Lập quốc hiến chương: bản hiến chương lập quốc của nước ta, được viết vỏn vẹn bằng hai chữ "văn hiến".

Tuy đây chỉ là cách diễn đạt của người đời sau để nói về ý chí tự chủ và ý niệm văn hoá chính trị của người xưa, vì thật ra không có bản văn nào gọi là bản Hiến chương được để lại từ thời lập quốc, cũng như có lẽ chưa có chữ "văn hiến" từ đời Hồng Bàng; nhưng trong bài Bình Ngô Ðại Cáo, một trong những bản thiên cổ hùng văn của nước nhà do đức Nguyễn Trãi đời Hậu Lê viết, đã có lời xác minh:

Như ngã Ðại Việt chi quốc

Thực thi văn hiến chi bang...

Cụ Bùi Kỷ dịch là:

Như nước Việt ta từ trước

Vốn xưng văn hiến đã lâu...

Nếu theo đúng ý nghĩa ấy thì nước Việt ta nên được gọi là nước Việt-Nam Văn-Hiến mới thể hiện được cái ý hướng cao cả của người xưa, và cũng vạch được con đường sinh tồn vừa nhân bản, vừa tiến bộ cho muôn đời sau. Người đời sau thường dùng chữ "Tinh thần văn hiến" để chỉ, một cách mơ hồ, ý thức văn hoá chính trị có kỷ cương và có hàm chứa đạo làm người. Cụ thể hơn, văn học và lịch sử nước ta lại thường nhắc nhở tới "nền văn hiến", ở đấy những ý niệm về nguồn gốc trong truyền thuyết, những triết lý và tư tưởng nguyên thủy về cuộc sinh tồn trong văn hoá dân gian, đã được hoà trộn với tinh hoa của các nền văn hoá ngoại lai luân lưu qua các thời đại, để kết lại cùng với những thành tích dựng nước và giữ nước, thành một nền tảng vững chắc làm căn bản phát triển dân sinh tốt đẹp cho dân tộc. Có thể nói "văn hiến" là một ý niệm sinh động về văn minh nhân bản của chung loài người, nhưng "nền văn hiến" là một ý niệm đặc thù, thể hiện ý chí sinh tồn có ý thức và cũng thể hiện nền văn minh nhân bản đã được bồi đắp từ lâu đời của dân tộc Việt ta.