HỒ CHÍ MINH:
CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP
(Bài tham luận tại cuộc hội thảo ngày 20.8.1995 ở Sydney, Úc)
Tiến sĩ Nguyễn Văn Trần
Năm 1995, nhà cầm quyền ở Việt Nam tổ chức nhiều lễ kỷ niệm lớn: 20 năm giải phóng miền Nam, 50 năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa mà ngày nay là nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nhân dịp những lễ lớn ấy, Đảng cộng sản và nhà cầm quyền đă vận động những cơ quan tư tưởng và tuyên truyền đề cao chủ nghĩa Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuy điều này đă được Đại hội VII khẳng định “Chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng cộng sản và kim chỉ nam cho hành động. Sự khẳng định này là bước phát triển hết sức quan trọng trong nhận thức và tư duy lư luận của Đảng cộng sản” (l).
Để chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 50 năm, tức lễ 2/9/95, Đảng cộng sản đă cho tổ chức lễ kỷ niệm 125 năm ngày sinh của Lê-nin, một cách trọng thể hơn thường lệ. Nguyễn đức B́nh, ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Trung ương đảng, trong bài phát biểu trước buổi lễ, đă nhấn mạnh những lễ lớn năm nay là những mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc Việt Nam gắn ĺên với tên tuối Hồ Chí Minh vĩ đại. Trong khi t́m đường cứu nước, Hồ Chí Minh đă thấy ở chủ nghĩa Lê-nin “cái cẩm nang thần kỳ” chỉ ra cho nhân dân ta con đường giải phóng và đi đến độc lập tự do (2).
Cũng trong khuôn khổ chuẩn bị ngày lễ lớn năm nay, Ban Văn hóa Trung ương vừa cho ấn hành bộ Hồ Chí Minh toàn tập, xuất bản lần thứ hai 1995. Hội đồng xuất bản đă long trọng giới thiệu: “Hồ Chí Minh, nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lư luận thiên tài của cách mạng Việt Nam”. Và quan trọng hơn hết, Bộ Chánh trị, ngày 18.2.1995, đă đưa ra nghị quyết về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay, lại khẳng định thêm một lần nữa “Tư tưởng của Người đă và đang soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, trở thành những giá trị bền vững của dân tộc Việt Nam và lan tỏa ra thế giới. Ngày nay, khi sự nghiệp đổi mới ở nước ta càng ngày càng đi vào chiều sâu, những biến chuyển trên thế giới ngày càng lớn, những vấn đề mới đặt ra trong đời sống xă hội ngày càng nhiều, đ̣i hỏi phải làm sáng tỏ để t́m ra sự giải đáp, th́ việc nghiên cứu, bảo vệ, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tế cuộc sống, trở thành nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trong công tác chính trị, tư tưởng, lư luận của toàn Đảng, toàn dân ta”. (3)
Khách quan nhận định, Hồ Chí Minh cho đến ngày nay vẫn c̣n được chế độ cộng sản ở Việt Nam đê cao vượt khỏi khuôn khổ b́nh thường, như vậy có đúng hay không?
Đây là vấn đề rộng lớn khá phức tạp, không thể có ngay câu trả lời đơn giản, gọn ghẽ được. Đây cũng là vấn đề lịch sứ có liên quan đến vận mệnh của đất nước nên việc phê phán, đánh giá sẽ đ̣i hỏi một tinh thần thật sự b́nh tĩnh,
khách quan, bởi sự đánh giá đó sẽ ảnh hưởng tới tương lai của đất nước ta.
Trước khi có sự đánh giá nghiêm chỉnh dứt khoát về Hồ Chí Minh, đây cũng là vấn đề cho đến ngày nay đang có nh́êu chính kiến khác nhau nhất, ở nhiều mức độ khác nhau, thậm chí trái ngược nhau nhất, tưởng nên t́m hiểu về con người Hồ Chí Minh từ lúc thiếu thời, những điều kiện xă hội và gia đ́nh ảnh hưởng đến tư tưởng của ông.
Đối với chế độ cộng sản ở Việt Nam, việc đánh giá lại Hồ Chí Minh là điều cấm kỵ một cách tuyệt đối. Hồ Chí Minh là chỗ dựa cuối cùng để những người cộng sản “duy tŕ con đường xă hội chủ nghĩa”, “giữ vững ổn định chính trị”, nghĩa là duy tŕ quyền lực cho họ tiếp tục cai trị đất nước.
Những người cộng sản Việt Nam vốn mang nặng tâm thức tử ảnh hưởng tư tưởng phong kiến Trung quốc đồng hóa vị thiên tử với khối thần dân, đă không ngần ngại tin tưởng ở thế lực ảnh hưởng của những bậc vĩ nhân này, và quan niệm ḍng lịch sử dân tộc là biểu hiện sự nghiệp phi thường của các vĩ nhân. Thái độ ấy giải thích tại sao Đảng cộng sản ở Việt Nam ngày nay vẫn giữ ngưyên sự đánh giá chính thống về Hồ Chí Minh.
Đă có bao nhiêu công tŕnh nghiên cứu, bao nhiêu ấn phẩm tán dương Hồ Chí Minh là vị anh hùng dân tộc, vị khai quốc công thần, nhà cách mạng, nhà văn hóa kiệt tác,.. tóm lại, Hồ Chí Minh là một vĩ nhân vượt qua tất cả các vị anh hùng trước đây của dân tộc Việt Nam, cơ hồ như lịch sử Việt Nam chỉ mới bắt đầu từ thời đại Hồ Chí Minh. V́ nhằm mục đích sùng bái cá nhân, việc làm này đă che lấp sự thật dưới những thêu dệt, ngụy tạo, nhiều khi hoàn toàn vô căn cứ, được thêm thắt, tô điểm đời sống và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.
Về phía những người chống đối lại sự đánh giá trên đây, th́ Hồ Chí Minh là con người đầy thủ đoạn, gian ác, chủ trương thủ tiêu mọi đối thủ chính trị, kể cả những người không theo con đường của ông. Hồ Chí Minh là thủ phạm
trong vụ thảm sát hàng trăm ngàn đồng bào vô tội miền Bắc qua vụ cải cách ruộng đất, là người trách nhiệm những vụ án oan, án giả, mà điển h́nh là vụ án văn học Nhân văn Giai phẩm và vụ án chính trị Xét lại chống đảng. Hồ chí Minh hoàn toàn không phải là “Việt gian” v́ Việt gian c̣n có Việt ở trong đó, mà là một cán bộ toàn vẹn của Quốc tế đệ III, suốt đời cúc cung tận tụy cho nhiệm vụ quốc tế vô sản. Nên nhiều người cho rằng Hồ Chí Minh là hiện thân của tội ác trước lịch sử dân tộc Việt Nam.
Nhưng với cả hai phía, nếu đặt vấn đề Hồ Chí Minh lại một cách nghiêm chỉnh th́ đó là một phạm trù cần được làm sáng tỏ, cởi bỏ những huyền thoại xây dựng thành cuộc đời chính trị của Hồ Chí Minh đă được tuyên truyền từ năm 1945 đến nay. Việc làm này không chỉ phải t́m cách chỉnh đốn lại tiểu sử của Hồ Chí Minh, thiết lập lại những sự kiện lịch sử có quan hệ đến Hồ Chí Minh một cách trung thực, mà c̣n quan trọng hơn hết, là tách rời Hồ Chí Minh ra khỏi những nhân vật ma quái đồng hóa lẫn lộn với Hồ Chí Minh trong huyền thoại chính trị, nghĩa là phải đặt Hồ Chí Minh đối diện với một Hồ Chí Minh thật, để làm hiển lộ nguyên vẹn con người Hồ Chí Minh với những xảo thuật vận dụng công cuộc tranh đấu cho dân chủ dân tộc để đi đến xă hội chủ nghĩa là mục đích tối hậu. Và, sau cùng, Hồ Chí Minh đă để lại được ǵ cho đất nước và dân tộc Việt Nam ? .
I. Hồ Chí Minh, con người.
Tiểu sử là một loại lịch sử riêng của một con người.Áp dụng vào trường hợp Hồ Chí Minh, loại lịch sử riêng này là một điều vô cùng phức tạp bởi cho đến nay, nhiều nhà sử học vẫn c̣n bị nhiều khoảng trống để có thể thiết lập lại rơ ràng quăng đời của Hồ Chí Minh. Chỉ đề cập đến năm sanh, người ta có những năm tử 1890 đến 1895 với những chỉ dấu c̣n giữ lại. Nhưng năm nào là khả tín nhất ? Chưa có ai đă quả quyết được.
Ngày sinh chính thức được công bố từ năm 1946 là ngày 19 tháng 5 năm 1890. Đây chắe chắn là một sự chọn lựa có hậu ư hoàn toàn chính trị. Theo D. Hémery và Nguyễn thế Anh, giáo sư và giám đốc nghiên cứu của Đại học Paris VII và Ecole Pratique de Hautes Etudes (HPHE) th́ ngày 19-5 được chọn như ngày sanh của Hồ Chí Minh nhằm để kỷ niệm ngày thành lập Mặt Trận Việt Minh (19-5-1941) (4) . C̣n lấy năm 1890 làm năm sanh để vào thời điểm sau Cách mạng tháng 8, Hồ chí Minh có đủ số tuổi “lên lăo” để có thể tự xưng “Cụ” với những người kém ít tuổi. Nhưng đây cũng chỉ là suy luận của hai sử gia chuyên về Việt Nam mà thôi.
Sau Cách mạng tháng 8, Hồ Chí Minh có hợp tác với những đảng phái khác như VNQDĐ, ĐV và một số nhân sĩ độc lập trong các chính phủ liên hiệp. Trong số những vị này, sau này, vào khoảng năm 1968- 1969, ở Sàig̣n tại trụ sở của đảng Dân Xă (Phật Giáo Ḥa Hảo) được mượn tạm làm trụ sở của Lực Lượng Dân Tộc Việt, mà cũng là tư thất của cụ Phan bá Cầm (người Phật Giáo Ḥa Hảo, Chủ tịch Dân Xă Đảng và đồng thời cũng là Chủ tịch Lực Lượng Dân Tộc Việt) qui tụ một số các cụ đă từng hoạt động trong các chính phủ liên hiệp, trong đó cụ Tạ duy Minh (nếu tôi nhớ không lầm), trong câu chuyện về kinh nghiệm liên hiệp với Hồ Chí Minh, có thuật lại rằng ngày sinh 19-5 của Hồ Chí Minh chính là ngày Hồ Chí Minh tiếp d'Argenlieu. V́ muốn cuộc tiếp rước Đô đốc d'Argenlieu cho có vẻ trọng thể, Hồ Chí Minh ra lệnh dân chúng treo cờ. Nhưng Hồ Chí Minh dấu đi ư muốn thật sự v́ sợ dân chúng và ngay trong hàng ngũ những người chống Pháp cũng sẽ có người phản đối mà nói khác đi là mọi nhà nên treo cờ hôm nay để “mừng ngày sinh nhật của Bác”. Thế là sau đó, ngày này đương nhiên chính thức trở thành ngày sinh nhật của Hồ Chí Minh. Nếu điều này đúng sự thật th́ cũng khá phù hợp với con người đầy trí trá như Hồ Chí
Minh.
Phần lớn những sử gia, cho đến nay, khi viết về Hồ Chí Minh thường dựa theo những công bố chính thức. Thói quen này rất đúng, nhưng không thể áp dụng với cộng sản, nhất là cộng sản Hà nội. Họ vẫn c̣n thiếu quan tâm đến thời thơ ấu của Hồ Chí Minh, mà vẫn thường phanh phui trong những hoạt động cách mạng và thời kỳ dài Hồ Chí Minh lănh đạo Đảng và làm chủ tịch nước, mà không thật sự t́m hiểu chính xác hoàn cảnh xă hội và gia đ́nh của cậu bé Nguyễn sinh Cung, đến năm mười tuổi trở thành cậu bé Nguyễn tất Thành.
l. Hoàn cảnh xă hội và gia đ́nh.
Nói đến gia cảnh của Hồ Chí Minh, các tác giả của chế độ thường đề Cao trường hợp Nguyễn sinh Huy, thân phụ của Hồ Chí Minh, lột áo từ quan v́ từ khước hợp tác với chánh quyền bảo hộ. Thái độ này đă làm nổi bật một gia đ́nh có truyền thống yêu nước và chính truyền thống này là động cơ sau này thúc đẩy Hồ Chí Minh “ra đi t́m đường cứu nước” ! Tất cả đều im lặng về sự thật của việc thân phụ Hồ Chí Minh bị đuổi v́ say rượu, ra lệnh đánh đ̣n phạm nhân Tạ đức Quang chẳng may gây ra cái chết của anh nầy. Sự việc nghiêm trọng v́ có nghĩa là thân phụ Hồ Chí Minh đă xử phạt tử h́nh một can phạm. Mà theo luật pháp thời đó th́ án tử h́nh phải do nhà vua quyết định. Tội lạm dụng chức quyền của Nguyễn sinh Huy theo luật Gia Long đă bị phạt một trăm trượng ngày 17 tháng 9 năm 1910 và giáng chức xuống bốn cấp và băi chức. Nhưng v́ Nguyễn sinh Huy là một vị quan và không có ư cố sát nên ông được ân giảm khỏi bị lănh một trăm trượng (5). Như vậy chế độ quân chủ ở Việt Nam thời xưa vẫn biết trọng nhân quyền hơn chế độ Hà nội ngày nay!
Phong trào Cần Vương cơ hồ chấm dứt sau sự thất bại của Phan đ́nh Phùng. Cũng vào thời điểm này, chế độ thực dân bắt đầu thiết lập những cơ sở về chính trị và tài chính cho một nền cai trị lâu dài ở Việt Nam. Đây là một cuộc khủng hoảng quốc gia nghiêm trọng. Chẳng những Việt Nam mất độc lập, mà lịch sử dân tộc bị bế tắc, giá trị văn hóa, cơ cấu xă hội bị đảo lộn. Đối với các nho sĩ, đây là nền văn minh và tổ quốc Việt Nam bị phá sản, thế giới quan Việt Nam bị thay đổi.
Chấp nhận đi làm quan là dọn ḿnh trung thành phục vụ ông chủ mới, chớ không phải thiên tử Việt Nam nữa. Bạn cùng khóa với Nguyễn Sinh Huy là Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng. Cả hai vị đêu từ khước con đường quan trường, trong lúc ấy Nguyễn Sinh Huy tiến thân với triều đ́nh Huế.
Tại sao Nguyễn Sinh Huy có sự lựa chọn ấy? Để phục hận ? Phản ứng tâm lư v́ ngày xưa, sau khi phụ thân mất, ông sống với ông anh cùng cha khác mẹ và bà chị dâu bị ngược đăi, nên ngay tử nhỏ ông đă có ư hận, phải quyết chí học để làm quan (6). Hay ông v́ ảnh hưởng cái học mới theo hướng canh tân bằng khoa học kỹ thuật mà chịu xếp hàng theo về với triều đ́nh và Bảo hộ ?
Vốn bạn lều chơng với cụ Phan Chu Trinh, nhưng không bao giờ Nguyễn sinh Huy giữ liên lạc giao hảo với cụ ấy. Theo ông, cụ Phan là người dám chống lại tŕêu đ́nh (7). Thái độ ứng xử của Nguyễn Sinh Huy dù sao cũng khó được hiểu có mặt truyền thống yêu nước và quật khởi trong đó. Thái độ này đă ảnh hưởng ít nhiều đến tương lai của Hồ Chí Minh sau này.
Khi Hồ Chí Minh lớn lên và đi học th́ nền cai trị của Pháp ở Việt Nam đă ổn định. Tuy chủ quyền mất, nhưng hệ thống học hành, thi cử, quan chức vẫn c̣n. Và vẫn c̣n sức quyến rũ một số đông thanh niên đương thời (8).
Hồ Chí Minh sống phần lớn thời tuổi trẻ ở Huế, từ lúc thân phụ ông đậu cử nhân và được tiến cử làm quan trong triều đ́nh. Ông được vào học trường Quốc Học để có “tân học” và sau đó, thi đậu, sẽ được bổ đi làm quan. Chẳng may, thân phụ ông bị băi chức Tri huyện B́nh Khê (thuộc tỉnh B́nh Định) ông phải đành nghỉ học dở dang.
Về việc hồ Chí Minh nghỉ học, Trường Chinh giải thích “v́ Hồ Chí Minh phát giác trường học của Pháp chỉ có mục đích đào tạo tay sai cho đế quốc, cho nên ông bỏ ra đi”. C̣n Phạm Văn Đồng lại nói "Hồ Chí Minh hoạt động chống Pháp nên không có bằng cấp tốt nghiệp”. Cả hai thuyết đều cố ư nhằm tôn vinh Hồ Chí Minh hơn là dẫn chứng sự thật.
Rời Huế khoảng năm 1909, Hồ Chí Minh vào dạy học tại trường tư Dục Thanh ở thành phố Phan Thiết. Trường này do phong trào “Tư nhân hưng học vận động” thành lập nhằm mục đích phổ biến nền tân học trong giới thanh niên, theo ảnh hưởng của cụ Phan chu Trinh (9). Như vậy có thể nói lư do làm Hồ Chí Minh thôi học ở Quốc học Huế là từ nay phải tự lo lấy cuộc sống, không c̣n nhờ cha bảo bọc như trước nữa. Hơn nữa, ông mang mặc cảm v́ việc thân phụ ông đă bị phạt băi chức, th́ dù có học, thi đậu đi nữa, Hồ Chí Minh nghĩ sẽ khó mà được thăng tiến trên quan trường.
Trường Dục Thanh là một loại Đông
Kinh Nghĩa Thục do
Hội Liên Thành bảo trợ làm nghĩa, dạy 60, 70 trẻ con
trong tỉnh nên mỗi tháng chỉ có thể trả lương
cho giáo viên phụ (trợ giáo) như
Hồ Chí Minh lúc bấy giờ là tám đồng bạc. Hồ
Chí Minh ở lại Phan Thiết độ chừng một năm rưỡi trước
khi vào Sàig̣n. Đây là sự chọn lựa đầu tiên
thật sự của Hồ Chí
Minh.
2. Ra đi t́m đường cứu nước ?
Phải nói về mặt tâm lư, việc Nguyễn Sinh Huy bị băi chức tri huyện, địa vị xă hội bỗng chốc bị tụt hậu đến nỗi không chịu nổi sự xấu hổ đối với dư luận ở địa phương phải bỏ xứ vào tận miền tây Nam Việt t́m kế sinh nhai đă ảnh hưởng sâu đậm đến quyết định của Hồ Chí Minh bỏ xứ ra đi vào năm 1911.
Có người nghĩ Nguyễn Sinh Huy trốn vào Sàig̣n cũng vào năm này rất có thể đă gặp Hồ Chí Minh trong tháng Hai hoặc tháng Ba trong mục đích thảo luận với cụ Phan Chu Trinh về cuộc xuất dương để sau đó có thể gởi gấm Hồ Chí Minh cho cụ Phan Chu Trinh.
Cũng vào thời điểm này, nhờ sự can thiệp của Liên đoàn Nhân quyền, cụ Phan Chu Trinh được trả tự do, đồng thời được Bộ trưởng Thuộc địa, ông Adolphe Messimy chấp nhận cho sang Pháp với khoản trợ cấp hàng tháng là 150 quan và một học bống cho người con là Phan Châu Dật, cả hai đi như thành viên của “Đoàn Giáo dục Đông Dương tại Pháp” (10). Chắc chắn trường hợp xuất dương của cụ Phan cùng với người con dă trở thành điển h́nh khơi dậy mănh liệt ở Hồ Chí Minh ḷng ham muốn bỏ xứ sang Pháp, may ra có t́m được vận hội mới cải thiện tương lai chăng?
Sự có mặt của cụ Phan ở Pháp với tinh thần cầu tân học, lănh hội văn minh Tây phương, đă được chánh giới và báo chí Pháp đê cập đến với nhiều thiện cảm. Trường hợp cụ Phan đă làm dấy lên trong giới thanh niên Việt Nam tại quê nhà một niềm hy vọng mới về thiện chí của người Pháp trong sứ mệnh khai hóa dân Việt Nam. Lời kêu gọi đẩy mạnh canh tân xứ sở để nhằm nâng cao dân trí bằng cái học mới đă trở thành đường lối hợp thời lúc bấy giờ.
Cái tâm lư chung của người dân xứ “An-nam” (dân miền Trung gần triều đ́nh Huế) lúc bấy giờ chắc chưa hết thôi thúc trong ḷng Hổ Chí Minh cái lư tưởng học để làm quan. Ở “xứ An-nam”, người dù có giàu có nhờ buôn bán thành công cũng không được dư luận trọng vọng bằng kẻ trong quan trường. Mà con đường làm quan theo chế độ mới không ǵ bằng xuất dương du học rồi trở về xứ làm việc. Trong trường hợp Hồ Chí Minh, nếu xuất dương học hành thành công, khi trở về xứ chắc chắn sẽ chiếm được địa vị xă hội tết đẹp hơn là ở lại trong xứ. Việc từ Pháp trở về với cái học tại Pháp chắc chắn sẽ giúp ông cởi bỏ ảnh hưởng của cái án cũ của phụ thân hăy c̣n đeo đẳng làm đen tối tương lai ông ở quê nhà.
Tâm lư xă hội và suy nghĩ cá nhân trong hoàn cảnh gia đ́nh tan nát, cha bị án mất chức, tài sản không có, đă đưa Hồ Chí Minh đi đến sự chọn lựa con đường t́m cho ḿnh một tương lai mới và đồng thời giải quyết cuộc sống tạm thời, cho chính bản thân và khả dĩ giúp được phụ thân và gia đ́nh. Đó là ư nghĩa cụ thể của đơn xin vào học trường thuộc địa của Hồ Chí Minh gởi cho Tổng trưởng Bộ Thuộc địa và Tổng thống Pháp, ngày 15 tháng 9 năm 1911 ngay khi tới Mar-seille.
Hồ Chí Minh bỏ dở chương tŕnh học ở Huế v́ nhận thấy khó tiến thân. Cái học khoa cử cũ đă lỗi thời, triều đ́nh càng ngày càng mất uy quyền trước đà ổn định của chế độ mới, tuy cái học khoa cử cũ ở Huế măi đến năm 1919 mới chấm dứt. C̣n cái học mới th́ chưa được mở mang đúng mức, mà chỉ là một phần chương tŕnh trung học của Pháp ghép vào học tŕnh của Quốc Học Huế. Việc Hồ Chí Minh quyết định bỏ học và xuất dương là để thay đổi hoàn cảnh học, để thực hiện tinh thần ham học cầu tiến của ông. Và lư tưởng học hành để “giúp nước giúp dân” vẫn c̣n gắn bó chặt chẽ với ông, ít nhất cho đến những ngày đầu đặt chân đến hải ngoại. "Tôi ao ước trở thành hữu ích cho nước Pháp đối với đồng bào của tôi và đồng thời có thể giúp đồng bào tôi hưởng được những ích lợi của học vấn... ".
Như đă nói trên đây, việc Nguyễn Sinh Huy bị án mất chức đă đè nặng tâm tư Hồ Chí Minh không ít. Khi biết cụ Phan chu Trinh v́ hô hào cải thiện chế độ thực dân ở Việt Nam bằng thực thi dân chủ, nhân quyền, bị án tù, mà c̣n nhờ được Liên đoàn Nhân quyền vận động trả tự do, được phép sang Pháp cùng con, Hồ Chí Minh không khỏi hy vọng nhờ ngă này mà vận động nhằm phục hồi địa vị của phụ thân. Mà cụ thể, người trong cuộc là cụ Phan Chu Trinh vốn bạn
đồng khóa với phụ thân của ông. Sự tính toán này đă được chính Hồ Chí Minh bày tỏ với cụ Bùi quang Chiêu nhân cùng chuyến đi Pháp trên tàu “L'Amiral Latouche-Tréville” (11) .
Nhưng đơn xin nhập học trường thuộc địa của ông không được chấp thuận. Thế là mộng làm quan bất thành. Hồ Chí Minh chỉ c̣n đeo đuổi nguyện vọng đi làm lănh lương để dành tiền gởi về giúp cha và gia đ́nh. Điều này, ông đă thực hiện được vài lần khi ông tới Colombo tháng 10 năm 1911 và tới Nữu-ước tháng 12 năm 1912, ông gửi bưu phiếu về cho phụ thân qua trung gian Công sứ người Pháp tại Huế. “... T́nh cảnh của tôi vô càng đau đớn v́ sống xa gia đ́nh, rất ít khi nhận được tin tức của gia đ́nh (cha và anh chị), ḷng muốn giúp đỡ mà không được”(12).
Ít ra cho đến lúc này, Hồ Chí Minh qua những dữ kiện cụ thể trên, hoàn toàn chưa có ư định bỏ xứ ra đi để “t́m đường cứu nước” v́ đă không chấp nhận nổi chế độ thực dân hà khắc và chế độ quân chủ phong kiến lạc hậu ở Việt Nam. Mặt khác cũng chưa thấy có dấu hiệu nào chỉ Hồ Chí Minh nặng ḷng yêu nước do truyền thống gia đ́nh cách mạng hết cả.
3. Những sự thật nổi cộm trong đời tư Hồ Chí Minh.
Những tài liệu chánh thức về Hồ Chí Minh, từ tiểu sử đến hoạt động chính trị sau này được chế độ cộng sản ở Việt Nam ấn hành rất phong phú. Những ấn phẩm này viết rất rơ về đời tư của Hồ Chí Minh, những ngày tháng Hồ Chí Minh xuống tàu từ hải cảng Nhà Rồng để “xuất dương t́m đường cứu nước”, những chặng đường Hồ Chí Minh dừng lại, ghé qua, một cách vô cùng tỉ mỉ, cho đến ngày Hồ chỉ Minh đến Paris và ở lại để bắt đầu cuộc đời hoạt động chính trị vào tháng 12 năm 1917. Tuy nhiên những tài liệu ấy lại không nhắc đến một số việc hiển nhiên, nổi cộm, nằm ngay trong đời tư của Hồ Chí Minh. Không biết, sơ sót, hay theo quán tính là chỉ nói điều ǵ tốt cho chủ trương, cho chế độ, mặc dù đó là sự thật khách quan cũng không nhất thiết phải tôn trọng?
Từ Đại hội Tours năm 1920, Hồ Chí Minh được dư luận tranh đấu ở Pháp biết qua tên Nguyễn Ái Quốc.
Tên Nguyễn Ái Quốc đă được cảm t́nh của độc giả Pháp. Đó là bút hiệu chung của các cụ Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền. Theo Hồ Hữu Tường (13), lúc đầu bút hiệu chung ấy là Nguyễn Ố Pháp. V́ những bài viết chống thực dân Pháp nên tác giả Nguyễn ái Quốc bị cảnh sát đ̣i. Cụ Phan Chu Trinh bèn đưa trát cho Hồ Chí Minh. Ông cầm trát đến tŕnh cảnh sát và nói: “Nguyễn Ái Quốc là tôi. May mà trát gởi đến nhà chú tôi là Phan Chu Trinh, nên được chú tôi đưa lại. Không th́ lạc mất rồi. Từ rầy về sau, hễ muốn kêu tôi th́ gởi thẳng tới địa chỉ của tôi.”
Do cuộc gặp gỡ này mà cảnh sát Pháp biết được “Nguyễn Ái Quốc” bằng xương bằng thịt. Khi cụ Phan Chu Trinh đến Paris, cụ Phan Văn Trường cùng với cụ Phan Chu Trinh thành lập “Đồng bào Ái hữu Hội”, đến năm 1914, đổi ra “Hội những người An-nam yêu nước”. Để tránh bị cảnh sát theo dơi, các cụ đồng ư để Hồ Chí Minh sử dụng tên Nguyễn Ái Quốc và lo sinh hoạt cho Hội. Sau này, tài liệu chánh thức viết là Hồ Chí Minh có tên Nguyễn Ái Quốc và đứng ra thành lập Hội. Tiếm dụng sự thật !
Nhờ tư cách là thành viên của Hội và sự giới thiệu của các Cụ, Hồ Chí Minh bắt đầu quen biết và giao thiệp với chánh khách tả phái của Pháp. Tiếp theo, Hồ Chí Minh gia nhập đảng Xă hội Pháp. Việc gia nhập đảng Xă hội Pháp, Hồ Chí Minh tâm sự là để cho tụi tây đầm phải gọi ḿnh bằng “đồng chí” hoặc ít ra cũng là “Ông Nguyễn” (14) . Tâm lư chạy theo hư danh này c̣n được thể hiện đậm nét hơn ở thư của ông gửi cho Công sứ An nam, từ Nữu-ước, ngày 15-12- 1912, kư tên “Paul Tất Thành”.
Về đời sống tâm t́nh của Hồ Chí Minh, các tài liệu của chế độ đều đề cao Hồ Chí Minh như bậc thánh, vượt trên thường t́nh con người về t́nh ái, về quan hệ nam nữ, mà trọn đời Hồ Chí Minh chỉ biết phục vụ cho quốc gia dân tộc. Cái ham muốn duy nhất của Hồ Chí Minh là đất nước mà thôi. Việc Hồ Chí Minh không vợ con đă trở thành huyền thoại của con người thờ chủ nghĩa độc thân khắc kỷ. Nhưng rủi thay, sự thật lại khác hẳn. Ngay những ngày đầu đặt chân đến Paris, sống bằng nghề sửa ảnh, Hồ Chí Minh đă nếm mùi thất t́nh với cô đầm tên Bourdon ( 15). Về sau, khi ở Mạc tư Khoa, đảng cộng sản Nga cung cấp cho Hồ Chí Minh một người vợ (hay cần vụ ?). Khi Hồ Chí Minh bị cảnh sát Hồng kông bắt ở Cữu long th́ ông ta đang sống với một thiếu nữ Tàu tên là Lư Sâm. Ngoài ra, tướng Long Vân của Vân Nam đă từng tiếp Hồ Chí Minh tại doanh trại của ông tại Côn minh và “thu xếp” riêng cho Hồ Chí Minh sống chung với một gái Tàu.
Nhưng chuyện nổi bật nhất về đời tư của Hồ Chí Minh vừa được khám phá trong gần đây, sau khi chế độ cộng sản Liên xô sụp đổ, là Hồ Chí Minh đă chính thức lấy nữ đồng chí Nguyễn thị Minh Khai làm vợ. Nhờ văn khố lưu trữ tài liệu của các “công dân quốc tế” ở Mạc Tư Khoa mở cửa cho các nhà nghiên cứu mà bà Sophia Quinn-Judge (16) đă khám phá ra sự thật trên đây của Hồ Chí Minh với Nguyễn thị Minh Khai. Cũng theo tài liệu của Nga, do Bà Sophia Quinn-Judge thuật lại th́ Hồ Chí Minh nào phải là một con người khắc khổ, không bao giờ nghĩ đến đàn bà con gái. Ông đă từng tán tỉnh cả vợ chưa cưới của Chu ân Lai và đă chinh phục một nữ cán bộ Nga gần gũi với ông v́ có nhiệm vụ hướng dẫn ông.
Vẫn theo tác giả Sophia Quinn-Judge, vào năm 1934, Hồ Chí Minh ăn mặc rất sang trọng theo thời trang Âu châu, chớ không phải y phục đơn giản của giai cấp lao động vô sản. Mấy năm sau, ông trở lại nhà của Neiya Zorkaya (mà bà mẹ là một cán bộ quốc tế cộng sản quan trọng, đặc trách các nước Đông Dương) với một người đàn bà Việt Nam rất đẹp, ăn mặc sang trọng, dùng loại nước hoa nhập cảng đắt tiền và được ông giới thiệu là vợ, tên Phan Lan, mà Phan Lan là bí danh của Nguyễn thị Minh Khai (17).
Sau Đệ nhị thế chiến, Neiya Zorkaya tản cư trở về thấy Hồ Chí Minh để lại nhà cô một va-li đầy ắp quần áo đẹp và cô Neiya Zorkaya lấy ra sửa lại mặc suốt trong nhiều năm.
Nguyễn thị Minh Khai có lẽ là người đàn bà đă để lại nhiều dấu ấn sâu đậm nhất về t́nh cảm trong chiều sâu tâm hồn của Hồ Chí Minh. Nguyễn thị Minh Khai là người cùng quê với Hồ Chí Minh và gặp Hồ Chí Minh ở Mạc tư Khoa để bắt đầu công tác chính trị. Hằng ngày, Hồ Chí Minh đến huấn luyện Nguyễn thị Minh Khai và Lư Phương, một cô gái khác cùng ở chung với Minh Khai và vào độ 16 tuổi. Hai cô gái đă có lần tỏ ra băn khoăn lo lắng cho Hồ Chí Minh, dưới tên Lư Thụy, v́ thấy ông “gầy yếu mà vẫn ăn uống rất kham khổ. Bữa cơm chỉ toàn rau. Ông chi tiêu cho bản thân rất tiết kiệm, nhưng khi đến thăm các cháu thiếu niên, bao giờ đồng chí cũng có một gói bánh nhỏ” (18).
Kỷ niệm “mối t́nh đồng chí” ở Mạc Tư Khoa vào thập niên 30 phải có ảnh hưởng ít nhiều đến việc ra đời cái tên Hồ Chí Minh và trở thành tên chính thức tồn tại cho đến ngày nay.
Theo sử gia Trung quốc, ông King Chen, Hồ Chí Minh trong lúc là đảng viên đảng cộng sản Trung quốc cho đến năm 1940, mang tên là Hồ Quang. Năm 1942, Hồ Chí Minh sang Trung quốc vận động đảng cộng sản Trung quốc giúp
đỡ Phong trào Giải phóng. Để tránh sự phát hiện của Trung hoa Quốc dân đảng, Hồ Chí Minh suy nghĩ phải t́m cho ḿnh một tên mới. Nguyễn thị Minh Khai là người yêu, là vợ công khai, vừa bị Pháp xử bắn tháng 8 năm 1941, sau vụ bạo động năm 1940 tại miền Nam bị thất bại đă thôi thúc ông phải t́m cho ông cái tên có liên quan đến Minh Khai để kỷ niệm, để gắn liền với ông suốt đời, và để từ đó đi vào lịch sử cộng sản với ông. Hô chí Minh đổi chữ Quang ra chữ Minh, hai từ cũng gần đồng nghĩa, mà liên quan với một phần của tên Minh Khai. Thêm chữ Chí để nói lên tâm t́nh của ông với Minh Khai là “Trọn vẹn”, “đến nơi đến chốn”. Có ǵ gói ghém nỗi ḷng kín đáo hơn ?
Nguyễn Thái Học thừa kế Phan Bội Châu năm 1925 sau khi cụ Phan bị Hồ Chí Minh bán cho mật thám Pháp lấy 100,000 đồng, năm 1927 tổ chức lại Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Hà nội. Đến đầu năm 1930, ông ra lệnh khởi nghĩa, thất bại tại Yên Bái. Hay tin này, Hồ Chí Minh mửng rỡ vô cùng v́ sẽ nhảy vào chiếm chỗ trống này: “Lần khởi nghĩa này (chỉ vụ Yên Bái) giai cấp tư sản (VNQDĐ) đă mất hết ảnh hưởng trong việc vận động giải phóng dân tộc, đảng ta được tha hồ tổ chức giai cấp công nhân và quần chúng nông dân lao động vào đảng và đảng (ĐCS) trở thành lực lượng duy nhất thực hành lănh đạo cách mạng, chống đế quốc chủ nghĩa.” ( 19) .
Nắm lấy cơ hội này, Hồ Chí Minh cho phát động chống Pháp bằng khẩu hiệu “Kết hợp đấu tranh đ̣i cải thiện sinh hoạt”, thúc đẩy nông dân nổi dậy cướp chính quyền ở nhiều nơi và điển h́nh cho thất bại là vụ Sô viết Nghệ Tĩnh. Hồ Chí Minh gởi ngay cho Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam một bức thư khiển trách và qui trách nhiệm cho đảng ở Việt Nam.
Về việc này, Trường Chinh viết: “Mùa thu 1930 và đầu 1931 Hồ Chủ tịch hoạt động với cách mạng Trung quốc, Người tuy không có trực tiếp lănh đạo công tác ở trong nước nhưng vẫn mật thiết chú ư đến công cuộc cách mạng ở trong nước” (20).
Sự thật, trong thời điểm này, Hồ Chí Minh ngoài nhiệm vụ lănh đạo cộng sản Việt Nam phối hợp với cộng sản quốc tế c̣n đảm trách nhiệm vụ trọng yếu ở Viễn Đông là thành lập tại Thượng hải “Cộng sản Quốc tếViễn Đông cục” do ông trách nhiệm.
Vậy thái độ của Hồ Chí Minh trong vụ Sô Viết Nghệ Tĩnh thất bại chỉ là nhằm đổ trút trách nhiệm cho kẻ khác như sau này ông đă làm trong vụ cải cách ruộng đất ở miền Bắc vào giữa thập niên 50.
Đầu năm 1932, Hồ Chí Minh vừa được thả ra, phải rời Hương cảng, lại bị bắt lại ở Singapour trả trở về Hương cảng. V́ bị bịnh phổi nên ông được đưa vào bệnh viện, rồi bỗng biến mất tung tích. Có người xác nhận việc Hồ Chí Minh được thả lần này do ông nhận công tác của t́nh báo Anh. Cũng trong những năm Hồ Chí Minh ở Trung quốc lo tổ chức tuyển mộ, huấn luyện cán bộ cộng sản cho Việt Nam, ông đă t́m cách liên lạc với những thanh niên Việt Nam qua Trung quốc để theo học tại trường Hoàng Phố trong chương tŕnh của Việt Nam Quốc Dân Đảng và thuyết phục những người này chuyển qua cộng sản. Ai từ khước, ông liền thông báo tên tuổi, cả h́nh ảnh, chuyến đi cho Pháp bắt. C̣n người nào chịu theo cộng sản, khi măn khóa, ông hướng dẫn đến mộ liệt sĩ Phạm hồng Thái làm lễ tuyên thệ: “Nguyện hiến thân cho Tổ quốc Việt Nam dù có phải hy sinh tính mạng cũng không từ” (21). Âm mưu này đă làm xúc động không ít giới thanh niên và đánh lạc hướng sự chọn lựa con đường tranh đấu của họ không c̣n theo động cơ yêu nước thật sự.
Về con người b́nh thường và đời tư, qua những việc đă làm từ lúc rời Việt Nam, đến Pháp, qua Mạc tư Khoa và Trung quốc, Hồ chí Minh chưa có thể tỏ lộ ḷng yêu nước, tinh thần cách mạng, đạo đức con người, mà Hồ Chí Minh chỉ là một con người gian trá, thiếu tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng thỏa hiệp cho tư lợi, cho tham vọng cá nhân.
Để có ư niệm rơ ràng về điều gọi là tiểu sử Hồ Chí Minh mà nhiều nhà nghiên cứu nghiêm chỉnh đă điên đầu v́ bị du vào một vùng c̣n nh́êu chỗ bao phủ đầy bóng tối, chúng tôi nghĩ không ǵ hơn mượn lại nhận xét của Boris Souvarine, người đă biết Hồ Chí Minh: “... tôi đang đưa ra ánh sáng một bí mật lớn, với điều kiện là đừng lập lại cho ai nghe hết cả, đó là quá khứ của con người vĩ đại này (Hồ Chí Minh) không có lịch sử. Không có điều ǵ để nói về lịch sử của con người này. V́ vậy mà những người viết tiểu sử Hồ Chí Minh đă phải trổ tài lấp đầy khoảng trống bằng những thứ chuyện nhảm nhí và lố bịch”. (21)
II. Sự nghiệp Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh nh́n hai bức ảnh của Mao Trạch Đông và Staline, nói với Phạm Văn Đồng và Vơ Nguyên Giáp rằng: “Bác có thể có khuyết điểm, chớ hai vị nầy là người hoàn toàn không có khuyết điểm. Bác đề nghị đưa tư tưởng Staline và Mao Trạch Đông vào Hiến pháp làm nền tảng cho tư tưởng lănh đạo của đảng ta.”
Đối với Hồ Chí Minh, tư tưởng Mác-Lê không bao giờ là công cụ để giải phóng dân tộc. Phải chăng v́ thế mà ông đă ghi trong di chúc, được sửa đi sửa lại nhiều lần, khi chết sẽ đi gặp “cụ Mác cụ Lê” và hết ḷng theo đuổi thực hiện cách mạng vô sản thế giới ?
Như vậy đâu là tư tưởng của Hồ Chí Minh ?
l. Ḷ quốc tế cộng sản.
Nhờ những bài báo được các cụ Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền sửa chữa - lúc ở Paris 17e, mỗi ngày Hồ Chí Minh đều đến Paris 13e để đưa bài vở cho hai cụ sửa chữa - tiếp tục kư tên Nguyễn Ái Quốc lên án chế độ thực dân ở Đông Dương mà Hồ Chí Minh được Kominteru chú ư v́ lúc bấy giờ họ đang trù liệu t́m người tổ chức cách mạng ở các nước thuộc Á châu và truyền bá tư tưởng Mác-xít đến đó. Hơn nữa, Đại hội IV (11/1922) đă quy định sách lược tổ chức những phong trào giải phóng dân tộc ở những nước Âu châu chưa theo cộng sản. Khẩu hiệu “Mặt Trận Vô Sản duy nhứt” ở Âu châu liền được đổi ra là “Mặt Trận phản đế duy nhứt” để áp dụng ở phương Đông nhằm động viên tất cả lực lượng cách mạng làm một sức mạnh duy nhứt.
Như vậy chánh sách tuyên truyền của Nga đă được tổ chức lại cho phù hợp với phương Đông.
Hồ Chí Minh được mời qua Mạc Tư Khoa và ông đă đi khỏi Paris vào giữa năm 1923. Theo tài liệu chánh thức th́ ông đến Petrograd giữa mùa Đông, hôm sau ngày chết của Lénine nên ông đă vội viết bài tưởng niệm gởi báo Pravda đăng liền vào ngày 27 tháng Giêng 1924. Sự thật th́ Hồ Chí Minh đă có mặt ở Đại hội của Quốc tế Nông hội từ 10 đến 15 tháng 10 năm 1923 (22). Sự bịa đặt cố ư trên đây nhằm để nói lên tại sao Hồ Chí Minh chưa một lần được diện kiến con người mà ông suốt đời tôn kính như tổ tiên. Từ thành viên của thường vụ quốc tế nông hội, Hồ Chí Minh sau đó được nhận vào Komintern, cũng vẫn với tư cách đại diện cho các nước thuộc địa.
Luôn luôn là đại diện của đảng Cộng sản Pháp, ông tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản kỳ V. Trước diễn đàn, ông tố cáo đảng Cộng sản Pháp không làm được điều ǵ thiết thực cho các nước thuộc địa. Khi Quốc tế Cộng sản thành lập ủy ban Quốc tế Tuyên truyền th́ Hồ Chí Minh là thành viên. Dưới chế độ Staline, đảng cộng sản của các nước thuộc địa phải tuyệt đối trung thành với quyền lợi của Nga v́ cách mạng thế giới phải tùy thuộc vào sự sống c̣n và sức mạnh của Nga. Tất cả các đảng cộng sản ngoại quốc phải tuyệt đối áp dụng đường lối do Mạc Tư Khoa vạch ra. Do đó mà đảng Cộng sản Trung Quốc được lệnh phải liên kết với Quốc Dân Đảng v́ Nga đang giữ quan hệ tốt với đảng hữu khuynh này. Từ đó, Mạc Tư Khoa đề ra cho Đông phương một sách lược hành động là liên minh với giai cấp tư sản trong xứ và chiến lược là cuộc “cách mạng dân chủ tư sản”. Cho đến ngày được điều động đến Quảng Đông hoạt động với Borodine, trưởng phái bộ của Nga bên cạnh chánh phủ quốc gia Trung Quốc và đặc trách thực hiện chính sách cửa Komintern ở Viễn Đông, Hồ Chí Minh trước sau một mực thi hành nghiêm chỉnh đường lối của Mạc Tư Khoa. Trong nhiệm vụ mới ở đây, Hồ Chí Minh lo tuyển người, huấn luyện và tổ chức. “Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội” thành h́nh từ phân bộ Việt Nam của “Liên hiệp các Dân tộc Á châu bị áp bức”, một tổ chức của Komintern đặc trách cho toàn Viễn Đông, và phối hợp hoạt động của các nhóm chống thực dân ở Đông Nam Á, tiền thân của đảng cộng sản ở các nơi đó sau này.
Đang làm việc cho Nga, bỗng Hồ Chí Minh trở thành trưởng ban tuyên truyền của đảng Cộng sản Trung Quốc.
Năm 1927, sau khi sự hợp tác giữa Mạc Tư Khoa và Quốc Dân đảng đổ vỡ, Hồ Chí Minh trở về Mạc Tư Khoa, đón nhận những người Việt Nam từ nhiều nơi đến để đưa họ vào trường Đại học Lao Động Phương Đông (trường Đại học Staline) học miễn phí. Chính Hồ Chí Minh cũng có học ở đây trước kia nhiều năm. Lúc bấy giờ, theo ông kể lại th́ trường có 1025 sinh viên trong số đó có 151 nữ, 895 người là đảng viên cộng sản. Thành phần được chia như sau:
- 547 người là nông dân
- 268 người là công nhân
- 210 người là trí thức.
C̣n 3 người thuộc thành phần khác. Trong số đó có 75 “sinh viên” tuổi từ 10 đến 16 tuổi (23).
Qua đây, chúng ta đánh giá được tầm vóc và tŕnh độ của những người theo học ở đây sau khi măn khóa.
Sau cái thất bại của đảng Cộng sản Trung Quốc trước phe Quốc Dân đảng, Komintern trù liệu mở mặt trận mới cho Viễn Đông, đặt căn cứ ở Singapore năm 1928. Nhận chỉ thị từ văn pḥng Đông Phương vụ, Hồ Chí Minh qua Thái Lan tổ chức người ở đây để chứng tỏ cái thất bại của đảng Cộng sản Trung Quốc vừa rồi hoàn toàn không ảnh hưởng đến sự bành trướng của quốc tế cộng sản.
Ngày 3.2.1930, Hồ Chí Minh sáp nhập 3 đảng Cộng sản (An Nam Cộng sản đảng, Đông Dương Cộng sản đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) làm một: Việt Nam Cộng sản đảng.
Khi các nhà lănh đạo Đệ tam Quốc tế phê chuẩn sự ra đời đảng Cộng sản Việt, họ không khỏi quan ngại đảng Cộng sản Việt Nam sẽ có xu hướng đi lệch hướng bởi đảng có vẻ bị g̣ bó hẹp ḥi trong khuôn khổ một quốc gia. Hiểu được điều này, Hồ Chí Minh vội đổi tên ra đảng Cộng sản Đông dương và xin gia nhập thẳng vào Komintern, thay v́ trực thuộc cơ sở mới ở Singapore. Do đó mà đảng Cộng sản Việt Nam ngoan ngoăn xếp ḿnh theo chỉ thị của Mạc Tư Khoa (24) .
Cương lĩnh sơ lược được ban hành ngay, hoàn toàn lập lại những điều đă được thông qua ở Đại hội VI: “tinh thần dân tộc, t́nh cảm quốc gia là ngược lại tinh thần quốc tế vô sản; hô hào lật đổ giai cấp tư sản ở Việt Nam cũng giống như đối với kẻ thù thực dân pháp, ưu tiên cho đấu tranh giai cấp.” Và cho tới ngày nay, tư tưởng của HCM vẫn không hề thoát ra khỏi đường hướng căn bản này.
Lo ngại sức bành trướng của Hitler, Staline bắt tay với Pháp và Anh, các đảng cộng sản được lệnh không làm sai chiến lược này, nghĩa là không nên chống lại bọn “xă hội phản bội” mà phải thỏa hiệp với họ để thành lập mặt trận nhân dân cùng chống Phát-xít. Đó là khẩu hiệu của Đại hội VII đề ra.
Tháng 7 năm 1939, Hồ Chí Minh đưa ra bản hiệu triệu kêu gọi Ban chấp hành trung ương của đảng Cộng sản Đông dương hăy tuân theo những nguyên tắc chỉ đạo là áp dụng những chỉ thị của Đệ tam Quốc tế và phối hợp hoạt động với đảng Cộng sản Pháp. ông viết “Hiện tại, đảng không nên đưa ra những yêu sách lớn như Độc lập, Quốc hội, mà nên nỗ lực thành lập một mặt trận Dân tộc Dân chủ rộng răi bao gồm không chỉ người Đông dương mà cả người Pháp tiến bộ ở Đông dương, không chỉ từng lớp nhân dân lao động mà cả giai cấp tư sản dân tộc. . . Mặt trận Dân chủ Đông dương sẽ quan hệ tốt và chặt chẽ với Mặt trận B́nh dân Pháp.. .”
Bản văn này, nhân danh cuộc chiến đấu chống đế quốc Phát-xít và “bảo vệ Liên Xô, tổ quốc của cách mạng xă hội chủ nghĩa” kêu gọi hăy tạm thời quên đi việc đ̣i hỏi độc lập dân tộc.
Vào đầu năm 1940, Hồ Chí Minh trở lại Côn Minh để về Cao Bằng vào đầu năm sau. Vẫn với tư cách đại diện Quốc tế Cộng sản, ông chủ tọa Hội nghị 8 Ban chấp hành Trung ương của đảng Cộng sản Đông dương và cho ra đời Mặt trận Việt minh.
Theo mô h́nh Mặt trận Duy nhứt, Mặt trận Việt minh chỉ là lập lại sách lược được đảng Cộng sản Trung Quốc áp dụng với Quốc Dân đảng và giai cấp tư sản Trung Quốc để chống lại Nhựt. Và cũng có thể nói sự thành lập Mặt trận Việt minh của Hồ Chí Minh vẫn không đi ra ngoài sách lược mà Quốc tế Cộng sản đă đề ra năm 1939 để chống lại Phát-xít, rồi sau đó, chính Staline kư hiệp ước Nga-Đức với Hitler để hóa giải áp lực của Đức ở phương Tây. Từ chủ trương chống Phát-xít, Quốc tế Cộng sản đă cấu kết với Phát-xít Hitler tránh khỏi ảnh hưởng đến t́nh h́nh của cộng sản ở các nơi khác, cả ở Việt Nam.
Thế mà việc Nga bị Đức tấn công trước kia đă củng cố quan điểm của Hồ Chí Minh là Việt Nam phải được hội nhập vào một chiến lược toàn cầu của Quốc tế Cộng sản, từ Âu châu kéo dài đến tận Viễn đông.
Đến đây chúng ta nhận thấy mọi quyết định, mọi hoạt động của Hồ Chí Minh từ lúc bắt đầu sự nghiệp chính trị không đi ra ngoài đường lối chủ trương của Quốc tế Cộng sản và tuyệt đối trung thành phục vụ cho quyền lợi của Quốc tế Cộng sản, không hề quan tâm đến quyền lợi quốc gia dân tộc.
Năm 1954, Hồ Chí Minh chấp nhận chủ quyền một phân nữa nước Việt Nam là thể theo lời khuyên của Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa nhằm tránh gây cho Tây phương một thất bại quá ác nghiệt có thể đưa đến phản ứng khốc liệt của Hoa Kỳ, kể cả việc dùng bom nguyên tử. (25)
Ghi chú: Mặt trận Việt minh phát xuất từ Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội, do cụ Hồ Học Lăm thành lập ở Trung Quốc, kết hợp Việt Nam Độc Lập Đảng và Việt Nam Quang phục Hội và một số nhân sĩ, đoàn thể khác.
Sau này Hồ Chí Minh cho cán bộ như Phạm Văn Đồng gia nhập để lủng đoạn rồi nắm lấy luôn tổ chức. Hoàn toàn không phải do HCM thành lập hoặc có sáng kiến.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh
Phải nói ngay rằng Hồ Chí Minh không có tư tưởng. Bởi khẩu hiệu của Cộng sản Việt Nam trước đây để huấn luyện cán bộ là “Chủ nghĩa Mác-Lê, tư tưởng Mao Trạch Đông, tác phong Hồ chủ tịch”. Nghĩa là HCM chỉ có tác phong chớ không có tư tưởng. Mà tác phong Hồ chủ tịch chính là con người trọn vẹn và sự nghiệp chính trị của ông th́ đầu thế kỷ cho đến ngày chết, như thế nào, chúng ta đă biết. Hơn nữa về tư tưởng, có người hỏi HCM sao Bác không viết ra những suy nghĩ vĩ đại của Bác, th́ HCM trả lời là đă có Staline và Mao Trạch Đông viết ra rồi. Chúng ta chỉ cần gia sức học tập tư tưởng của hai vị ấy là đủ rồi !
“Bác Hồ ta lúc nào cung khiêm tốn” !
Nhưng nếu phải làm bản tổng kết về cuộc đời hoạt động chính trị của Hồ Chí Minh để xem sau khi chết HCM để lại được ǵ cho hậu thế, th́ công việc có lẽ tốt hơn hết, dứt khoát tránh tất cả mọi phê phán có tính cách chủ quan, hoặc của bên đề cao như đảng Cộng sản hiện nay, hoặc của bên chống đối như khối người Việt hải ngoại và phần lớn dân chúng trong nước, là hăy trả HCM về với Quốc tế Cộng sản. Trước sau HCM vẫn trung thành với tư tưởng Mác-Lê và tranh đấu cho chủ nghĩa xă hội, thực hiện cách mạng thế giới vô sản.
Chúng ta để sang một bên những bài viết đề cao HCM nhân sắp kỷ niệm lễ Độc lập 2.9 và nhất là bài kết hợp tư tưởng khoan dung của truyền thống Việt Nam với HCM (kết hợp trơ trẽn) để chào mừng năm 1995 là năm Quốc tế Khoan dung của UNESCO chủ xướng, mà hăy nh́n lại những biến cố vừa qua ở Liên Xô và Đông Âu để có ư niệm cụ thể về những ǵ HCM lưu lại. Có thể nói, mà câu nói xem như là một công thức tổng quát, là “Cộng sản chưa bao giờ thực hiện được điều ǵ mà họ đề nghị.” Ở Việt Nam, họ đề nghị “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” bằng quá tŕnh xây dựng một “xă hội công bằng, không có người bóc lột người...” vẫn không thể thực hiện được.
Ngày nay Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chẳng những không để lại được điều ǵ có ích lợi chung về sau, mà c̣n xóa đi “Cách mạng tháng Mười”, khởi điểm cho hơn 70 năm cầm quyền thống trị gần phân nửa quả địa cầu một cách trọn vẹn làm cho mọi người có cảm tưởng như “Cách mạng tháng Mười” chưa bao giờ có vậy.
Sự sụp đổ của khối Cộng sản là một sự sụp đổ sạch trơn, khác hơn cách mạng Pháp và đế quốc Nă Phá Luân. (26)
Cách mạng Pháp để lại cho nhân loại tinh thần cộng ḥa, giá trị nhân quyền. Đế quốc Nă Phá Luân để lại cho Âu châu những nước kẻ thù của Đại đế, những tư tưởng và những định chế dựa theo đó người ta tổ chức đất nước về sau này.
Các triều đại Việt Nam c̣n để lại những di sản tinh thần có giá trị văn hóa cao c̣n chói lọi cho đến ngày nay. Hội nghị Diên Hồng, tinh thần tôn trọng nhân quyền, các bộ luật như luật Hồng Đức vẫn c̣n áp dụng măi về sau này... Trái lại, Lê-nin không để lại được một di sản nào hết. Cách mạng tháng Mười là khởi điểm mà cũng là chung cuộc của hơn 70 năm chế độ Cộng sản; Cộng sản tiêu tan thành mây khói mà không hề bị chiến bại một lần trên chiến trường! Tất cả những ǵ được thành lập, được dựng lên với danh nghĩa “chủ nghĩa Mác-Lê”, kể cả bức tượng của Lê-nin, bổng chốc bị thanh toán sạch.
Theo Francois Furet, trong suốt thời gian mà Liên Xô chiếm địa vị siêu cường trên thế giới, làm kẻ thù phải nể sợ, thâu phục vô số chư hầu, chính Liên Xô lại không thể hiện được cho nhân loại một nền văn minh cộng sản. Tất cả các nước bu quanh Liên Xô tạo thành một bộ máy chiến tranh khủng khiếp, với một ư thức hệ lúc nào cũng t́m cách phố biến bám rễ khắp nơi. Thế mà khi Quốc tế Cộng sản giải thể, th́ không có một thứ ǵ ở đó c̣n tồn tại: Không để lại được như là di sản những luật lệ c̣n khả dĩ ứng dụng, những cơ chế có giá trị và cả lịch sử cũng không.
Khi Pháp chiếm trọn Việt Nam và thiết lập chủ quyền mới th́ người dân Việt Nam cảm nhận thân phận như những kẻ mồ côi cha. Bởi ở Việt Nam vào thời đó, không có ai có thể hiểu là có một đất nước mà không có vua! Theo phản ứng tâm lư, khi người ta mất cha, thiếu vắng cha, th́ lập tức phải đi t́m cha, cha ghẻ cũng được.
Phải chăng cái động cơ tâm lư miền sâu này đă thúc đẩy HCM vào đầu thế kỷ “đi t́m cha” thay thế cho cha đẻ mà ông đă mất v́ xa cách và giải quyết cho xong chỗ thiếu vắng người cha tinh thần là vua Việt Nam bị mất quyền ?
Người cha mà ông đă t́m được là Mác-Lê và ông vội vă, vượt qua bao nhiêu gian nan, rước về đặt lên ngôi vị c̣n bỏ trống tại Việt Nam.
Về phía nhân dân Việt Nam, vào thời điểm đó, cũng có cùng niềm khao khát tương tự, nên khi HCM đứng lên phát động công cuộc kháng chiến dành Độc lập, xưng với nhân dân là “Bác”, là “Cha già dân tộc”, HCM chiếm ngay một chỗ đứng trọn vẹn trong t́nh cảm của toàn dân. Nhưng địa vị này của HCM ngày nay c̣n tồn tại không?
Có điều đáng chú ư là từ khi trở về Việt Nam lănh đạo kháng chiến cho đến ngày nắm được chính quyền ở phân nữa đất nước, HCM không hề nhắc đến cha. Phải chăng nhắc đến cha là nhắc đến cái quá khứ mà ông c̣n là người con nặng t́nh cảm gia đ́nh, ảnh hưởng tư tưởng của cha và nặng ảnh hưởng của xă hội thời bấy giờ làm tổn thương đến quan điểm giai cấp và tinh thần cách mạng vô sản, thiếu tác phong HCM làm gương cho cán bộ ?
Kháng chiến giành Độc lập là lẽ phải, là lương tâm xă hội Việt Nam, nên toàn dân nỗ lực tham gia hy sinh tánh mạng, tài sản nhằm mục đích chung. Kháng chiến thắng lợi là công của toàn dân yêu chuộng tự do, dân chủ, là lẽ phải khách quan, hoàn toàn không có quan hệ xa gần ǵ với quốc tế cộng sản và tư tưởng Mác-Lê.
Trong vị trí của người quốc tế cộng sản, HCM chết, sự nghiệp của ông tan biến theo chế độ cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu. Riêng ở Việt Nam, HCM đă để lại một số thành quả v́ chế độ ở Việt Nam chưa cáo chung, đó là vụ cải cách ruộng đất, vụ Nhân Văn Giai Phẩm, vụ xét lại chống đảng ở miền Bắc và ở miền Nam và qua sự nghiệp của đám hậu duệ của ông, trại cải tạo, vùng kinh tế mới, cải tạo công thương nghiệp, vượt biển thu vàng …
Cải tạo công thương nghiệp v́ theo Hà Nội thành phần tư sản đă cấu kết với tư bản ngoại quốc, bốc lột nhân dân mà làm giàu. Ngày nay, đảng cộng sản Việt Nam qua Tổng bí thư Đỗ Mười đang nỗ lực vận động cấu kết với tư bản ngoại quốc và để làm giàu cho một số ít đảng viên có chức quyền - Đỗ Mười nghĩ sao ?
Ngày nay, những người đang tranh đấu cho dân chủ Việt Nam, ở trong nước, trong hàng ngũ đảng viên, ở ngoài nước, là những người muốn nối tiếp ḍng lịch sử dân tộc, tránh t́nh trạng khi chế độ cộng sản ở Việt Nam sụp đổ, đất nước lại rơi vào khoảng trống mênh mong v́ tất cả sẽ cuốn theo sự sụp đổ của chế độ mà không có ǵ c̣n sót lại.
Nhắc lại:
Đối với quốc tế, HCM đă bị xóa mờ vào năm 1990 (nhân lễ kỷ niệm 100 năm sinh nhật) cơ hồ như chưa bao giờ có HCM trên thế giới này.
Với sự vận động của Hà Nội qua một số nước Phi Châu, năm 1988, UNESCO mà Tổng giám đốc lúc bấy giờ là ông M'Bow, một người Phi Châu đen thân cộng, đă biểu quyết thuận làm lễ kỷ niệm 100 năm sinh nhật HCM. Theo quyết nghị của Hội đồng Điều hành UNESCO th́ UNESCO sẽ dành một ngân khoản lớn đài thọ tổ chức lễ tại trụ sở UNESCO, ấn hành tài liệu nói về sự nghiệp HCM, giúp Việt Nam một số tiền để tổ chức sinh nhật HCM ở tại Việt Nam.
Biết được tin này, một ủy ban Tố cáo Tội ác HCM liền được thành lập tại Paris 1989, vận động kiều bào ở khắp nơi phản đối quyết nghị của UNESCO. Hàng chục ngàn thư phản đối, nêu rơ tội ác của HCM đối với dân tộc Việt Nam, gởi đến UNESCO và qua ủy ban chuyển (*) . Đến ngày 19.5.1990, UNESCO không thi hành quyết nghị, mà chỉ cho ṭa Đại sứ Hà Nội ở Paris mướn một pḥng nhỏ trong trụ sở để tự tổ chức lấy buổi lễ với hơn 50 người Việt nam trong hội Việt Kiều yêu nước tham dự.
UNESCO không có đại diện tham dự. Chánh phủ Pháp và cả Ṭa Thị chính Paris cũng không có người tham dự.
Nguyễn Văn Trần
Chú Thích:
(1) Nguyễn đức B́nh, Tư tưởng của V.l. Lênin sống măi trong sự nghiệp
của chúng ta. Tạp chí Cộng Sản 5195.
(2) Nguyễn đức B́nh, Sđd.
(3) Tạp chí Cộng Sản 6/95: “HCM nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lư luận thiên tài của cách mạng Việt Nam”.
(4) D. Hémery, Approches Asie, Economica, Paris, 1992, trg 91. Nguyễn
Thế Anh, HCM L'homme et son Héritage, Đường Mới, Paris 1990 trg 13.
(5) D. Hémery, Jeưnesse d'un colonisé, Genèse d'un exil, HCM jusqu’en 1911,Economica. Paris 1992,trg 117.
(6) Trương vĩnh Kính, HCM tại Trung quốc. Bản dịch của Dương thượng Cần, VNHN, số 24, Hoa Kư, 1977.
(7) D. Hémery, Sđd, trg 118.
(8) D. Hémery, Sđd, các trang 102, 107, 108.
(9) D. Hémery, Sdd, trg 110, 111.
(10) “Groupe de l'Enseignement lndochinois en France” - Chánh sách của
Pháp nhằm đón nhận sinh viên Đông Dương và Tàu.
(11) Lời khai của cụ Bùi quang Chiêu với cảnh sát Sàig̣n ngày 21-9-1922. D. Henry. Sđd.
(12) Thư của HCM gởi cho Công sứ An-nam ngày 31-10-1911& 15/12/1912.
(13) Hồ hữu Tường, 41 năm làm báo, Hồi kư. Đông Nam á, Paris, 1984.
(14) Tưởng vĩnh Kính, Sđd VNHN số26, trg 80.
(15) Bức thư t́nh của HCM và thư trả lời của cô Bourdon c̣n lưu giữ ở Văn khố hải ngoại (Solotfom, série ll, Carton 14).
(16) Bài phát biểu tại Hội thảo ở Đại học Marseille ll, Aix, 6-95 về đề tài “Sources et Approches”.
(17) Phan Lan, bí danh của Nguyễn Thị Minh Khai, đại biểu phụ nữ Phương Đông tại Đại hội VII, phát biểu ngày 16-8-1935, xem truyện kư Nguyễn thị Minh Khai, của Nguyệt Tú, NXB Phụ Nữ, Hà Nội, 1980, trg 58 và kế tiếp.
(18) Nguyệt Tú, Sđd, trg 41.
(19) Do Tưởng Vĩnh Kính trích dẫn, Sđd, VNHN, số 30, Hoa Kỳ.
(20) Tưởng Vĩnh Kính trích dẫn, Sđd VNHN số 30, Hoa Kỳ.
(21) Tưởng Vĩnh Kính, Sđd, VNHN, số 28.
(22) Boris Souvarine, Est & Ouest no, 568, BXQuang trích dẫn. Đường Mới, HCM, L'homme etson Héritage, Paris, 1990, trg 5.
(23) Nguyễn Thế Anh, ltinéraire Politique de HCM, Đường Mới, Paris 1990, trg 21.
(22) Tưởng Vĩnh Kính, Sđd, VNHN số 26, trang 84.
(23& 24) Nguyễn Thế Anh, Sđd, trang 27.
(25) F. Furet, Le passé d'une illusion, R. Laffont, Paris 1995, trang 12.
(26) Ủy ban Tố cáo Tội ác HCM, gồm hầu như tất cả đoàn thể và nhân sĩ
ở Paris và Pháp (1989 - 1990). Ở Úc, có Cộng đồng Người Việt, vài đoàn thể
nữa, nhân sĩ có cụ Trần Văn Lắm. Thư phản đối Unesco - số thư lên đến
trên 20 ngàn - đă được Unesco chuyển giao cho đại diện Việt Nam tại
Unesco.
Tiểu sử:
Nguyễn Văn Trần

- Tiến sĩ Xă Hội Học (Paris, 1987).
- Thành viên sáng lập Tổ Chức Phục Việt Pháp (từ năm 1981).
- Chủ tịch ủy Ban Tố Cáo Tội ác Hồ Chí Minh trong vụ phản đối quyết định UNESCO làm lễ kỷ niệm 100 năm sinh nhật HCM (1988- 1990) .
- Đại diện Phong Trào Thống Nhất Dân Tộc & Xây Dựng Dân Chủ Tại âu Châu.
- Thành viên Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển (ở Đức).