chính là Thoát Hoan.
Lúc ấy đã đánh tan Khả-Lợi,
Quân Thoát Hoan tràn tới Nữ-Nhi,
Nội-Bàng thất thủ tức thì,
1508. Quân
Trần đại bại rút về Chi-Lăng.
Thuỷ quân Nguyên tiến sang Chiêm quốc,
Cốt đánh theo chiến lược gọng kìm,
Chiến thuyền đan chặt như nêm,
1512. Toa
Ðô tướng giặc tương truyền lược thao.
Trần Quang Khải kéo vào xứ Nghệ,
Khơi chiến hào phòng vệ mặt Nam.
Bấy giờ tình thế bất kham,
1516. Quân
Trần đã bỏ cửa thềm Lạng-Sơn.
Bộ quân lui về đồn Vạn-Kiếp,
Cùng thuỷ quân đóng miệt Bái-Tân (178).
Hay tin Hưng-Ðạo triệt quân
1520. Nhân
Tông thân đến ân cần hỏi han :
"Thế giặc mạnh muôn vàn khó cự,
Nếu đánh không khỏi sự thiệt thân;
Hay là cứu lấy muôn dân,
1524. Ðầu
hàng giặc dữ, đành phần kẻ trên ?"
Hưng Ðạo Vương nghe liền khảng khái:
"Bệ hạ vì nhân ái thương dân,
Dẫu rằng xã tắc thứ phần,
1528. Ví
không đất nước, nhân quần còn chi !"
"Nếu Bệ hạ muốn đi hàng giặc
Xin đầu tôi hãy chặt trước tiên !"
Nghe lời trung liệt mới yên,
1532. Nhân
Tông trở xuống khoái thuyền về kinh.
Khắp đất nước triều đình điều động
Bỏ vườn không nhà trống tàn hoang;
Truyền từ quân đội, dân gian
1536. Ðánh
thua bỏ trốn, không hàng giặc Nguyên.
* Hội nghị Vạn-Kiếp:
Hội nghị quân sự, triệu tập võ quan các cấp.
Sau mặt trận Bắc biên thất thủ,
Bổ sung thêm hàng ngũ ba quân,
Vẫn hai mươi vạn giáp nhân,
1540. Lấy
từ các lộ xa gần Ðông Nam (179).
Hội Vạn-Kiếp luận bàn chiến sách,
Cốt thấm nhuần kế hoạch dụng binh,
Lấy đoản trận chống trường chinh,
1544. Ðem
sức châu chấu mà rình đá xe.
Hưng-Ðạo lại khắp bề tướng sĩ
Ban hịch truyền lời lẽ thiết tha (180),
Cùng đem "Yếu Lược Binh Thư" (181)
1548. Ân
cần chỉ dẫn, trao cho ngẫm nghiền.
* Quân Mông Cổ tổng tấn công:
Ngày Mồng sáu tháng Giêng Ất-Dậu (dl.1285)
Ô
Mã Nhi dẫn đạo tiền quân,
Ðánh vào Vạn-Kiếp bất thần,
1552. Chiếm
núi Phả-Lại đã gần tuyến trong.
Tuyến phòng ngự Bắc-Ðông tan vỡ,
Thế giặc như thác đổ ghềnh cao;
Mặt từ duyên hải đánh vào,
1556.
Lạng-Sơn kéo xuống ào ào tiến quân.
Vua Nhân-Tông đích thân đốc chiến,
Giặc tràn vào như kiến càng đông,
Bên ta mười vạn đột xông
1560. Cản
không nổi sức tấn công tràn bờ.
Mạn Kinh-Bắc mịt mờ lửa khói,
Huyện Gia-Lâm gạch ngói tan tành,
Nhị Hà quân giặc tung hoành,
1564.
Ðông-Bộ-Ðầu mất, kinh thành lâm nguy.
Ðại quân ta rút về Nam ngạn,
Lập tuyến phòng ngự, án Thăng-Long
Thoát Hoan hạ lệnh tấn công,
1568. Ðạn
thù dầy đặc khói sông Nhị Hà.
Trận đại pháo quân nhà tan vỡ,
Bắc cầu phao giặc đổ qua sông,
Phá thuyền, áp đảo Thăng-Long,
1572. Quân
Trần thua phải xuôi dòng tháo lui.
Nhân Tông mới chọn người đi sứ,
Ðỗ Khắc Chung được cử sang thù,
Trước là hoãn chiến tạm tu,
1576. Sau
là dò xét thực hư địch tình.
Ô
Mã Nhi bất bình vấn nạt
Chuyện quân ta "Thát Ðát" khắc tay;
Khắc Chung ứng khẩu đáp ngay :
1580. "Phải
đâu Hàn-Tín mà bầy đánh Yên !
"... Kẻ hiền tướng càng nên chính trực,
Trước hiếu hoà, binh lực là sau;
Còn như ỷ mạnh bức nhau
1584. Dù
cho muông thú dễ đâu chịu hèn !".
Nhi lại dụ vua nên hàng giặc,
Ðể đại quân phương Bắc tràn qua;
Khắc Chung cứng cỏi chẳng vừa
1588. Ðành
thì một trận, hơn thua chắc gì !
Nay tình thế lâm nguy khó liệu,
Vua lại sai Nguyễn Hiệu trở qua,
Thoát Hoan nào chịu nghị hòa,
1592.
Truyền quân vượt giải Hồng-Hà tiến sang.
Thăng-Long mất kinh hoàng cả nước,
Ngày mười ba còn thuộc tháng Giêng;
Tính ra mới tám ngày liền
1596. Từ
khi quân giặc đánh miền Trung-Châu.
* Mặt trận Ðông-Nam :
Càng rõ địch mưu sâu tốc chiến,
Hưng-Ðạo càng cương kiện chủ trương,
Lui chủ lực xuống Thiên-Trường,
1600. Phò
hai vua tới Hải-Dương tuyến đầu.
Lại bố trí trước sau các ngả,
Vùng Nghệ-An, Thanh-Hoá biên khu
Do Trần Quang Khải Thái-sư,
1604. Hợp
cùng Kiện, Tắc (182) ngăn ngừa mặt Nam.
Mặt Nam, Mông chia làm hai cánh,
Bộ từ Chiêm : Bố-Chánh chiến trường
Toa-Ðô, Cổ-Ðới tiên phương,
1608. Hậu
quân tiếp đến Ðại-vương Giảo-Kỳ.
Ngoài biển : Ô Mã Nhi kịp tới,
Hợp bộ binh, thuỷ đội tấn công.
Máu xương rải khắp ruộng đồng;
1612.
Nghệ-An thất thủ, xứ trong còn gì !
Bọn Kiện, Tắc đã thì vô dụng,
Tướng Ðinh Xa, Tất Dũng tử thương;
Màn trời chiếu đất phơi sương,
1616. Quân
thua tướng bại trăm đường thảm thê !
Ðại Hoàng Giang, nói về mặt Bắc,
Thủy đội Trần vừa giặc đánh tan,
Vua tôi đang nhặt quân tàn,
1620. Văn
hầu Chiêu, Nghĩa (183) đã hàng địch quân.
Trở về bến Phú-Tân Thanh-Hoá,
Giảo-Kỳ sai Kiện phá quân nhà,
Vừa khi Quang Khải rút ra
1624. Quân
Trần tan vỡ máu hoà đỏ sông !
Trước tình thế vô cùng đen tối,
Vua sai đưa Quốc muội cho Hoan (184).
Thương thay lá ngọc cành vàng
1628. Ðành
đem đổi lấy một trang sử hùng !
Nghĩa làm dân gánh chung nam nữ,
Gương anh hùng ví thử mấy ai,
Kìa như Bình Trọng tướng tài,
1632. Thà
làm trung quỷ hơn loài gian vương (185) .
Chín tháng Ba bọn Ðường Cổ Ðới
Ðem chu sư (186) săn đuổi hai vua.
Ngự thuyền khôn giấu mẹo lừa,
1636. Mắt
tai ưng khuyển nào chừa áo nhung.
Nguồn Tam-Trĩ (187) sông cùng bể cạn,
Thuỷ-Trú thôn lánh nạn hai vua,
Theo đường Nam-Triệu (188) bến xưa
1640. Vượt
ra cửa biển chạy đùa xứ Thanh.
Giữa tháng Ba bọn Trần Ích-Tắc
Ðem toàn gia theo giặc lập công;
Vốn dòng con thứ Thái-Tông
1644. Vì
chưng vinh hiển tư thông giặc thù (189) .
Cảnh quốc phá kể từ Thanh, Nghệ
Ðến Trung châu kiệt quệ xác xơ,
Khắp nơi đồn ải quân thù,
1648. Cờ
bay rợp đất, chu sư kín dòng.
Phường cơm áo thay lòng đổi dạ,
Bậc trung lương vất vả lo toan;
Vua tôi lòng những ngổn ngang
1652. Bơ
phờ nhìn ngọn chỉ màng treo chuông.
Riêng Hưng-Ðạo Ðại-Vương sau trước,
Trong nguy cơ chẳng bước sờn lòng,
Vào ra vững tựa như đồng,
1656. Ðiều
binh khiển tướng phản công chờ giờ ...
* Quân Trần tổng phản công :
Trời vào tiết tháng Tư sang hạ,
Ve giục sầu ra rả thê lương,
Quân Nguyên quen ở Bắc phương,
1660. Bắt
đầu chạm với chiến trường nhiệt lưu.
Mưa từng trận tiêu điều ngọn cỏ,
Nắng từng cơn cháy vỡ thịt da,
Mình đồng dầu cũng người ta,
1664. Ốm
đau, dịch tễ chết là biết bao.
Quân dân ta bắt đầu phản kích,
Ðánh vào lòng quân địch ly hương,
Nơi thì bám chặt chiến trường,
1668. Nơi
thì đón giặc, phá lương, đốt thuyền.
* Trận Hàm Tử:
Trần
Nhật Duật thắng Toa Ðô.
Mặt trận Nam quân Nguyên bế tắc,
Toan đánh ra mạn Bắc hợp binh;
Vượt không nổi tuyến cản nghinh,
1672.
Toa-Ðô, Ô-Mã giương mành vượt khơi.
Trần Quang Khải tức thời cấp báo
Giặc Nguyên theo thủy đạo kéo lên.
Vua sai thu thập chiến thuyền,
1676. Cử
Trần Nhật Duật toàn quyền phản công.
Duật dàn trận bến sông Hàm-Tử,
Lại chia quân án ngữ ngoài khơi,
Quốc Toản, Nguyễn Khoái đồng thời
1680. Chặn
vùng Tây-Kết là nơi giang đầu.
Chờ quân giặc vào sâu trận tuyến,
Thuỷ quân ta toàn diện tấn công.
Quân reo rền trận trống đồng,
1684. Ngàn
lau bạt vía, núi sông giật mình.
Quân Toa-Ðô hải trình mỏi mệt,
Gặp quân Trần liều chết phản công;
Tòng chinh thêm tướng Triệu Trung (190)
1688. Vốn
người nước Tống theo cùng đánh Nguyên.
Giặc hoảng hốt lui thuyền tháo chạy,
Kéo binh thua lau sậy náu nương,
Ðóng quân ở bãi Thiên-Trường,
1692. Trong
ngoài nay đã tuyệt đường giao liên.
Trần Nhật Duật báo tin thắng trận,
Hưng-Ðạo Vương quyết đánh Thăng-Long.
Xẩy vừa nhẹ gánh xứ trong,
1696.
Thượng tướng Quang-Khải lập công xin về.
Lúc ấy đã yên bề Hoan, Ái,
Trường-Yên vua vừa lại thắng to,
Quân Nam được lệnh cuốn cờ,
1700. Âm
thầm thẳng nẻo kinh đô bôn trình.
* Trận Chương-Dương:
Trần Quang-Khải khôi phục Thăng-Long.
Trần Quang-Khải hội binh các lộ,
Chia hai đường thuỷ bộ tiến lên,
Trần Thông, Khả Lập, Nguyễn Truyền
1704. Cùng
Phạm Ngũ-Lão chiến thuyền vượt khơi.
Chủ lực giặc giữ nơi hiểm yếu,
Quân Thoát Hoan đóng nẻo Thăng-Long,
Chương-Dương thuỷ cứ lập xong
1708. Lẫy
lừng chế ngự toàn vùng Trung Châu.
Thuyền ta vượt thủy lưu duyên hải,
Nhập cửa ngòi sông Cái mù sương,
Tiến vào đến tận Chương-Dương
1712. Bất
thần thuỷ trại đối phương đánh tràn.
Thuỷ lực giặc kinh hoàng tan vỡ,
Thủy quân ta đổ bộ đuổi theo,
Thăng-Long tràn tới chiến hào,
1716. Quân
reo, trống thét, lửa gào hờn oan.
Quân bộ chiến Thoát Hoan xung trận,
Viện quân ta các trấn bổ vây,
Bốn bề trống thúc chiêng lay,
1720. Càng
cao tổn thất càng dầy giáo gươm.
Hoan rút chạy theo đường Kinh-Bắc,
Quang-Khải ban lệnh nhập Thăng-Long.
Quân dân siết nỗi tủi mừng,
1724. Chiến
bào tạm trút rượu hồng thưởng thơ (191).
* Trận Tây-Kết :
Giết Toa-Ðô, bắt 5 vạn quân Nguyên.
Tin thắng trận đến bờ Thanh, Nghệ
Vua tướng Trần vui vẻ hàn huyên,
Mang quân về đóng Trường-Yên
1728. Phòng
khi tiếp ứng khắp miền Trung Châu.
Lại kể truyện trận đầu tan vỡ,
Toa-Ðô lui đóng ở Thiên-Trường,
Sửa thuyền, chuẩn bị binh lương,
1732. Ðánh
lên Thiên-Mạc tìm đường hội quân.
Giặc chưa biết Thoát Hoan chủ lực
Ðã lui về Kinh-Bắc náu nương.
Ðánh không vào được Chương-Dương
1736. Ðô về
Tây-Kết tính đường thoát thân.
Trần Hưng Ðạo chia quân vây trại,
Hai tướng quân Duật, Khải chỉ huy,
Chiến trường lồng lộng trùng vi,
1740. Chim
kia khó thoát dễ gì trạch lươn.
Gươm đè sóng chỉ đường Tây-Kết,
Hưng-Ðạo Vương lẫm liệt uy nghi,
Hô quân xung trận nhất tề,
1744. Dưới
thuyền, trên bộ, hai bề giáp công.
Ðô khiếp vía băng đồng trốn chạy,
Bỗng gặp đâu một dẫy núi cao;
Còn chưa biết địa phương nào
1748. Quân
mai phục đã ào ào tên bay.
Bọc da ngựa thương thay danh tướng !
Phơi chiến hào vất vưởng bại quân !
Toa-Ðô đầu đã lìa thân (192),
1752. Lưu
Khuê, Ô Mã nhanh chân chạy dài.
Tàn quân giặc bôn lai Thanh-Hoá,
Hai vua theo khắp ngả truy lùng,
Mã-Nhi đến bước đường cùng,
1756. Ðành
nương thuyền nhỏ mà dung thân hèn ! (193)
Năm vạn mạng bon chen sĩ tốt,
Mẻ lưới đầy hao hụt cũng đang.
Hung tin đến bến Ðại-Mang
1760. Tổng
Quản Trương-Hiến ra hàng tướng ta.
* Trận Vạn-Kiếp :
Ðánh tan chủ lực giặc, kết thúc chiến trường.
Tin bại trận bay qua Kinh-Bắc
Khiến Thoát Hoan thất sắc kinh hoàng,
Vừa lui quân tới Bắc-Giang
1764. Truy
binh nào đã rộn ràng sau lưng.
Quân thám mã hãi hùng cấp báo
Rõ tướng kỳ "Hưng-Ðạo Ðại-Vương";
Thoát-Hoan thôi đã cuống cuồng,
1768. Chạy
ra Vạn-Kiếp tìm đường cao bay...
Nguyên, Vương đã bố bầy chu đáo
Truyền đạo quân Ngũ-Lão kéo đi,
Lại sai hai tướng Nghiễn, Uy (194)
1772. Ðiểm
quân ba vạn tiến về Quảng-Yên.
Sai chẹn lối quân Nguyên rút chạy,
Mai phục trong các bãi sậy lau,
Lại truyền các lộ trước sau
1776. Ðón
tàn quân giặc, chặn cầu, ngăn sông.
Quân Hoan cố băng đồng xuống biển,
Bị phục quân loạn tiễn thảm thương,
Nửa phần phơi xác chiến trường,
1780. Hậu
quân tháo chạy ngược đường Tư-Minh.
Liều thân cản truy binh tràn tới,
Tướng Lý Hằng hậu đội trúng tên.
Sa cơ chết tại trận tiền,
1784. Bên
ta thiệt mất tướng quân Trần Thiều.
Hàng ngũ giặc tiêu điều tán loạn,
Lý Quán gom năm vạn tàn binh;
A, Phàn hai tướng liều mình
1788. Ðưa
Hoan về ngả Tư-Minh đất nhà.
Lại gặp phải binh ta Uy, Nghiễn
Lý Quán trong loạn tiễn mạng vong.
Thoát Hoan chui trốn ống đồng,
1792. Tàn
binh liều chết đột xông về Tầu.
|