Tuổi Trẻ và 50 Năm Cộng - Sản

 

“NĂM MƯƠI NĂM…ĐỜI TA CÓ ĐẢNG”

 

Hay là:

 

TUỔI TRẺ VÀ “CÁI LẦM TO THẾ KỶ”

 

( Bài tham luận tại cuộc hội thảo ngày 20.8.1995 ở Sydney, Úc )

 

Tiến sĩ Nguyễn-Văn Hưng

 

Nếu ước chừng rằng hai mươi năm là có một thế hệ, th́ kể từ ngày Hồ Chí Minh

đứng ở Quảng trường Ba Đ́nh đọc Tuyên Ngôn Độc Lập cho đến nay, đất nước Việt Nam đă trải qua gần ba thế hệ. Trong số những thanh thiếu niên sinh ra sau ngày Bắc Quân tiến vào Sàig̣n, giờ có hàng triệu em trên hai mươi tuổi. Lứa tuổi từ hai mươi trở xuống ở trong nước, do đấy, hoàn toàn sống dưới chế độ Cộng sản kể từ khi giang san thu về một mốí, với vốn liếng rất hạn hẹp về cuộc sống bên ngoài.

Hồ Chí Minh, hồi sinh tiềnn đă ăn cắp lời người xưa để nói rằng v́ lợi ích mười năm th́ phải trồng cây, v́ lợi ích trăm năm th́ phải trồng người (Báo Nhân Dân, 14/09/58). Đảng Cộng Sản Đông Dương, tiền thân của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN), năm nay vừa tṛn 65 tuổi. Năm mươi trong số 65 năm đó - kể cả trong những năm sau 1945, khi Đảng “mập mờ” đánh lộn con đen tuyên bố tự giải tán - ĐCSVN đă nắm một vai tṛ chủ yếu trong việc quyết định vận mạng đất nước. Nhưng trong nửa thế kỷ qua, ĐCSVN đă trồng người được đến đâu rồi ?

Xin mạn phép quư vị để mở một dấu ngoặc ở đây. Là một trong những người ở thế hệ “hậu Tuyên Ngôn Độc Lập” thứ nhất, và là một kẻ bắt buộc v́ hoàn cảnh mà phải đứng bên lề, người viết bài này thật ra không phải là một người trẻ nữa. Ở một thời nào đó người viết bài cũng đă tập tễnh tṛ nói với tuổi hai mươi, nhưng càng về sau, càng thấy đấy là một tṛ lế bịch, bởi v́ chính bản thân ḿnh chẳng có kinh nghiệm nào đối với đất nước khi ở tuổi hai mươi cả. Bài nói chuyện này, do đó xin chỉ được xem là một việc làm dàn dựng một vài điểm trong muôn một, từ một cái nh́n rất chủ quan để chúng ta có một điểm khởi hành cho cuộc thảo luận mà thôi.

 

MỘT DÂN TỘC RẤT TRẺ

Để có một ư niệm về tầm vóc của vấn đề, người viết bài xin phác họa vị trí của giới trẻ Việt Nam trong bối cảnh tổng quát về dân số.

Căn cứ vào những thống kê do chính nhà cầm quyền Cộng sản Hà Nội đưa ra (l), th́ dân số Việt nam, một năm sau ngày “giải phóng” là 49,16 triệu. Căn cứ vào dữ liệu của Quỹ Dân Số LHQ, th́ trong khoảng 10 năm từ 1979 tới 1989, dân số Việt Nam tăng trung b́nh 2,1% mỗi năm. Thống kê cuối cùng (2) của Tổng Cục Thống Kê Hà Nội cho thấy là vào năm 1992, không kể bộ đội, công an, công an biên pḥng và nhớn viên ngoại giao, dân số đă tăng lên tới 69,3 triệu. Như thế, nếu làm một bài tính nhẩm, người ta có thể đoán khá chính xác là hiện nay có khoảng 75 triệu người ở Việt Nam. Cũng theo thống kê của Hà Nội, th́ thành phần dân số Việt Nam rất trẻ. Chỉ nh́n qua thành phần dân số tính theo hạng tuổi và giới tính (H́nh l), người ta thấy ngay là có tới suưt soát ba phần năm nhân dân Việt Nam hiện nay dưới 24 tuổi. Thành phần dân số này có lẽ vào hàng trẻ nhất thế giới, trừ một vài nước có sinh số thật cao như Bangladesh mà thôi. Nh́n vào thành phần này, nếu lạc quan, ta có thể nói nó là biểu tượng cho sức sống mănh liệt của dân tộc. Nếu bi quan ta có quyền cho đó là dấu hiệu dự báo một trong những vấn đề nan giải trong tương lai, bởi lẽ, cứ theo đà tăng trưởng hiện tại, th́ trong ṿng mười năm đầu thế kỷ tới, dân số Việt Nam sẽ lên tới 120 triệu người (3) .

 

 

Câu hỏi mà chúng ta cần thảo luận ở đây là chủ nghĩa Cộng sản đă làm được những ǵ cho nhân dân Việt Nam, nói chung, và giới trẻ Việt Nam nói riêng trong năm mươi năm đời ta có đảng (dựa theo tựa đề một bài thơ của thi sĩ “quốc doanh” Tố Hữu) ? Và liệu sẽ làm được những ǵ nếu tiếp tục nắm quyền? Hay sự có mặt của nó, như trong trường hợp Liên Xô và các nước Đông Âu, chỉ là kết quả của một cái lầm to thế kỷ - đây cũng lại xin dựa theo thơ, nhưng lần này là thơ Nguyễn Chí Thiện, một người Tự do tôi quí thiết tha, Mà sao tù ngục hết ra lại vào .

 

ĐỐNG XƯƠNG VÔ ĐỊNH ĐĂ CAO... HƠN DẦU !

Nói theo giọng điệu người Cộng Sản th́ trước mắt, sự có mặt của chủ nghĩa đó có nghĩa là một chuỗi hy sinh vô bờ bến của cả dân tộc. Cứ nh́n con số những người đă mất mạng từ sau Tháng Tám  nănm 1945 cho đến nay, ai cũng phải lạnh người (H́nh 2). Ngót ngét bẩy triệu người đă nằm xuống trong những biến cố, những cuộc chiến mà Đảng Cộng Sản Việt Nam nắm phần chủ động. Trong khung cảnh dân số, tưởng ít có dân tộc nào trong lịch sử cận đại, có lẽ trừ dân Do Thái, lại phải chịu đớn đau đến thế. Dĩ nhiên, suốt trong dăy biến cố đó, giới trẻ thời nào cũng phải chịu đựng phần lớn lao nhất. Quay đâu người trẻ cũng gặp chết chóc, nếu không v́ mũi tên ḥn đạn của chính kẻ thù trực diện, th́ cũng v́ những tác động phụ của cuộc chiến, từ đạn lạc, tới khủng bố, từ thiếu ăn cho đến bệnh tật. Chúng ta chỉ cần xem lại thành phần dân số Việt Nam (H́nh 1) là thấy ngay điều đó. Tỉ lệ những người trong các nhóm tuổi 40 tới 59 ở mức rất thấp ( 13%), và là tỉ lệ điển h́nh ở những nước có chiến tranh tàn khốc.

 

 

Trong số tất cả những đống xương vô định vừa kể, người Cộng Sản chỉ có thể biện minh được một phần nào cho con số người tử vong trong trận chiến Đông Dương lần thứ nhất ( 1945-54) mà thôi. Lư do dễ hiểu v́ đấy là cuộc chiến tận cùng trong cố gắng dành độc lập từ ách đô hộ thực dân Pháp. “Cờ độc lập phải được nhuộm bằng máu, hoa tự do phải được tưới bằng máu” (lời Nguyễn Thái Học), và giới trẻ Việt Nam, suốt chín năm trời, từ anh Tự Vệ thành, đục tường cầm cự với Pháp trong những đường phố thủ đô Hà Nội hồi tháng 12/46, cho đến người chiến binh lăn xả vào các cứ điểm Điện Biên Phủ, ít có ai nghĩ rằng ḿnh chiến đấu cho ư thức hệ cộng sản. Lịch sử đă chứng minh rằng Đảng Cộng Sản chỉ giỏi lợi dụng, lèo lái cuộc kháng chiến và cướp công cách mạng mà thôi. Quư vị nào không tin th́ cứ tự hỏi ḿnh tại sao Hồ Chí Minh lại tuyên bố giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương hồi 1945, để rồi cho nó xuất hiện trở lại dưới danh nghĩa Đảng Lao Động trong kỳ Đại Hội Đảng Lần Thứ 2 năm 1951 khi phần thắng nghiêng về phía Việt Minh. Họ Hồ chỉ làm như thế sau khi đă lợi dụng ḷng hăng hái, dấn thân và hy sinh của các thành phần quốc gia để mượn súng đạn Pháp giết bớt họ đi và sau khi đă tiêu diệt một số khác nữa trong các cuộc thanh trừng đẫm máu. Cuối cùng, tới năm 1976, Đảng mới thấy chẳng cần ǵ phải giữ bộ mă ngoài hay mang mặt nạ nữa để trở về với cái tên “cúng cơm” của nó. Nhiều tay trí thức thiên tả, xưa th́ như Jean L'acouture, mới như CarIThayer (41), vẫn khăng khăng cho rằng Hồ và những người cộng sản là điển h́nh cho phong trào quốc gia (nationalist) dành độc lập. Dành độc lập th́ có thật đấy, nhưng đó chỉ là mục tiêu phụ thuộc trên bước đường Cộng Sản hóa Đông Dương của Hồ (xin xem chằng hạn (5) ) . Và thứ độc lập mà Hồ dành được với bao nhiêu xương máu đó là một thứ độc lập tốt lắm th́ cũng chỉ nửa vời !

 

CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: ĐỔI ĐỜI BẰNG BẠO LỰC

Nhưng Cuộc Chiến Đông Dương Lần Thứ Nhất chỉ cho thấy một phần tính cách lừa lọc, giả trá của người Cộng Sản. Chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, với năm đợt, kéo dài từ năm 1952 tới 1956 mới tỏ rơ thực chất tàn bạo của họ Hồ và đồng bọn. Nên nhớ rằng vào năm 1952, bộ đội Việt Minh mới chỉ bắt đầu ló ṃi thắng thế. Vậy mà Cộng Sản đă phát động Cải Cách Ruộng Đất ở những tỉnh Việt Bắc dưới quyền kiểm soát của họ với những đoàn cán bộ vận động được Trung Cộng huấn luyện kỹ càng về những phương pháp xách động quần chúng và rồi “cùng làm việc” dưới sự chỉ đạo của cố vấn Trung Cộng. Đợt cuối cùng, phát động vào mùa hè 1955 là đợt đẫm máu nhất. Mức độ tàn bạo và nhẫn tâm của người Cộng Sản trong Cải Cách Ruộng Đất có lẽ lấy hết trúc rừng cũng không ghi hết tội . Thuở xưa, trong những ngày c̣n đi học, người viết bài này trong những lần tranh luận với các sinh viên ngoại quốc phản chiến, thỉnh thoảng vẫn đem chiến dịch này và hậu quả của nó ra làm thí dụ cho thấy chủ nghĩa Cộng Sản không từ nan bất cứ hành vi độc ác nào miễn là đạt tới mục đích. Mục đích ở đây là thay đổi cơ cấu xă hội cổ truyền của dân tộc một cách thật nhanh, thật bạo, và không nương tay trước bất cứ sức chống đối nào, dù nhỏ nhẹ hay tiêu cực đến đâu đi nữa để giữa cái hoang tàn, chủ nghĩa Cộng Sản có cơ bám rễ. Tuy nhiên, đối với những người không phải là người Việt, chuyện có trên hai mẫu tây ruộng, và một vài con trâu mà bị liệt vào hàng địa chủ, cường hào ác bá, rồi bị đầy đọa đến chết, là một chuyện rất. . . khó tin !

Nhưng tiếc thay đối với dân chúng miền Bắc, chuyện khó tin đó có thật. Người ta có thể căi cọ nhau về con số nạn nhân của chiến dịch vô nhân này, và có lẽ con số thật sự chỉ có họ Hồ và những tay đầu sỏ như Trường Chinh mới biết. Nhưng không thiếu ǵ tài liệu cho thấy (6,7) là tới khi họ Hồ nước mắt cá sấu ngắn dài tuyên bố sửa sai vào cuối năm 1956 th́ có đến mấy trăm ngàn người đă bị xử tử, bị đầy đọa chết trong tù. Cộng thêm vào đó là những nạn nhân gián tiếp, tức là con cháu, gia đ́nh những đối tượng thù nghịch của chế độ. Một khi đă bị gán cho cái từ địa chủ, cường hào nợ máu th́ bản thân nạn nhân bị giết hay bị dầy đọa đă đành, con cháu họ có khi cũng chết đói, chết bệnh. Tổng số người chết v́ vậy có thể lên tới cả triệu, tức là 5% dân số Bắc Việt thời ấy (6) . Trong nạn nhân trực tiếp, có đến tử 20 tới 30% là đảng viên, không thiếu ǵ những người đă được đề cao là anh hùng kháng chiến.

Đấy là âm mưu tận diệt truyền thống cùng cơ cấu xă hội của dân tộc có thể nói là lớn nhất và có hệ thống nhất, lớp lang nhất trong lịch sử. Bộ máy tuyên truyền xách động của Đảng không bỏ quên một chi tiết nào cả. Tuổi trẻ được Đảng dùng những đ̣n tâm lư tinh vi và chi tiết nhất để đẩy chúng vào đường “đấu tranh giai cấp” . Đảng dạy trẻ con theo dơi cha mẹ, h́nh dung ra những tội ác tưởng tượng - kể cả tội loạn luân , và cùng về hùa với đám đông bị khích động đến tột cùng, để “chiếm ngọn cờ đầu” trong việc hăng hái tố khổ ông bà cha mẹ chúng, đ̣i giết những bậc sinh thành này. Ta hăy cùng đọc Xuân Diệu trong những ngày tháng đầy máu và nước mắt đó:

Anh em ơi ! Quyết chung lưng

Đắu tranh tiêu diệt tàn hung tử thù

Địa hào  đối lập ra tro,

Lưng chừng phản động đến giờ tan xương.

Thắp đuốc cho sáng khắp đường

Thắp đuốc cho sáng đ́nh làng đêm nay

Lôi cổ bọn nó ra đây

Bắt quỳ gục xuống đọa đầy chết thôi !

Bọn nó ở đây là cha mẹ, là ông bà, là chủ điền, là những người đă có công cao dầy với kháng chiến, với đất nước. Hàng triệu trẻ con, thiếu niên sau đó nếu sống sót th́ cũng thành kẻ cầu bơ cầu bất, trở thành những kẻ khốn cùng trong xă hội v́ lư lịch, v́ liên hệ. Đảng thành công trong việc đảo lộn giá trị đạo đức, cướp không của mồ hôi nước mắt của nhân dân, thà giết lầm c̣n hơn tha lầm, cho hận thù giai cấp bắt rễ vào đầu óc nhân dân đến độ t́nh người cũng chịu thua, con trẻ cũng là kẻ thù (xin đọc “Em Bé Lên Sáu Tuổi” của Hoàng Cầm). Giết một người có khi làm cả vạn người sợ, huống ǵ Đảng lại giết vô tội vạ, với mỗi huyện, mỗi tỉnh “được” khoán riêng một con số địa chủ phải giết (6,7) . Trong hoàn cảnh ấy, con người trở về với bản năng, không dám phấn đấu, quên hết mọi nền nếp, chỉ lo cho sự sống c̣n của chính ḿnh. Lối cư xử có vẻ ích kỷ đó một thời sau 1975 đă là cách phân biệt mới giữa kẻ Bắc người Nam !

 

SINH BẮC TỬ NAM

Chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất v́ vậy hầu như đă dọn đường cho Cuộc Chiến Đông Dương Lần Thứ Hai, khi Đảng dốc toàn lực, vơ vét mạng sống thanh niên trong một xă hội c̣n bàng hoàng sợ sệt, bắt họ “sinh Bắc tử Nam”. Người bên ngoài không hề biết tới cái giá thật đắt đỏ mà thanh niên hai miền phải trả để Đảng đóng trọn vai “giải phóng” và thống nhất đất nước. Ngay cả người bên trong cũng mờ măi cho tới tháng Tư vừa rồi khi Hà Nội cho công bố tổng số người chết với số lượng khổng lồ tới mức không ngờ. Hồi xưa, mỗi lần nghe phát thanh hay đọc báo thấy những con số tổn thất do Bộ Quốc Pḥng Việt Nam Cộng Ḥa đưa ra, rất nh́êu người (dĩ nhiên là ở miến Nam ) thường hoài nghi mà gọi đấy là chuyện “quân địch chết ba, quân ta chết một”. Nhưng bây giờ mới biết thật ra, theo Hà Nội, th́ phải nói là “Bắc quân chết năm chết sáu, Nam quân chết một” . Nhưng Bắc với Nam ǵ th́ cũng là người Việt, không có ngôn từ nào có thể biện luận cho hành động nướng chừng ấy mạng người, dù là mục đích Đảng đưa ra là để đánh cho “Mỹ cút, Ngụy nhào” . Đảng có quả thật “giải phóng” miền Nam khỏi ách “kềm kẹp của Mỹ Ngụy” hay không? Hay là Đảng hy sinh chừng ấy mạng chỉ để hoàn thành sứ mạng đem chủ nghĩa Cộng Sản áp đặt lên toàn cơi Đông Dương một sứ mạng mà Hồ Chí Minh nhận lănh từ Cộng Sản Quốc Tế cách đây 65 năm ? Câu hỏi đó, xin để mọi người trả lời.

 

NGHÈO MẠT RỆP VẪN HOÀN... MẠT RỆP

Đến nay, hai mươi năm đánh xong giặc Mỹ mà đất nước có được xây dựng lại đẹp tới mười lần hơn như lời Hồ Chí Minh đă hứa hẹn hay không? Để bớt chủ quan, lệch lạc, người viết xin dùng những số liệu và đồ biểu khô khan trong một vài lănh vực. Về phương diện chính trị, Hà Nội vẫn khoe khoang rằng chủ nghĩa xă hội “ưu việt” đă đưa dân tộc Việt Nam lên hàng đầu trong số những dân tộc tiến bộ và yêu chuộng ḥa b́nh. Nhưng về phương diện kinh tế, Việt Nam vẫn c̣n phải “làm bạn” với những cái... . tên rất lạ. Trong số 10 quốc gia nghèo khó nhất thế giới, Việt Nam có cái “vinh dự” đứng hàng thứ sáu, ngay dưới Nepal, một tiểu quốc, và là nước Á châu duy nhất trong danh sách (H́nh 3). Nếu so sánh với các quốc gia Á châu khác, kể cả Năm Con Rồng, th́. . . khó khăn lắm, nước nhà mới lên được trên đồ biểu (H́nh 4) với lợi tức b́nh quân năm 1993 là 100 đô la Mỹ. Của. . . đáng tội th́ năm nay lợi tức b́nh quân đă “nhỉnh” lên được trên 200 đô la, và cứ theo dự phóng của Hà Nội, th́ năm năm nữa, tức là tới đầu thế kỷ thứ 21, con số này sẽ lên tới. . . độ cao vĩ đại là 480 đô la (8l).

 

 

Tuy nhiên, nếu đặt căn bản giàu nghèo trên đồng Mỹ Kim, đôi khi cũng sai lầm, bởi với sức mua của đơn vị tiền tệ này ở mỗi nơi mỗi khác. Thêm vào đó, lợi tức b́nh quân cũng không nói lên được sự phân phối bất đồng đều số của cải quốc gia. Do đó, nếu lấy lợi tức mà diễn dịch ra thành thực phẩm th́ có lẽ đúng hơn, tỉ như người Việt ḿnh vẫn dùng tô phở làm đơn vị định sức mua.

 

 

Chương tŕnh Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) đă dùng lối diễn dịch này, và tính ra rằng có tới 54,2% phần trăm dân số Việt Nam (H́nh 5) (9,10) đang sống trong cảnh nghèo, bởi v́ lợi tức của họ nếu dùng để ăn không thôi cũng không đủ để họ ăn được tới mức nghèo mạt rệp (nbsolute poverty) là 2100 ca-lô-ri mỗi ngày ! Trong một nước LHQ (10) nói là trung b́nh th́ đủ ăn (năng lượng qua thức ăn b́nh quân lên tới 102% mức cần dùng), mà có tới quá nửa dân số bị thiếu ăn, th́ thử hỏi ai ăn hết phần cơm của những người thiếu thốn, đói khát đó ? Quả thật hai mươi năm sau ngày giải phóng, đất nước chúng ta vẫn không đếm hết người nghèo.

 

 

Ấy là ta chẳng nói tới chuyện nghèo nhà, nghèo cửa, nghèo xe, nghèo cộ, nghèo tiền, nghèo bạc... mà chỉ nói tới... nghèo ăn mà thôi ! H́nh 6 nêu rơ một vài số liệu nữa cho thấy t́nh cảnh đáng buồn trong các lănh vực giáo dục, y tế, vệ sinh, nhất là đối với thế hệ tương lai. Cứ mười em bé trong nhóm tuổi 6 tới 11 th́ lại có tới ba em không được cắp sách đến trường. Mười em dưới năm tuổi th́ có tới bốn em bị suy sinh dưỡng trầm trọng.

 

 

 Mỗi năm có tới trên một trăm ngàn em dưới năm tuổi chết v́ bệnh tật. Hai mươi lăm năm trước đây, thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đă từng viết:

Bác Hồ rồi lại Bác Tôn

Cả hai đều thích ôm hôn nhi đồng

Nước da hai Bác màu hồng

Nước da các cháu nhi đồng màu xanh

Giữa hai cái mặt bành bành

Những khăn quàng đỏ bay quanh cổ c̣.

(1970)

 

 

“CHỈ CÓ CÁI LOA... LÀ VUI”

Th́ ngày nay có khác ǵ đâu ? Tờ Tuổi Trẻ số ra ngày 04/02/95 đăng bài phát biểu của ông Mai Chí Thọ nhân cuộc tuyên thệ vào Đảng của hai thanh niên thuộc Thành Đoàn HCM. Trong bài, ông Thọ “lên lớp” kể công cách mạng của Đảng, đề cao vai tṛ xóa đói giảm nghèo của người Cộng Sản Việt Nam. ông c̣n báo động về “Nguy cơ sa sút văn hóa đạo đức. Nguy cơ này đặc biệt tác động trực tiếp vào thanh niên và di hại trên nhiều thế hệ”. Nói cứ y như thật ! Một tuần sau đó, ngày 11/02/95, cũng tờ Tuổi Trẻ làm phóng sự đem tặng phẩm của độc giả đi làm “Cây Mùa Xuân” cho những gia đ́nh nghèo trong Thành Phố mang tên họ Hồ, có cả xóm sống lây lất trong những túp lều dàn dựng giữa những ngôi mộ trong nghĩa địa, ngày Tết đến không có miếng ..ăn,  trẻ lên sáu tuổi chưa bao giờ có áo mới. Thế th́ có khác ǵ những đứa trẻ bốn mươi năm trước ở ḿên Bắc “mới tháng Ba đă mong đến Tết; Để được ăn cơm no có thịt; Một bữa một ngày” (Thơ Phùng Quán) ? Đảng nói th́ giỏi, đề đặt ra khẩu hiệu th́ thật là kêu, nhưng làm th́ như quư vị thấy đó, được bao nhiêu ? Tờ Tuổi Trẻ cũng không nói tại sao hai mươi năm sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất mà lại c̣n những người nghèo như thế?

Năm mươi năm qua, Đảng Cộng Sản Việt Nam đă phí phạm xương máu nhân dân qua suốt ba thế hệ. Mười năm Đổi Mới vừa qua không hẳn là một con số không, nhưng vẫn là một phí phạm. Những người Cộng Sản Việt Nam vẫn “trùm chăn”, nhất định không chịu chấp nhận là đổi mới kinh tế chỉ thật sự đem lại lợi ích cho toàn dân nếu nó đi đôi với cởi trói và đổi mới về mặt chính trị mà thôi. Không có dân chủ, th́ đổi mới kinh tế chỉ là một h́nh thức cho thiểu số đảng viên tiếp tục được hưởng đặc quyền đặc lợi, tiếp tục đào sâu, tiếp tục duy tŕ hố sâu chia rẽ giàu nghèo trong một xă hội không có giai cấp trên lư thuyết, nhưng trên thực tế th́ lănh tụ vẫn béo nung núc c̣n nhân dân th́ vẫn gầy rục. Tiêu đề Độc lập Tự Do Hạnh Phúc có suốt từ thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, ngày nay vẫn là những từ vô nghĩa, bởi v́ “Tự Do”, “Hạnh phúc” vẫn là hai cái bánh vẽ to lớn đối với quảng đại đa số nhân dân. Riêng với từ “Độc Lập” th́ trước cái hí hửng, nôn nóng của Hà Nội hồi Mỹ quyết định bang giao, ta cần phải xét lại cái đă ! Đối với giởi trẻ, những khẩu hiệu như đâu cần thanh niên có, đâu khó thanh niên, Yêu chủ nghĩa xă hội tức yêu tổ quốc, những từ như khắc phục... chỉ là những sáo ngữ đạo đức giả, người nói chưa chắc đă tin huống ǵ người nghe !

 

 

Chủ nghĩa Cộng Sản ngày nay là một thứ quái vật thời tiền sử lạc loài trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Con quái vật đó chưa biết, hay đúng hơn là không chịu chấp nhận tính cách lỗi thời của nó và vẫn c̣n vùng vẫy t́m đường sống sót. Sáu mươi lăm năm nay, Chính Trị Bộ chỉ có tổng cộng 30 ủy viên, thay nhau cầm quyền. Quốc Hội Cộng Sản có tới 92% là đảng viên, số c̣n lại phải có sự giới thiệu của Đảng mới được ra ứng cử. Dúm người đầu óc ràng buộc chặt chẽ vào một ư thức hệ ngoại lai đó làm sao bắt mạch nổi ư muốn, nguyện vọng của dân ?

Để giới trẻ Việt nam có thể vươn lên mở mặt với đời, để Việt Nam cũng biến thành một Con Rồng chứ không phải là một con tôm cứt lộn lên đầu, th́ nguồn nhân lực quốc gia phải được sử dụng đúng mức, chứ không phải hồng hơn chuyên. Tài sản quốc gia không thể được phân phối theo ư thức hệ chính trị. Giá trị đạo đức của dân tộc cần phải được xây dựng lại trên một căn bản công b́nh, không c̣n cảnh người bóc lột người nhân danh chủ nghĩa. Ḥa hợp ḥa giải dân tộc phải là chuyện có thật, chứ không phải chỉ ngoài miệng. Tin sao được khi nghĩa trang liệt sĩ th́ chăm lo, c̣n nghĩa trang ngụy th́ đập phá? Tin sao được khi hễ ai mở miệng phản kháng, chống đối là bỏ tù ? Tin sao được khi bộ máy tuyên truyền vẫn “xoen xoét” Đảng lănh đạo, Nhà Nước quản lư, nhân dân làm chủ, nhưng thật sự từ lănh đạo tới quản lư và làm chủ chỉ là một. Và cái “Một” ấy vẫn là. . . Đảng !

Ra vẻ những đ̣i hỏi vừa kể quá tầm tay Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đảng cầm cân nẩy mực trong thời chiến, khi sắt máu và bạo tàn ngự trị th́ được. Nhưng trong thời b́nh, thời cách mạng tin học này, Đảng không lừa dối được ai. Cái “tài” xách động dân chúng và đặt ra khẩu hiệu, phương châm thật kêu bây giờ không hợp thời nữa. Năm mươi năm trồng người của Đảng chẳng đi đến đâu cả, ta có nên chờ tới trăm năm hay không ?

Có lẽ đă đến lúc xọt rác lịch sử phải được mở ra cho rộng, để chủ nghĩa Cộng Sản có chỗ chui vào ! Đă đến lúc Việt Nam gia nhập hàng ngũ các quốc gia Đông Âu nh́n nhận rằng chủ nghĩa cộng sản là một cái lầm to thế kỷ.

 

Nguyễn Văn Hưng

( 17/08/95)

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

 

1.The Economist Intelligence Unit, Country Profile - Indochina: Vietnam, Laos, Cambodia, London (1994).

2. Tổng Cục Thống Kê, Hà Nội (1992) .

3 The Economist, 8 July 1995.

4. The Australian, 29 April 1995 .

5. Dennis J. Duncanson,Government and Revolution in Vietnam, OUP, London (1968) .

6. Hoàng Văn Chí, From Colonialism to Communism, Pall Mall Press, London (1964).

7. Lâm Thanh Liêm,Chính sách cải cách ruộng đất của Hồ Chí Minh: sai lầm hay tội ác, trong Hồ Chí Minh, sự thật về thân thế và sự nghiệp, Nam á, Paris (1990).

8 The Australian, 12 May 1995.

9. The Economist, 4 March 1995.

10 United Nations Development Programme (UNDP), Human Development Report 1994, Oxford University Press, Oxford (1994).

 

 

Tiểu sử:

         Tiến sĩ Nguyễn Văn Hưng

 

 

- Tiến sĩ Hóa học Kỹ thuật (Úc Đại Lợi 1974).

- Hiện phụ trách khảo cứu và kỷ thuật cho một công ty kỹ nghệ

hàng đầu của Úc.

- Giảng dạy khoa Thông ngôn Phiên dịch, Trường Ngôn ngữ, Đại

học RMIT, Victoria.

- Bỉnh bút của nhiều tờ báo Anh và Việt ngữ.

- Cựu Điều hợp viên Chương tŕnh Phát thanh Việt ngữ SBS Radio,

Melbourne, 1978 - 1992 .