Chính sách “Đổi Mới” hiện nay:
Phân tích và Phê phán
( Bài Tham luận tại cuộc hội thảo ngày 20.8.1995 tại Sydney ,Úc)
Tiến Sĩ Vơ Nhân Trí
Như ai cũng biết, chính sách “đổi mới” của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đă được đề ra từ Đại hội đảng lần thứ 6 (tháng 12, 1986). Gần 10 năm “đổi mới” đă trôi qua. Vậy ta thử xem coi t́nh h́nh hiện nay ra sao, cả về mặt kinh tế lẫn về mặt chính trị (1). Trong khuôn khổ bài này, chúng tôi chỉ nói lướt qua “đổi mới” Kinh tế mà thôi (2) và sẽ bàn nhiều về “đổi mới” chính trị.
I. “Đổi mới” Kinh tế
Với việc thực hiện chính sách “Kinh tế nhiều thành phần” (tức là kinh tế quốc doanh, tập thể, cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân và kinh tế gia đ́nh) và một số cải cách kinh tế quan trọng (c̣n được gọi là các “liệu pháp sốc nhỏ”, small shock therapy) trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp quốc doanh, giá cả, ngân hàng, nội và ngoại thương, hối đoái v.v... chủ yếu là từ năm 1989 trở đi, nền kinh tế Việt Nam đă đạt được một số kết quả khả quan trong những năm 1990-94. Và một trong những kết quả đó là sự tăng trưởng khá nhanh của Tổng sản phẩm Quốc nội (Gross Domestic Product, GDP). Theo số liệu thống kê chính thức - và số liệu này, theo chính lời xác nhận của Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê Hà Nội, là “chưa đủ độ tin cậy cần thiết” (3) - th́ sự tăng trưởng GDP của Việt Nam đă tăng tốc độ từ 6% năm 1990l91 lên tới 8.8% năm 1993/94 (4).
Có lẽ cần nhấn mạnh ở đây là sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ 1990 đến nay không chỉ nhờ có chính sách “đổi mới” như Hà Nội đă huênh hoang mà c̣n nhờ “Trời cho” nữa, như việc sản xuất dầu lửa trong những năm gần đây sau một thời gian thăm ḍ khá dài, như thời tiết, nói chung, là thuận lợi trong một số năm liên tục v.v... Để đánh giá đúng mức sự tăng trưởng của GDP th́ ta cũng cần nhớ là xuất phát điểm của nền kinh tế Việt Nam trước “đổi mới” là khá thấp (5), do đó, tỷ lệ tăng khá cao của GDP chỉ phản ánh một sự tăng thể tích vừa phải của sản xuất mà thôi.
Sự tăng trưởng nhanh chóng của GDP c̣n nói lên một điều nữa là chính sách phát triển kinh tế theo mô h́nh Stalinist - Maoist trước đây là bất hợp lư, trái với quy luật kinh tế biết chừng nào: chỉ cần thay đổi một số ít chính sách kinh tế nhằm khơi dậy các động cơ kinh tế của người dân th́ ta thấy ngay kết quả tích cực của họ!
Nhưng dù đạt được một mức tăng trưởng khá cao, ta không nên quên ràng, về mặt khối lượng mà nói, th́ GDP của Việt Nam cũng c̣n rất thấp so với Thái Lan chẳng hạn, một nước có cùng kích thước với Việt Nam cách đây khoảng 20 năm. Nếu lấy năm 1991 để so sánh th́ ta thấy 58 triệu dân Thái Lan sản xuất 15 lần nhiều hơn 68 triệu dân Việt Nam (6).
Dù có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế khá cao trong những năm gần đây, ta cũng không nên quên ràng Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo nhất ở Châu Á, và thuộc vào hạng 4 nước nghèo nhất thế giới: Việt Nam đứng trước Somalia, nhưng đứng sau Tanzania và Mozambique (7). Kết quả cuộc điều tra về mức sống tại Việt Nam do ủy ban kế hoạch Nhà nước và Tổng cục thống kê tiến hành trong năm 1992-93 cho thấy rằng 51% dân trong nước sống dưới mức nghèo khổ theo tiêu chuẩn quốc tế (1 người có mức sống dưới 129 đô la Mỹ/đầu người/hàng năm phải đạt 2150 ca-lo/ngày), trong số đó có khoảng phân nửa dân cư ở đồng bằng Cửu Long, vốn là khu vực trù phú nhất của Việt Nam. Mức nghèo khổ thay đổi từ 33% ở vùng Đông Nam Bộ đến 72% ở vùng duyên hải Bắc Trung Bộ.
Sự chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị thể hiện như sau: 57% dân quê ở trong t́nh trạng nghèo khổ, so với 26% cư dân nghèo khổ ở đô thị; và tỷ lệ dân nghèo ở nông thôn chiếm 90% số người nghèo cả nước. Gần 50% trẻ em dưới 5 tuổi thiếu dinh dưỡng (điều này sẽ gây hậu quả nghiêm trọng trong việc tăng trưởng của trẻ em ở Việt Nam trong nhiều thế hệ sau này). Tài liệu điều tra nói bên trên c̣n cho thấy là mức tiêu thụ trung b́nh đầu người hàng năm của cả nước chỉ đạt l,37 triệu đồng, tức là khoảng 129 đô la Mỹ, với sự chênh lệch là 160 đô la tại thành thị và 100 đô la ở nông thôn (8).
C̣n theo số liệu điều tra của Bộ Lao động, Thương binh và Xă hội th́ 4 khu vực nghèo đói nhất trong nước hiện nay là: khu Bốn cũ, Tây nguyên, Trung du miền Bắc, và duyên hải miền Trung (9). (Tiêu chuẩn xác định hộ nghèo là thu nhập b́nh quân dưới 13kg gạo/tháng/người; và hộ đói là dưới 8kg gạo/tháng/người).
Điêu cần nhấn mạnh ở đây là, với sự phát triển kinh tế thị trường hoang dại (a wild market economy), bên cạnh 51% số dân sống dưới mức nghèo khổ th́ ta thấy xuất hiện ngày càng đông các hộ giàu, mà trong cách làm giàu của họ, như một cán bộ cao cấp đă thừa nhận “đă xuất hiện những tiêu cực đa dạng như: tham nhũng, hối lộ, ăn cắp, trốn thuế, buôn lậu”; và “những thủ đoạn phi kinh tế (đó)... làm cạn kiệt tài nguyên, hủy hoại môi sinh, làm rối loạn xă hội và vi phạm đạo đức, nhân phẩm con người” ( 10). Lẽ dĩ nhiên, trong số hộ làm giàu nói trên đại đa số là đảng viên cao cấp, “đảng viên có chức, có quyền, trong đó một số ít nhờ chức quyền mà có tiền, cực kỳ lắm tiền, đang chi phối mọi công việc của đảng, của đất nước;” chức, quyền, tiền ấy đă kết họ lại thành một giai tầng mới, giai tầng tài phiệt đỏ (...) Thế lực tài phiệt đỏ (đó)... đang làm giàu theo công thức dùng chuyên chính vô sản để tích lũy tư bản... - một kiểu tích lũy có tốc độ cao gấp bội lần kiểu tích lũy tư bản cổ điển... (và) số tài sản mà họ đă và đang hối hả tích lũy chính là xương máu, mồ hôi, nước mắt của... toàn thể nhân dân”(11) (tôi nhấn mạnh - VNT).
Điều đáng chú ư là, như một nhà kinh tế học của đảng CSVN đă thừa nhận, “những động lực và dự trữ được công cuộc đổi mới (kinh tế) tạo ra cho đến nay (đầu năm 1993-VNT) sắp được khai thác đến giới hạn tự nhiên của nó” rồi (12). Nói một cách khác, giai đoạn “cởi trói” nền kinh tế đă kết thúc, và giai đoạn này chỉ là một giai đoạn tương đối ngắn và dễ thực hiện trong cả một quá tŕnh dài để chuyển một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây sang một nền kinh tế thị trường tự do (13). Đáng tiếc là nền kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn c̣n bị vướng víu bới cái gọi là “kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa, (dưới) sự quản lư của Nhà nước, (và) do ĐCS lănh đạo” (14). Do đó, cho tới nay những cải cách kinh tế chỉ có tính cách nửa vời mà thôi. Vả lại thế nào là “kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa” th́ chưa có ai trong ĐCSVN có thể định nghĩa một cách rơ ràng và cụ thể cả ! Một cán bộ cao cấp của đảng đă “phải thừa nhận rằng một nền kinh tế hàng hóa phát triển theo định hướng xă hội chủ nghĩa cho đến nay chưa hề có..., c̣n phải trải qua nhiều suy nghĩ t́m ṭi... để đưa ra được một lư thuyết về một nền kinh tế hàng hóa như thế” (15). Dù vậy, ĐCSVN văn muốn áp đặt cho 75 triệu nhân dân ta một dự phóng kinh tế - xă hội mà chính các nhà lănh đạo và kinh tế học của đảng đang ṃ mẫm t́m kiếm! Điều này nói lên mức độ hết sức vô trách nhiệm của tập đoàn lănh đạo ĐCSVN đối với nhân dân ta!
Trên lư thuyết th́ nói “kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa” (và đây cũng là bắt chước Trung Quốc xây dựng “một nền kinh tế thị trường xă hội chủ nghĩa”), nhưng trên thực tế th́ ĐCSVN đang thực hiện, như đă nói bên trên, một nền kinh tế thị trường hoang dại mà trong đó tham nhũng và buôn lậu là 2 đặc tính nổi bật - ĐCS c̣n gọi đó là 2 “quốc nạn”. Theo anh Lữ Phương th́ cái “kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa” nói bên trên, trong thực tế, th́ “chỉ là cái tên gọi mỹ miều cho một thứ chủ nghĩa tư bản thời sơ kỳ mà Mác đă phê phán” mà thôi ( 16).
II. “Đổi mới” Chính trị
Nếu “đổi mới” kinh tế chỉ là nửta vời th́ “đổi mới” chính trị trong gần 10 năm qua chỉ là nửa của nửa vời mà thôi.
(“Đổi mới” với 2 vận tốc khác nhau này cũng là bắt chước mô h́nh cải cách của Đặng Tiểu B́nh ở Trung Quốc (17) chớ không có ǵ sáng tạo, độc đáo như ĐCSVN đă huênh hoang cả).
Thật vậy dù có phần nào uyển chuyển hơn trước năm 1987, chế độ chính trị hiện nay, về cơ bản mà nói, th́ vẫn là một chế độ toàn trị (totalitarian). Bởi v́ nó vẫn dựa trên 2 cột trụ chính là độc đảng và chuyên chính vô sản.
Sau đây chúng tôi sẽ lần lượt phân tích và phê phán các luận điệu chính của Hà Nội về ĐCSVN, về nhà nước, về dân chủ, về nhân quyền và về đoàn kết.
A. Về Đảng Cộng sản Việt Nam
Vấn đề này, trước hết phải nói đến cơ sở tư tưởng của đảng: trong lúc một số người (cả Việt Kiều lẫn người ngoại quốc) cho rằng ĐCS đă từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin rồi th́ đầu năm nay, tại hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng l, 1995) ông Đỗ Mười khẳng định lại một lần nữa là “trước hết, (đảng) phải vững vàng, kiên định, lấy chủ nghĩa Mác-Lê, tư tương Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động” ( 18). Như vậy ta thấy rơ, ĐCSVN không những không từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lê mà c̣n cột thêm vào đó cái gọi là “Tư tưởng Hồ Chí Minh” (TTHCM) nữa!.
Về chủ nghĩa Mác-Lê (CNML) th́ chỉ cần nhắc lại ở đây một vài nhận xét của một số người ly khai ở trong nước như ông Nguyễn Hộ chẳng hạn. Ông này nói rơ: “Sự sụp đổ của hệ thống xă hội chủ nghĩa... là tín hiệu về sự phá sản của chủ nghĩa Mác-Lênin” (19). C̣n Lữ Phương th́ khẳng định rằng “mọi người (ở Việt Nam) đều cảm nhận hoặc nhận thấy - rơ ràng đến đau đớn - sự phá sản không ǵ chống đỡ được của cái hệ thống giá trị do chủ nghĩa Mác-Lê đem đến cho đời sống trong suốt bao nhiêu năm qua” (20). Ông Nguyễn Hộ c̣n ví những cố gắng của ĐCSVN để bảo vệ CNML với việc “tiêm thuốc để cứu chữa cho một xác chết” (21). Gần đây, trong một bài phỏng vấn, anh Lữ Phương c̣n tố cáo rằng hiện nay CNML “được sử dụng chỉ để biện minh cho chế độ độc tài thôi” (22), và anh ấy c̣n nói thêm: “ĐCS có muốn giữ (CNML) th́ cứ giữ, nhưng chỉ cho riêng ḿnh thôi, không thể cưỡng bức toàn dân phải chấp nhận ư thức hệ ấy thông qua súng đạn và nhà tù của một nhà nước bên ngoài mệnh danh là của dân, do dân, v́ dân, nhưng bên trong chỉ là công cụ của một thiểu số” (ibid).
Trong lúc các nhà lănh đạo ĐCSVN tiếp tục đề cao Lê-nin (23) th́ gần đây nhà sử học nổi tiếng Pháp, Francois Furet, một người đă từng là đảng viên của đảng cộng sản Pháp, ví Napoléon với Lênin như sau: Khi đến lúc suy tàn rồi Napoléon vẫn để lại cho Châu Âu “một trào lưu về tư tưởng và thiết chế(...), đă xây dựng ở Pháp một Nhà nước lâu bền trong nhiều thế kỷ”, c̣n Lênin th́ trái lại “không để lại một di sản” tích cực nào cả bởi v́ khi “đế quốc Xô-viết” tan ra th́ nhửng “nguyên tắc, bộ luật, thiết chế” do Lênin đề ra cũng tan biến mất (24).
Vê “tư tưởng Hồ Chí Minh” th́ theo chúng tôi biết, ở trong nước người ta hầu như không ai dám phê phán cả v́ đó là điều cấm ky. Do đó, anh chị em ta ở nước ngoài cần góp phần phân tích và phê phán các khía cạnh của “tư tưởng” ấy. Và chính trong tinh thần đó, tác giả bài này đă viết một bài về “TTHCM” liên quan tới việc xây dựng chủ nghĩa xă hội ở miền Bắc, tức là giai đoạn từ 1957 đến 1969, năm ông Hồ qua đời, mà thôi (25). (Các khía cạnh khác của “TTHCM” cần được nghiên cứu một cách có phê phán thêm). Ở đây chỉ cần nhắc lại là, theo chúng tôi, “TTHCM” không có ǵ là độc đáo cả, v́ nó chỉ là một tổng hợp có tính chất chiết trung (eclectic) của CNML, chủ nghĩn Stalin, và nhất là chủ nghĩa MAO mà thôi; và chúng tôi đă chứng minh rằng “tư tưởng” đó đă lỗi thời về mặt chính trị và là một thảm họa về mặt kinh tế (ibid). Tuy nhiên, gần đây nhất, có người cho rằng “xây dựng chủ nghĩa xă hội ở ḿên Bắc) trong điều kiện có chiến tranh (ở miền Nam) là hết sức độc đáo của tư tưởng Hô Chí Minh” (26). Nh́n về quá khứ th́ ta thấy rằng “tư tưởng” độc đáo đó, trên thực tế, đă trở thành tư tưởng đầu độc đối với toàn bộ xă hội Việt Nam, v́ như nhà sử học ly khai Nguyễn Kiến Giang đă nhận xét: chủ trương của ông Hồ (và của ĐCSVN) “tiến thẳng lên chủ nghĩa xă hội” ở ḿên Bắc từ năm 1957 trở đi là “nguyên nhân” của cuộc “khủng hoảng toàn diện..., khủng hoảng trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế và xă hội, tinh thần và đạo đức, tư tưởng và chính trị” bởi v́ chủ trương đó “không xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể lịch sử của nước ta lúc đó”(27). Có lẽ v́ thế mà ông Trần Văn Giàu, v́ không muốn bào chữa cho cái ǵ không thể bào chữa được, viết một cách lập lờ rằng trong “tư tưởng” của ông Hồ “không thấy các bước đường đi lên chủ nghĩa xă hội rơ ràng là như thế nào”, hoặc nói rằng “về bước đi cụ thể (lên xă hội chủ nghĩa, ông Hồ) không viết ǵ hết” (28). Thái độ của ông Giàu có vẻ tế nhị hơn, nhưng ông này cũng không nói đúng sự thật v́ ông Hồ Chí Minh đă có những chỉ thị tương đối khá cụ thể về cách xây dựng chủ nghĩa xă hội, cả về mặt chính trị lẫn về mặt kinh tế như chúng tôi đă phân tích trong bài nói bên trên.
Trên đây chúng tôi đă bàn về CNML, “TTHCM” và chủ nghĩa xă hội chủ yếu là để góp phần đấu tranh trên mặt trận tư tưởng. Tuy nhiên, chúng tôi cũng ư thức được rằng các vấn đề về hệ tư tưởng đó hiện nay chẳng c̣n mấy ai, như Lữ Phương đă nhận xét, “thật ḷng tin vào” nó, và “chẳng c̣n ai coi những thứ lư lẽ ấy là quan trọng cả. Vấn đề thực tế chỉ là làm thế nào để kéo dài sự tồn tại (hệ tư tưởng) đó mà thôi... (để) cuối cùng vẫn duy tŕ được sự độc tài của đảng” (29) nhằm tạo điều kiện cho các vị lănh đạo hiện nay có thể tận hưởng những đặc quyền, đặc lợi hiện có, và để các con cháu họ, bọn tài phiệt đỏ nói bên trên, có đủ thời gian cần thiết để tích lũy tư bản tối đa, để có lợi thế tối đa khi đến lúc phải chuyển sang thời kỳ hậu cộng sản.
Bây giờ, chúng tôi xin nói tới việc độc quyền lănh đạo của ĐCS tiếp theo truyền thống của đảng, ông Đỗ Mười vẫn khẳng định rằng đảng phải “giữ vững vai tṛ lănh đạo, không chấp nhận đa nguyên đa đảng” (30). Và trong một bài nói chuyện nội bộ hồi tháng 3/1994 ông này c̣n lớn tiếng đặt câu hỏi: “đa nguyên đa đảng để làm ǵ ? ” (3 l).
Xin mạo muội trả lời như sau:
Về mặt lư thuyết mà nói th́ những luận điệu chống lại sự thành lập các đảng đối lập với ĐCS là phản biện chứng (anti-dialectical), và điều này đi ngược lại những nguyên lư về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mà chính ĐCS vẫn đề cao.
Về mặt thực tiễn th́ ta thấy sở dĩ có sai lầm kéo dài trong cải cách ruộng đất, trong “cải tạo xă hội chủ nghĩa” ở miền Bắc (trong những năm 50-60) và ở miền Nam (trong những năm 70) là v́ chỉ có độc đảng mà thôi, v́ không có đảng đối lập để vạch trần kịp thời những sai lầm đó. Và phải chờ đến một thời gian dài, khi hậu quả vô cùng tai hại đă quá rơ ràng, th́ ĐCS mới thừa nhận rằng đă có sai lầm “ấu trĩ tả khuynh”, “duy ư chí” v.v... Tuy thừa nhận sai lầm nhưng các nhà lănh đạo đảng vẫn bám lấy chính quyền thay v́ từ chức!
Và hiện nay, sở dĩ các nhà lănh đạo “kiêu ngạo, yếu kém, tham ô..., báo cáo láo, quan liêu...” như ông Mai Chí Thọ, nguyên ủy viên Bộ Chính Trị, nguyên Bộ trưởng Nội vụ đă nhận xét (32) vẫn ngồi ĺ được ở các vị trí then chốt là “nhờ” có độc đảng mà thôi. Và như một ngạn ngữ đă nói: “Quyền lực làm hư con người; quyền lực tuyệt đối làm hư một cách tuyệt đối”. Do đó, phải có đa đảng mới có thể chấm dứt t́nh trạng nói trên.
Cũng cần có đa đảng (hoặc có một vài đảng đối lập cũng được, đối lập thật sự chớ không đối lập cuội), để họ có thể đưa ra trước nhân dân những dự phóng (project) chính trị, kinh tế, xă hội khác với chương tŕnh của ĐCS để nhân dân có thể tự do lựa chọn; ví dụ như lựa chọn giữa hai con đường: xă hội chủ
nghĩa hoặc phi xă hội chủ nghĩa, chẳng hạn.
Điều đáng chú ư là hiện nay, tuy ĐCS chủ trương chính sách “kinh tế nhiều thành phần” mà trong đó có thành phần kinh tế tư bản tư nhân, tiểu chủ v.v... nhưng đảng lại không cho các giai cấp đó thành lập một lực lượng chính trị riêng biệt (33). Điều này không những bất hợp lư mà c̣n trái với lô-gích mác-xít
nữa!.
Ban lănh đạo ĐCS vẫn khư khư giữ độc quyền chính trị:
- Dù rằng lập trường tư tưởng - chính trị của đảng không thuyết phục được đa số nhân dân, thậm chí không thuyết phục được cả một số đảng viên có đâu óc suy nghĩ.
- Dù rằng họ “không có đủ kiến thức để cầm quyền” như Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, cựu Bộ trưởng Y tế của chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam trước 1975 đă nhận xét (34). Không những các vị lănh đạo đó bất tài, trừ ra “tài” đàn áp những người đối lập, mà trong số đó c̣n có người, như Tổng bí thư Đỗ Mười chẳng hạn đă từng “bị đau thần kinh khá nặng..., có lúc lên cơn thần kinh đi lang thang cả đêm ngoài sân, có lần leo lên cả cây bàng (suốt cả đêm)” (35) sau những năm “cải tạo xă hội chủ nghĩa” ở miền Bắc, và phải nghỉ việc suốt một thời gian dài. (Có thể nào tưởng tượng được là trong một nước như Mỹ, Tây Âu, Úc chẳng hạn người ta có thể đưa lên vị trí hàng đầu một người lănh đạo đă từng bị bệnh tâm thần không?).
- Dù rằng, như chính ông Đỗ Mười đă thừa nhận “trong Đảng đang có một bộ phận giảm sút nghiêm trọng phẩm chất đạo đức..., một bộ phận chỉ ham làm giàu, xa rời lư tưởng. Một số không ít cán bộ (đồng thời là đảng viên - VNT)... đă xa dân, hống hách, chèn ép (dân),.. vi phạm quyền lợi và lợi ích của dân, lạm dụng chức vụ và cương vị công tác để... tham ô, hà lạm công quỹ, đục khoét của dân, làm giàu bất chính. Lối sống... xa hoa,... chạy theo đồng t́ên lây lan phổ biến. Thậm chí một số ăn chơi sa đọa..., một số người... độc đoán, ... vi phạm pháp luật nhà nước” (36). Riêng về hai “quốc nạn” là tham nhũng và buôn lậu th́ ai cũng rơ là thủ phạm hầu hết đều là đảng viên, chủ yếu là loại cao cấp. Thủ tướng Vơ Văn Kiệt đă từng cam kết trước Quốc hội hồi tháng 12/1993 rằng nếu tham nhũng c̣n tiếp tục trong năm 1994 th́ ông ta sẽ “thay đổi chính phủ” (37). Nhưng sau khi báo chí loan tin là tổng số trường hợp tham nhũng được ghi nhận ở Hà Nội trong năm 1994 đă tăng 47% so với năm 1993, (38), và cũng trong năm đó tham nhũng đă làm thiệt hại của nhà nước 170 triệu US đô la, 2.000 lượng vàng, 25.000 tấn gạo, và hơn 160.000 mét khối gỗ đă bị mất cắp (39) th́ ta vẫn không thấy có thay đổi chính phủ ǵ cả!
Với những khuyết điểm vừa nói bên trên, đáng lẽ ĐCS phải rút lui khỏi vũ đài chính trị, nếu họ c̣n chút ít tự trọng, nếu họ thật sự “v́ nước, v́ dân” như họ thường huênh hoang, nhưng trái lại họ vẫn bám lấy chính quyền nhằm duy tŕ chế độ “độc đảng, độc quyền, độc tài, độc ác”, hiện nay, như nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự đă tố cáo (40).
Các nhà lănh đạo ĐCS thường nói một cách lập lờ về dân chủ. Nhưng muốn có dân chủ, dân chủ thật sự, th́ phải có đa đảng, cụ thể là phải có đảng đối lập (dù rằng đa đảng không nhất thiết dẫn đến dân chủ). Và nếu dùng chứng minh bằng phản chứng theo kiểu toán học th́ ta có thể nói: Không có đa đảng th́ không có khả năng thay phiên cầm quyền; không có khả năng thay phiên cầm quyền th́ dân không có quyền phán quyết; dân không có quyền phán quyết th́ không có dân chủ.
Theo luật chơi dân chủ, chúng tôi không phản đối sự tồn tại của ĐCS; do đó không có việc trả thù, “treo cổ” đảng viên trong thời kỳ hậu cộng sản như một số người lănh đạo hù dọa những đảng viên ngây thơ. Chúng tôi chỉ chống lại chế độ độc đảng, cũng như phản đối sự độc tôn của CNML hiện nay mà thôi.
Mặt khác chúng tôi tán thành yêu cầu của ông Nguyễn Hộ: “Đảng cộng sản Việt Nam phải lột xác hoàn toàn..., tức là thay đổi từ tư tưởng, ư thức đến tổ chức (...), thay đổi triệt để để gia nhập vào thế giới văn minh” (41). Và mong muốn, như Lữ Phương đă nói, “sự hóa thân của đảng diễn ra... một cách toàn
diện hơn, có ư thức hơn, chứ không nửa vời và phản văn hóa như nó đang diễn ra hiện nay” (42).
B. Về Nhà nước
ĐCS định nghĩa Nhà nước ở Việt Nam là “Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và v́ dân... dưới sự lănh đạo của đảng”.
1. Thế nào là “Nhà nước pháp quyền”?
Ở đây chúng tôi không đi vào tranh luận về từ ngữ “pháp quyền” hay “pháp trị” mà chỉ muốn bàn về khái niệm “Nhà nước pháp quyền” mà thôi, tức là Nhà nước quản lư xă hội công bằng và theo luật pháp. Khi nói đến “Nhà nước pháp quyền” th́ ta phải đặt liền câu hỏi tiếp theo đó là: Nhà nước đó dựa trên pháp luật nào: “xă hội chủ nghĩa” hay “tư sản”? Bởi v́ đối với người cộng sản không có pháp luật chung chung, “phi giai cấp”. Lẽ dĩ nhiên ở Việt Nam hiện nay, như một cán bộ của đảng đă nói rơ: Nhà nước pháp quyền là “Nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa”, và nó “Khác về bản chất với nhà nước pháp quyền tư sản (...) Nhà nước của ta cũng quản lư xă hội bằng pháp luật, nhưng bản chất pháp luật của nhà nước ta khác với pháp luật của Nhà nước tư sản” (43). “Nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa” nói trên có nghĩa là một nhà nước quản lư xă hội theo pháp luật và pháp chế xă hội chủ nghĩa, và pháp chế này nhằm mục đích tối cao là củng cố và bảo vệ chế độ toàn trị hiện nay và ĐCS vẫn “lănh đạo nhà nước (đó), và lănh đạo (cả việc) xây dựng nền pháp chế” nói trên (44). Theo quan điểm của đảng th́ “Nhà nước nào, pháp luật ấy” (45), v́ như Lênin đă nói: “Một đạo luật là một biện pháp chính trị, là chính trị” (ibid). Do đó nếu ta coi cụm từ “Nhà nước pháp quyền” ở Việt Nam là đồng nghĩa với khái niệm “Etat de droit” ở Pháp, hoặc “Rule of law” ở Anh, Mỹ về mặt nội dung là một sai lầm nghiêm trọng, dù rằng có thể dịch ra như vậy về mặt h́nh thức.
Có nhà luật học Việt Nam ở nước ngoài cho rằng Việt Nam đang “đi từ chuyên chính vô sản đến Nhà nước pháp quyền”. Điều này là không chính xác và nguy hiểm. Không chính xác v́ “Nhà nước pháp quyền” ở đây là “Nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa” như đă phân tích bên trên, và nó đồng nghĩa, về mặt nội dung, với chuyên chính vô sản (xem đoạn sau), không hơn không kém. Nguy hiểm là v́ người ta có thể ngộ nhận là Việt Nam Cộng sản đă có tiến bộ phần nào v́ đă tự chuyển dần từ chuyên chính vô sản sang nhà nước pháp quyền như ở Pháp, Anh, Mỹ v.v... Sự thật là ở Việt Nam hiện nay, dù về mặt h́nh thức ĐCS dùng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền”, nhưng về mặt nội dung th́ chưa có ǵ thay đổi cả. Có thay đổi chăng là ở chỗ Việt Nam đang “chuyển” từ chuyên chính vô sản thô bạo trước đây sang chuyên chính vô sản uyển chuyển, khéo léo hơn hiện nay mà thôi, nhưng về bản chất vẫn là chuyên chính vô sản!.
Gần đây, ông Trần Độ, ủy viên trung ương đảng, có lưu ư về thái độ không thành thật của đảng như sau: trong nội bộ đảng th́ vẫn khẳng định là nhà nước hiện nay “về thực chất là nhà nước chuyên chính vô sản” nhưng đối với dân th́ đảng hô hào “xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam” (46). Và ông Độ nói tiếp: “Vậy là ta làm chuyên chính vô sản và chỉ biết với nhau trong Đảng, c̣n không cho dân biết” (ibid).
2 C̣n thế nào là “Nhà nước của dân, do dân và v́ dân”?
Trước hết cần nhắc lại là thuật ngữ này không phải xuất phát từ “tư tưởng Hồ Chí Minh” như đảng đă ngộ nhận (47). Thật ra người cha đẻ của thuật ngữ này là Tổng thống Abraham Lincoln, trong diễn văn đọc tại Gettysburg hồi năm 1863, ông nói đến “một chính phủ của dân, do dân, v́ dân” (“Government of the people, by the people, for the people”). ông Hồ lấy lại thuật ngữ này, và tiếp theo đó các ông Lê Duẩn (48), Nguyễn Văn Linh (49), và Đỗ Mười (50) đều dùng thuật ngữ này về mặt h́nh thức nhưng đă thay đổi hoàn toàn về mặt nội dung. Các vị lănh đạo Việt Nam nói trên đă đánh tráo nội dung thật sự dân chủ của A. Lincoln với nội dung chuyên chính vô sàn, chế độ độc tài, toàn trị hiện nay. Thuật ngữ “Nhà nước của dân, do dân, v́ dân” được dùng một cách phổ biến từ 1991 đến nay để thay thế cụm từ chuyên chính vô sản làm cho một số người, cả Việt kiều lẫn học giả ngoại quốc, ngộ nhận rằng ở Việt Nam không c̣n chuyên chính vô sản nữa. Việc thay thế này, như ông Đào Duy Tùng, ủy viên Bộ Chính trị phụ trách về ư thức hệ của ĐCS đă nói rơ, không có nghĩa là ĐCSVN đă từ bỏ chuyên chính vô sản đâu. Trong một tài liệu “lưu hành nội bộ” quan trọng, ông Tùng đă viết như sau: “... Tựu trung lại, nội dung, bản chất của nhà nước chuyên chính vô sản là chính quyền (...) Nêú hiểu đúng nội dung của chuyên chính vô sản th́ hoàn toàn có thể diễn đạt nó trong khái niệm nhà nước xă hội chủ nghĩa; (hoặc) Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, v́ nhân dân…. do đảng cộng sản lănh đạo? Dù rằng không mang tên nhà nước chuyên chính vô sản, nhưng nhà nước xă hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng thực chất vẫn mang bản chất của chuyên chính vô sản” (51) (Tôi nhấn mạnh - VNT). Sỡ dĩ từ 1991 trở đi, ĐCS thay thế chứ không bao giờ tử bỏ chuyên chính vô sản bằng thuật ngữ “Nhà nước của dân, vv…”là để tạo ra một cảm tưởng “đổi mới” về mặt chính trị và tâm lư, nhưng đó chỉ là một mưu mẹo xảo quyệt mà thôi.
Nhưng cứ bằng vào lời nói của ĐCS, ta thử xem coi Nhà nước Việt Nam hiện nay có phải là “do dân” và “v́ dân” hay không? Nếu lấy ví dụ cuộc bầu cử Quốc hội chẳng hạn th́ ta thấy rằng các cuộc bầu cử đó trong thời gian qua, kể cả cuộc bầu cử năm 1992 mà Hà Nội huênh hoang là “dân chủ nhất” từ trước tới giờ, đều do ĐCS, thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đạo diễn cả. Hăy nghe anh Tiều Dao Bảo Cự nôi về nhiệm vụ này của Mặt trận Tổ quốc như sau: “Nhiệm vụ chính của Mặt trận là tuyên truyền cho đường lối chính sách của đảng, thực hiện một số việc cụ thể mà các tổ chức đảng, chính quyền không tiện trực tiếp làm... Đặc biệt Mặt trận có một nhiệm vụ được coi là quan trọng trong các kỳ bầu cử là hiệp thương giới thiệu người ra ứng cử, một công việc cực kỳ phản dân chủ, xâm phạm trắng trợn và thô bạo quyền tự do ứng cử của người dân. Nhiệm vụ này do đảng chỉ đạo chặt chẽ (...) Quyền giới thiệu người ra ứng cử... này đă quyết định trước gần như hoàn toàn kết quả cuộc bầu cử gọi là dân chủ” (52). Nói một cách khác, đại biểu Ouốc hội là do ĐCS, thông qua Mặt trận Tổ quốc, “bầu” ra, và người dân trên thực tế,không có phán quyết ǵ cả. Như thế, làm sao có thể nói nhà nước Việt Nam hiện nay là “do dân” quyết định được?
C̣n nhà nước này có phải “v́ dân” không? Bên trên chúng tôi đă nhắc đến việc 51% dân Việt Nam sống dưới mức nghèo khổ theo một cuộc điều tra tiến hành năm 1992-93 (dù rằng lúc đó đời sống đă bắt đầu được cải thiện rồi so với lúc trước năm 1987) và bên cạnh đó th́ có một tầng lớp “Mafia” đỏ ăn chơi phung phí (53) th́ rơ ràng nhà nước này không phải là “nhà nước v́ dân”. Nhà văn Dương Thu Hương, thông qua một nhân vật trong cuốn Tiểu thuyết vô đề, đă nói lên số phận của người dân trong “chế độ xă hội chủ nghĩa ưu việt” như sau: “Nếu cần lúa, nhân dân là con ḅ kéo cày. Lúc có chiến tranh, con ḅ ấy mặc áo giáp và cầm súng. Rồi, khi mọi sự đă qua, vào những ngày lễ lạc, hội hè... người ta tôn xưng nhân dân như hú vọng các hồn ma, tưởng thưởng cho khói thơm và tro tiền, c̣n phần xôi thịt th́ kẻ khác (tức là cán bộ, đảng viên lănh đạo - VNT) hưởng...” (54).
Như đă thấy, nhà nước Việt Nam hiện nay không phải “do dân” và cũng không phải “v́ dân”; do đó không thể nói nhà nước đó là “của dân” được. Giản dị thế thôi. Trên thực tế, nhà nước Việt Nam hiện nay là Nhà nước của đảng, do đảng, và v́ đảng mà thôi.
C. Dân chủ và Dân quyền
l. Khi nói đến dân chủ các nhà lănh đạo, và gần đây ông Đỗ Mười, thường hay phân biệt giữa “dân chủ tư sản” và “dân chủ vô sản” (c̣n được gọi là “dân chủ xă hội chủ nghĩa” nữa) (55), bởi v́ theo các giáo điều Mác-Lê th́ “không có dân chủ phi giai cấp (...), không có thứ dân chủ chung chung” (56).Ở đây chúng tôi chỉ muốn bàn tới cái gọi là “dân chủ xă hội chủ nghĩa” (DCXHCN) c̣n được gọi là ,Nhà nước xă hội chủ nghĩa nữa mà thôi.
Có lẽ cũng cần nhắc lại đây người cha đẻ của khái niệm này không ai khác là J. Stalin (57), và hôm nay, ai cũng thấy rơ cái gọi là “DCXHCN” được áp dụng dưới thời Stalin đă mang lại hậu quả khủng khiếp như thế nào: theo ước lượng của “phong trào Mémorial” mà chủ tịch danh dự là Andrei Sakharov, th́ tổng số nạn nhân, cả trực tiếp lẫn gián tiếp, dưới thời Stalin đă lên tới 40 triệu người! (58).
Sau hội nghị trung ương lần thứ 8 vừa rồi (tháng 1/95) ĐCS đă định nghĩa DCXHCN về mặt chính trị như sau: “đó là quyền dân chủ trong bầu cử, ứng cử;... là sinh hoạt dân chủ trên các phương tiện thông tin đại chúng; là quyền con người, quyền công dân ngày càng được tôn trọng và bảo đảm”; đó là “cốt lơi của đổi mới hệ thống chính trị” hiện nay (59). Ta hăy lần lượt xem trên thực tế các quyền nói trên đă được thực hiện như thế nào.
Về quyền bầu cử của dân th́ ở đây xin miễn nói tới nữa v́ tṛ hề bầu cử đó đă được bàn ở đoạn trước rồi.
C̣n về “sinh hoạt dân chủ trên các phương tiện thông tin đại chúng”, th́ xin lấy một ví dụ để minh họa: việc tranh luận về dân chủ và chủ nghĩa xă hội giữa Lê Quang Vịnh và Phan Đ́nh Diệu. Trong năm 1993, một tờ báo của Việt kiều ở Pháp, Diễn Đàn (tháng 6/93) có đăng lại một bài phỏng vấn của anh Diệu về “Ứng dụng toán học và dân chủ”. Chắc có lẽ dưới áp lực của Ban Văn Hóa tư tưởng trung ương, anh Vịnh đă viết một bài khá dài để bác bỏ các luận điệu của anh Diệu trên báo Sàig̣n Giải Phóng và Nhân Dân. Gọi là để “nói lại” anh Diệu nhưng hai tờ báo này không hề đăng lại bài phỏng vấn của anh Diệu; thậm chí khi anh Diệu viết thư trả lời th́ họ làm ngơ. Người đọc ở trong nước chỉ biết quan điểm của anh Diệu thông qua các trích dẫn (bị cắt xén) mà anh Vịnh đưa ra để phê phán mà thôi chứ không thể nào đọc được nguyên văn bài của anh Diệu. Đây là một ví dụ điển h́nh về “sinh hoạt dân chủ trên các phương tiện thông tin đại chúng” mà ĐCS đă huênh hoang. Trường hợp của anh Diệu c̣n là may mắn v́ ĐCS hiện nay c̣n muốn tranh thủ anh ấy, chớ như ông Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế v.v... th́ các phương tiện thông tin đại chúng trong nước có bao giờ cho các ông ấy một cơ hội nào để phát biểu ư kiến ǵ đâu. Điều nghịch lư là người trong nước muốn trao đổi ư kiến với nhau về những vấn đề quan trọng liên quan tới t́nh trạng và tương lai của đất nước th́ phải nhờ phương tiện thông tin ở nước ngoài (của Việt kiều cũng như của các đài phát thanh quốc tế như BBC, VOA, RFI chẳng hạn)!.
Về báo chí có lẽ cũng cần nhắc lại là cách đây hơn 2 năm luật báo chí do Quốc hội thông qua đă cấm hẳn báo chí tư nhân; và gần đây Thủ tướng Vơ Văn Kiệt khẳng định lại là Việt Nam không cho phép xuất bản báo chí tư nhân (60). Điều này, như Tiêu Dao Bảo Cự đă nhận xét “có nghĩa là không có tự do báo chí” (61). sự thật là hiển nhiên như vậy, nhưng bất chấp điều đó, ông Đỗ Mười vẫn trân tráo tuyên bố ở “Đại hội lần thứ 6 các nhà báo Việt Nam” tại Hà Nội hồi tháng 3 vừa qua (tháng 3/95) rằng: “ở Việt Nam có tự do báo chí thật sự” (sic) (62). Như ai cũng biết, ở Việt Nam chỉ có báo chí của ĐCS và của các tổ chức quần chúng hoạt động dưới sự lănh đạo chặt chẽ của đảng. Ông Hà Xuân Trường, một cán bộ cao cấp của Đảng gần đây nhắc lại một lần nửa là “báo chí là công cụ của Đảng (...). Sự lănh đạo của Đảng đối với báo chí là làm sao báo chí không đi chệch đường lối chính trị của Đảng” (63). Như vậy, không những không cho xuất bản báo chí tư nhân, mà thậm chí đối với báo chí của đảng và của các Đoàn thể đặt dưới uy quyền của đảng cũng không có thể “đi chệch đường lối chính trị của Đảng”. Điều đáng lưu ư là ông Hà Xuân Trường c̣n hăm dọa các báo chí Việt kiều nào “dám” chỉ trích, phê phán chính quyền Hà Nội như sau: “... Chúng ta không thể làm ngơ để cho một số tờ báo (của Việt kiều VNT) kết hợp với những phần tử chống đối trong nước bôi xấu chế độ ta” (ibid).
Về các quyền công dân, một yếu tố quan trọng khác trong định nghĩa của đảng về “DCXHCN” nói trên th́ ở đây chúng tôi chỉ xin nhắc lại là Hiến pháp 1992 có ghi rơ rằng người dân có đủ mọi quyền tự do. Dù Hiến pháp này chưa phản ánh đúng mọi quyền tự do dân chủ của người dân, nhưng nhiều quyền đă ghi trong Hiến pháp cũng chưa được thực hiện. Bây giờ tất cả anh, chị, em chúng ta, ở trong cũng như ở ngoài nước, cần phải nỗ lực đấu tranh để biến, như anh Bùi Minh Quốc nói, các quyền tự do dân chủ “bánh vẽ” đă ghi trong Hiến pháp thành “bánh thật” trong đời sống hằng ngày (64), chủ yếu là đấu tranh để đ̣i thực hiện cho bằng được, theo thứ tự ưu tiên sau đây, những quyền:
- Tự do báo chí
- Tự do tín ngưỡng
- Tự do hội họp, hội thảo,tổ chức, lập hội.
- Tự do thông tin giữa trong và ngoài nước, v.v...
Việc phân biệt của ĐCS, như đă nói bên trên, giữa “dân chủ tư sản” với “dân chủ Xă hội Chủ nghĩa” (c̣n gọi là “Nhà nước xă hội chủ nghĩa”) là tạo ra một sự đối xứng (Symetry) giả dối (và giả tạo) bởi v́ cái gọi là “DCXHCN” chỉ là đồng nghĩa với chuyên chính vô sản (trong biệt ngữ của cộng sản) mà thôi. Trên thực tế, chỉ có sự lựa chọn duy nhất giữa dân chủ chân chính (như được áp dụng ở các nước văn minh ở Tây Âu, Mỹ, kể cả ở Á Châu) và chuyên chính (“vô sản” hoặc phát xít) mà thôi. Và chỉ trong một chế độ chủ thật sự th́ các quyền tự do dân chủ cơ bản mới được tôn trọng (trừ một vài trường hợp ngoại lệ).
D. Nhân quyền
Về vấn đề này, ông Đỗ Mười cũng đă bịa ra một cách giả tạo một sự đối xứng giữa “nhân quyền tư bản” và “nhân quyền của nhân dân” (65). Trong thực tế th́ chỉ có một loại nhân quyền mà thôi, nhân quyền theo các tiêu chuẩn chung của quốc tế, và điều này được phản ánh trong Hiến chươg Liên Hiệp Quốc (1945), trong Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền (1948) và chủ yếu là trong Công ước về các quyền Dân sự và Chính trị (1976). Khi Việt Nam gia nhập Liên hiệp quốc (tháng 9/1977), Việt Nam đă cam kết tuân thủ các điều khoản của “Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền”. Và khi tham gia kư kết vào “Công Ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị” hồi tháng 9/1982 th́ Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện một cách chu đáo các điều khoản đă ghi trong Công ước đó.
Tuy nhiên, có thể nói rằng các điều khoản được ghi trong “Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền” (TNQTNQ) chỉ có giá trị như là một lời khuyên bảo (Recommendation) mà thôi, nhưng trái lại, các điều khoản đă ghi trong “Công ước về các quyền Dân sự và Chính trị” (CUQDSCT) th́ có giá trị như là một nghĩa vụ (Obligation) mà Việt Nam phải thực hiện, và không thể viện bất cứ một lư do nào để trốn tránh cả. Một cán bộ của đảng phụ trách về nhân quyền cũng thừa nhận: “Các thành viên tham gia Công ước về các quyền dân sự và chính trị đều có nghĩa vụ thực hiện những tiêu chỉ chung về nhân quyền đă ghi nhận” (66). Tuy nhiên, vài trang sau đó, cán bộ đó lại tự mâu thuẫn với ḿnh khi viết rằng: “Vấn đề nhân quyền... là vấn đề nội bộ mỗi nước. Chúng ta... Kiên quyết phản đối những ai muốn lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ nước khác” (ibid). Ở đây, Việt Nam lại một lần nữa bắt chước nói theo Trung Quốc, nhưng họ không thấy ràng trong vấn đề cụ thể này t́nh h́nh của Việt Nam khác hẳn với Trung Quốc ở chỗ là Trung Quốc không có tham gia kư kết vào CUQDSCT, do đó, họ “có lư” của họ về một phương diện nào đó c̣n Việt Nam th́ đă tham gia kư kết vào CUQDSCT rồi. Mà theo công pháp quốc tế th́ khi một nước đă tham gia kư kết vào một công ước quốc tế th́ Công ước đó phải được ưu tiên áp dụng so với luật pháp quốc gia. Nói một cách khác, công pháp quốc tế phải đứng trên công pháp quốc gia. Do đó, không thể nói như ông Đỗ Mười rằng: “Ta tôn trọng Công ước Nhân quyền... song phải nói mỗi nước có đặc thù,... có luật pháp của ḿnh” (67). Việt Nam, khác với Trung Quốc, không thể ngụy biện lư do “can thiệp vào nội bộ và chủ quyền” để thoát khỏi búa riều của dư luận quốc tế khi bị tố cáo là vi phạm nhân quyền dựa theo các điều khoản đă ghi trong CUQDSCT. Và trên thực tế, Việt Nam đă và đang vi phạm hầu như hết 27 điều khoản đă ghi trong Công ước này!.
Ngoài việc vi phạm các điều khoản ghi trong TNQTNQ và nhất là các điều khoản ghi trong CUQDSCT, Việt Nam c̣n vi phạm cả các điều đă ghi trong Hiến pháp 1992, Chương V, nói về “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” (68).
Cũng cần phê phán một mánh khóe xảo quyệt nữa của chính quyền Hà Nội khi họ cố ư biến phạm nhân nhân quyền thành phạm nhân thường phạm, ḥng che giấu tội lỗi vi phạm nhân quyền của họ. Ví dụ như trong một cuộc phỏng vấn trên Tivi của Ngoại trưởng Nguyễn Mạch Cầm do đài CNN thực hiện ngày 23/10/94, ông Cầm huênh hoang tuyên bố: Ở Việt Nam “có tất cả tự do”; “không có tù nhân chính trị (sic)”, và Việt Nam “thực hiện nhân quyền đúng theo Hiến pháp 1992” v.v... Sau đó, người phóng viên CNN vặn lại: “Thế th́ trường hợp của Đoàn Viết Hoạt th́ sao?”. Ông Cầm trả lời đại ư như sau: nếu ở Việt Nam có người nào lợi dụng chính sách tôn trọng dân chủ và nhân quyền của chính phủ “để làm điều phi pháp như chống lại nhà nước xă hội chủ nghĩa th́ họ bị trừng trị v́ họ vi phạm pháp luật của Việt Nam” chớ chính phủ Việt Nam không hề vi phạm nhân quyền! Và tháng 5 vừa qua (tháng 5/95) khi Câu lạc bộ PEN (Văn bút) của Pháp tuyên bố kết nạp anh Đoàn Viết Hoạt làm hội viên liên kết th́ người phát ngôn của Bộ ngoại giao Việt Nam phản đối v́ họ cho rằng anh Hoạt không phải là một tội phạm chính trị mà là “một thường phạm” mà thôi (69). Cũng như việc bất giam và đưa ra xét xử Ḥa thượng Thích Quảng Độ gần đây cũng được chính quyền coi như là “một người dân thường phạm tội” chớ không như “một Phật tử” (70). Chúng ta cần vạch trần và bác bỏ các ngụy biện này.
E. Đoàn kết
Tháng 11/93 Bộ Chính trị của ĐCS đưa ra một nghị quyết kêu gọi đoàn kết mọi người trong đại gia đ́nh dân tộc “bao gồm các giai cấp,... các tôn giáo, người trong nước và người định cư ớ nước ngoài... cùng nhau xóa bỏ định kiến..., hận thù, hướng vê tương lai, cởi mở tin cậy lẫn nhau, tất cả v́ độc lập, tự
do và hạnh phúc của nhân dân” (71).
- Đoàn kết các giai cấp ư?
Thế th́ tại sao ĐCS, một mặt, khuyến khích phát triển nền kinh tế tư bản tư nhân một thành phần trong nền “kinh tế nhlêu thành phần” hiện nay, tức là thừa nhận “sự tồn tại của giai cấp tư sản dân tộc” về mặt kinh tế, nhưng mặt khác, lại không cho tồn tại một lực lượng chính trị hoặc một đảng riêng biệt của giai cấp đó? (72). (Đlêu này cũng trái với lô-gích mác-xít nữa).
- Đoàn kết các tôn giáo ư?
Thế th́ tại sao gần đây chính quyền Hà Nội lại bắt Ḥa thượng Quảng Độ (tháng l/95) và quản chế Ḥa thượng Thích Huyền Quang (tháng 12/94).
- Đoàn kết với người trong nước ư?
Thế th́ tại sao ông Nguyễn Văn Linh, lúc c̣n là tổng bí thư ĐCS đă thóa mạ Dương Thu Hương bằng cách gọi nhà văn này là “con đĩ (sic) chống đảng” (73), và đến năm 1991 đă ra lệnh bắt giam nhà văn này trong khoảng 6 tháng? Điều mỉa mai là trong khi bị thóa mạ và bị bắt giam ở trong nước th́ khi nhà văn này được mời qua Pháp hồi năm 1994 th́ được Bộ trưởng Văn hóa Pháp, lúc đó là Jacques Toubon, trao tặng huân chương chevalier de L’ordre Des Alts et des Lettres nhằm đề cao sự đóng góp của một văn sĩ Việt Nam cho văn học và nghệ thuật chung của nhân loại (Chị Hương là nhà văn Việt Nam trong nước đầu tiên được tặng huân chương này).
Tại sao chính quyền Hà Nội lại bắt giam nhiều lần ông Nguyễn Hộ, và gần đây nhất (tháng 6, 1995) lại có ư định bắt giam một lần nữa, song tới nay chưa thực hiện được v́ ông ấy tuyên bố tử thủ, quyết tâm biến nhà riêng của ông thành “nhà mồ”?. Tại sao vẫn bắt giam các anh Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế v.v..., và gần đây nhất (tháng 6, 1995) lại bắt giam lại Hoàng Minh Chính và Đỗ Trung Hiếu?.
- Đoàn kết với người Việt định cư ở nước ngoài ư? .
Thế th́ tại sao Hà Nội gây khó khăn cho một số người khi họ xin dấu thị thực (visa) để về Việt Nam; và tại sao bắt bớ, chất vấn, hỏi cung, quấy rầy một số Việt kiều v́ họ gặp gỡ một số người ở trong nước; tại sao một mặt th́ kêu gọi Việt kiều đoàn kết, “đóng góp nhiều hơn nữa để xây dựng đất nước” (74), mặt khác, lại coi họ như một lực lượng thù địch, “phản động”?.
Đều đáng chú ư là khi ĐCS, hoặc “Mặt trận” kêu gọi đoàn kết dân tộc để thực hiện mục tiêu chung là “sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xă hội công bằng, văn minh”, họ luôn luôn nhấn mạnh là chính sách “đại đoàn kết” đó phải dựa trên cơ sở “xây dựng đất nước theo định hướng xă hội chủ nghĩa,... dưới sự lănh đạo của Đảng” (75). Về vấn đề này, anh Phan Đ́nh Diệu đă đưa ra một nhận xét chí lư như sau:
“Sự đoàn kết hiện nay không thể là đoàn kết trên cở sở phải quy phục vô điều kiện một hệ tư tưởng định sẵn (tức là chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh –VNT) một lực lượng lănh đạo định sẵn (tức là đảng - VNT)... Sự đoàn kết trong giai đoạn (hiện nay) phải là sự đoàn kết của mọi công dân tự do, b́nh đẳng, trên cơ sở một sự đồng thuận xă hội mà nội dung của sự đồng thuận đó ngày nay đă được xác minh là “dân giàu, nước mạnh, xă hội văn minh”. Đoàn kết không có nghĩa là phục tùng, mà là cùng nhau góp sức cho một mục tiêu chung, trong khi tôn trọng đầy đủ mọi cái riêng, phát huy tính đa dạng của những cái riêng để làm giàu cho cái chung” (76).
Gần đây, ông Nguyễn Hộ c̣n nói thêm rằng chính sách “đại đoàn kết dân tộc” phải được kết hợp với nhiệm vụ ḥa giải dân tộc (tức là ḥa giải với ai đă từng là đối tượng đàn áp của ĐCS), và cả 2 nhiệm vụ đó phải dựa trên cơ sở “dân chủ (và) b́nh đẳng”; và điều đó có nghĩa là: a) ĐCS phải tự bắt buộc ḿnh thực hiện nền chính trị... Dân chủ đa đảng, tử bỏ chuyên chế độc tài, độc đảng; b) ĐCS và những người cần phải ḥa giải (và đoàn kết) cùng đứng chung, vai ngang vai với nhau, chớ không thể như lâu nay, ĐCS luôn luôn đứng trên họ, đè đầu đè cổ họ (77). .
Gần đây, tại hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa VII, tháng 1/95) ông Đỗ Mười nhấn mạnh một lần nữa rằng: “Trong bối cảnh quốc tế ngày nay, vấn đề đoàn kết dân tộc trở thành một nhân tố cực kỳ quan trọng (...) Sự nghiệp đổi mới,... công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước chỉ có thể thành công... khi toàn dân ta đoàn kết một ḷng..., ḥa hợp thành một khối thống nhất đồng tâm nhất trí mang hết ghị lực và tài năng cống hiến cho đất nước” (78). Đồng bào trong nước và đồng bào sinh sống ở nước ngoài chỉ có thể hưởng ứng lời kêu gọi nói trên khi nào mà những yêu cầu của Phan Đ́nh Diệu và Nguyễn Hộ nêu bên trên được thỏa măn mà thôi.
Kết luận
Cũng như ở Trung Quốc, cho tới nay quá tŕnh “đổi mới” ở Việt Nam vẫn theo 2 vận tốc: thực hiện “đổi mới” kinh tế bằng biện pháp nửa vời, nhưng vẫn kềm hăm “đổi mới” chính trị bằng biện pháp nửa của nửa vời. Nếu muốn công cuộc “đổi mới” được tiến bước vững vàng th́ ĐCSVN cần phải bước cả 2 chân một lượt tức là phải đẩy nhanh và mờ rộng hơn nữa quy mô “đổi mới” chính trị hiện nay, v́ kinh nghiệm của các nước cựu cộng sản cho thấy, như J. Kornai, nhà kinh tế học nổi tiếng người Hungari đă nói, cải cách chính trị - tư tưởng là “điều kiện chủ yếu” để mở đường cho các thay đổi cơ bản trong các lĩnh vực khác như kinh tế, xă hội và văn hóa. (79). Không những ở các nước cộng sản trước đây mà lịch sử cận đại của Á châu cũng đă chứng tỏ rằng: ở các nước từ Nam Triều Tiên đến Đài Loan, từ Thái Lan đến Ấn Độ, cải cách kinh tế phải đi song song với cải cách chính trị (80).
Đẩy mạnh “đổi mới” chính trị ờ Việt Nam hiện nay, chủ yếu có nghĩa là phải chuyển chế độ chuyên chính vô sản (mà người ta gọi một cách mỵ dân là “Nhà nước của dân, do dân, v́ dân”) sang chế độ dân chủ chân chính, tức là chế độ đa đảng (có đảng đối lập) phù hợp với nền kinh tế thị trường; và trong chế độ dân chủ thật sự đó, những quyền tự do dân chủ cơ bản và nhân quyền phải được tôn trọng.
Để thực hiện mục tiêu này, thay v́ đoàn kết dưới trướng của đảng như đảng mong muốn, chúng tôi chủ trương một sự tập hợp chính trị mới của toàn dân, một khối đại đoàn kết mới bao gồm tất cả những lực lượng yêu chuộng tự do, dân chủ chân chính, ở trong và ngoài nước, kể cả những đảng viên, cán bộ đă giác ngộ, nhằm chống lại tập đoàn lănh đạo đảng ngoan cố hiện nay. Đó là ch́a khóa của một sự đổi mới chính trị triệt để (chớ không phải nửa của nửa vời như hiện nay) nhằm mở đường cho những cải cách cơ bản khác trong xă hội.
Paris tháng 7/95
Vơ Nhân Trí
Chú thích .
1) Vơ Nhân Trí, Vietnam's Economic and Political “Renovation” An Assessment. Paper delivered at the World Conference Organized by the “International Committee for a Free Vietnam”, US Senate, Washington, D.C, 2rd May 1995, đăng trong tạp chí Thế Kỷ 21, July 1995, tr. 47-48.
2) Về “đổi mới” kinh tế, xem: .
- Vơ Nhân Trí, Vietnam's Economic Policy Since 1975, institute of Southeast Asian Studies, Singapore 1990; and Allen & Unwin, Sydney, 1990, Chap.4;
- Vơ Nhân Trí & Anne Booth, “Recent Economic Development in Vietnam”, Asian Pacific Economic Literature, Australian National University, Canberra, Vol 6, No. 1, May 1992:
- Yannick Mades Claire, “Au Delà Des Apparences: Un Autre Regard Sur Le Vietnam Des Annees 1990l”, Revue Tiers-Monde, Paris, No. 140, Oct - Déc. 1994) ;
- Michel Herland, Approche De La Transition Dans Le Communisme Asiatique: Le Cas Du Vietnam, Colloque International: Sources Et Approches Du Vietnam, Université De Provence, Mai 1995. (France).
- IDE Spot Survey, Dynamic Vietnam, Institute of Developing Economics, Tokyo, Japan, June 1995.
- Lê Đăng Doanh, Vietnam's Economic Situation and Economic Reform, Central Institute for EconomicManagement, Hanoi. Paper presented at the seminar of Cepremap, Paris, March 13 1995.
3) Lê Văn Toàn: “... Số liệu thống kê, ơặc biệt là các chỉ tiêu giá trị tổng hợp chưa đủ độ tin cậy cần thiết để làm cơ sở vững chắc cho việc nhận định t́nh h́nh; (...) có chỉ tiêu c̣n chịu ảnh hưởng phổ biến của yếu tố chủ quan... ”, Tạp chí Thống Kê, Hà Nội, số 2, 1991, tr.2.
Ngoài ra, anh Vơ Quang Việt, một chuyên viên thống kê kinh tế của Liên hiệp Quốc và đồng thời là cố vấn chính thức của chính phủ Hà Nội, gần đây có nhận xét như sau: “thống kê Việt Nam thua khá xa Bangladesh, một nước kém phát triển nhất ở Á châu” tạp chí Diễn Đàn (sẽ gọi tắt là DĐ), Paris, tháng 3, 1995, tr. 16.
4) Sàig̣n ECO, 1/1/1995 tr.10.
5) Phỏng vấn của Vơ Văn Kiệt, Le Monde, Paris 5/5/95
6) Agence Financière Pour L'Asie, Ambassade de France, Tokyo, Vietnam: Situation Economique Et Financière à L'automne De 1992, Décembre 1992, tr. 1-3.
7) World Bank Policy Research, 1994, Ref. 678-83. .
8) Nhân Dân (sẽ gọi tắt là ND) 11/2/1995 Vietnam News Agency, Hà Nội, 13 Feb. 1995; Thời báo Kinh Tế Saigon 12/1/1995 World Bankls report No. 13143 - Vietnam, Vietnam Public Sector Management and Private Incentives. An Economic Report, Sept. 26, 1994, tr. 79-82; Đinh X. Quân, Thế Kỷ 21, USA, May 1995, tr. 30-33.
9) Lao Động, Hà Nội, 4/6/95.
10) Đỗ Nguyên Phương, Tạp chí Cộng sản (sẽ gọi tắt là TCCS), Hà Nội, số 5, 1994, tr. 33.
11) Thư của Bùi Minh Quốc, Thông Luận (sẽ gọi tắt là TL), Paris, tháng 2/1995, tr. 10.
12) Lê Đăng Doanh, Nghiên Cứu Kinh Tế, Hà Nội, số 2, tháng 4, 1993, tr.5.
13) Theo nhà kinh tế học ở Harvard, Dwight Perkins, người đă từng được mời làm cốvấn kinh tế cho Hà nội, th́ “Vietnam (is) being in the “Twilight Zone”, somewhere between a Stalinist Command economy and a Western - style market economy, with only a hazy notion of how to complete the journey”. Trích theo báo Time, April 24, 1995, tr. 36.
14) Đỗ Mười, bài nói chuyện nội bộ tại Hội nghị cán bộ do ĐCSVN tổ chức tại Hànội ngày 3/3/94, đăng trong DĐ, tháng 7, 1994, tr. 18.
15) Không Doăn Hợi, TCCS, số 3, 1994, tr. 25.
16) Lữ Phương, bài phỏng vấn trong DĐ, tháng 7, 1995, tr. 15.
17) Xem - Lucian W. PYE, The China Quarterly, London, No. 135, Sept. 1993, tr. 441-42 (về cải cách nói chung)
- Barry Naughton, ibid, tr. 510-12 (về cải cách kinh tể)
- David Shambaugh, ibid, tr. 488 (về cải cách chính trị)
18) Đỗ Mười, TCCS, số 3, 1995, tr.7.
19) Nguyễn Hộ, TL, tháng 6, 1995, tr. 19.
20) Lữ Phương, DĐ, tháng 11, 1993, tr. 23.
21) Nguyễn Hộ, TL, tháng 6, 1995, tr. 16.
22) Lữ Phương, DĐ, tháng 7, 1995, tr. 12 và 13. ' ~ ' '
23) Xem bài của Nguyễn Đức B́nh, TCCS, số 5, 1995, tr. 3-8 chắng hạn.
24) Francois Furet, Le Passé D'une llluslon. Essal sur L'idée Communiste Au 20 éme Slècle, Edrtions Robert LaffontlCalmann - Lévy, Paris 1995, tr. 12.
Về di sản tiêu cực của Lênin, F. Furet c̣n viết: “Độc dảng, tư tưởng bôn-sơ-vích, khủng bố và công an chính trị ,là các di sản của Lênin”, lbid, tr. 504.
25) Vơ Nhân Trí, "Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xă hội và “Đổi Mới”, trong quyển sách “Đảng Cộng sản trước thực trạng Việt Nam”, nhà xuất bản Đường mới, Paris, 1994, tr. 63-94.
26) Đặng Xuân Kỳ, TCCS, số 9, 1995, tr. 17.
27) Tuyển tập Nguyễn Kiến Giang, nhà xuất bản Trăm Hoa, Califomia, USA, 1993, tr. 125; 131; 133.
28) Trần Văn Giàu, bài đăng trong quyển Nghiên Cứu Tư Tưởng Hồ Chí Minh, tập 2, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hànội, 1993, tr. 44.
29) Lữ Phương, DĐ, tháng 7, 1995, tr. 15. .
30) Đỗ Mười, Nhân Dân (sẽ gọi tắt là ND), 21/1/94.
31) Đỗ Mười, DĐ, tháng 7, 1994, tr. 17.
32) Mai Chí Thọ, báo xuân Công An thành phổ Hồ Chí Minh, trích theo Lâm Lễ Trinh, Thế Kỷ 21, May 1995,tr.27.
33) TCCS, số 5, 1994, tr. 34.
34) Dương Quỳnh Hoa, phỏng vấn trong Far Eastern Economlc Review, Dec, 2, 1993, tr. 90.
35) Thành Tín (tức Bùi rín), Mặt Thật, Saigon Press, USA, 1993, tr. 295: và Nguyễn Hộ, TL, tháng 6, 1995.
36) Đỗ Mười, TCCS, số 2, 1995, tr. 9.
37) Trích theo DĐ, tháng 1, 1994, tr. 8.
38) Lao Động, Hànội, 5/1/95.
39) Nhân Dân 23/1/95.
40) Tiêu Dao Bảo Cự, Nửa đời nh́n lại, Nhà xuất bản Thế kỷ, CA, USA, 1994, tr 333. '
41) Nguyễn Hộ, phỏng vấn với Radio France lnternational (RFI), Paris, 30/4/95; và thư ngỏ của Nguyễn Hộ, TL, tháng 7 và 8, 1995,tr.21.
42) Lữ Phương, DĐ, tháng 7, 1995, tr. 15.
43) Trường Mậu, TCCS, số 1, 1995, tr. 5.
44) Xă Luận TCCS, số 3, 1995, tr. 6.
45) TCCS, số 10, 1994, tr. 61.
46) Thư của Trần Độ gửi cho Đỗ Mười, DĐ, tháng 5, 1995, tr. 17.
47) Đặng Xuân Kỳ viết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước của dân, do dân, v́ dân là tư tưởng quán xuyến trong toàn bộ công cuộc xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam suốt nửa thế kỷ vừa qua”, TCCS, số 5, 1995, tr.18. Xem thêm xă luận TCCS, số 6, tr.8.
48) Lê Duẩn: “Nhà nước xă hội chủ nghĩa là nhà nước chuyên chính vô sản”, và “để thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, nhà nước ta phải là một thiết chế của dân, do dân và v́ dân”, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hộl Đại biểu Toàn quốc lần thứ IV, NXB Sự thật. Hà Nội, 1977, tr.133.
49) Nguyễn Văn Linh: “... nội dung cơ bản của chuyên chính vô sản là chính quyền thuộc về nhân dân, chính quyền đó... xây dựng nhà nước xă hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, v́ nhân dân... do đảng cộng sản lănh đạo", Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ VII, TCCS, số 7, 1991, tr. 18.
50) Đỗ Mười: “Xây dựng nhà nước pháp quyền... của nhân dân, do nhân dân, v́ nhân dân”, và nhà nước đó phải “do đảng... lănh đạo”, Báo cáo tại Hội nghị nửa nhiệm kỳ của Đảng Cộng sản (tháng 11/94), Nhân Dân 21/1/94.
51) Đào Duy Tùng, Về con đường xây dựng chủ nghĩa xă hội ở Việt Nam, NXB Sự Thật, Hànội, 1991, tr. 72-73.
52) Thư của Tiêu Dao Bảo Cự, TL, tháng 2, 1995, tr. 13.
53) Báo Tuổi Trẻ 6/1/94 đă nói về các quán nhậu gọi là “b́nh dân” mà ở đó mỗi lần ăn nhậu phải tính ra 500.000 đồng trở lên (khoảng 50 US đô la) cho đến 2-3 triệu đồng là chuyện thường: ngoài ra c̣n có các nhà hàng “quư tộc”ở ngoại ô thành phố Sàig̣n mà ở đó các khách hàng “quư tộc” đó chỉ dùng US đô la để trả tiền v́ tiền Việt Nam bị cho là “c̣m quá”.
54) Dương Thu Hương, Tiểu Thuyết Vô Đề, Văn nghệ xuất bản, California, USA, 1991, tr. 237.
55) Đỗ Mười, DĐ, tháng 7, 1994, tr. 17.
56) Trường Mậu, TCCS, số 1, 1995, tr. 7.
57) J. Staline, Questions Du Léninisme, Moscow, 1953.
58) Tạp chí Géo, Paris, Janrier 1991, tr. 6.
59) Xă luận TCCS, số 3l 1995, tr. 3.
60) AFP và Reuter 9/1/95.
61) Tiêu Dao Bảo Cự, TL, tháng 2, 1995, tr. 12.
62) Đỗ Mười, Voice of Vietnam (VOV), tiếng Việt, 8/3/5.
63) Hà Xuân Trường, TCCS, số 3, 1995, tr. 51.
64) Thư của Bùi Minh Quốc, TL, tháng 2, 1995, tr. 9.
65) Đỗ Mười, DĐ, tháng 7, 1994, tr. 17.
66) Anh Thơ, TCCS, số 7, 1993, tr. 44 và 47.
67) Đỗ Mười, DĐ, tháng 7, 1994, tr. 18.
68) Nhân Dân 20/4/92.
69) RFl, tiếng Việt, Paris, 24/5/95
70) Trần Thanh Hiệp, TL, tháng 2, 1995, tr. 4.
71) Nhân Dân 18/11/93.
72) TCCS, số 5, 1994, tr. 34.
73) Tác giả bài này trực tiếp nghe Dương Thu Hương kể lại chuyện này trong một cuộc hội thảo tại Đại học Paris Vll (Jussieu) trong năm 1994. Cùng xem DĐ, tháng 1/95, tr. 9 (chú thích 5).
74) Lê Quang Đạo, Chủ tịch “Mặt trận Dân tộc Thống nhất”, RFI, Paris 23/5/95 (tiếng Việt).
75) Nhân Dân 17/8/94
76) Phan Đ́nh Diệu, DĐ, tháng 11/94, tr. 15-16.
77) Nguyễn Hộ, TL, tháng 7 và 8/95, tr. 20-21.
78) Đỗ Mười, TCCS, số 3, 1995, tr. 9-10.
79) J. Kornai, The Socialist System. The Political Economy of Communism, Princeton University Press, New Jersey, 1992, tr.568.
80) Kareen Elliott House, the Wall Street Journal, Feb. 24, 1995. .
Tiểu sử
Vơ Nhân Trí:

Tiến sĩ Luật, Kỹ sư Thương mại tại Pháp; học Ph.D. Birmingham, Anh.
- Chuyên gia nghiên cứu về lịch sừ Kinh tế Việt Nam và Kinh tế thế giới ở ủy ban Khoa học Xă hội; Hà Nội.
- Chuyên viên nghiên cứu viện Khoa Học Xă Hội Thành phố HCM.
- 1980: Bị Công an bắt, xin ra khỏi đảng.
- 1984-89: Đi Pháp và định cư ở Paris. Nghiên cứu về kinh tế Việt Nam tại Đại học Brighton, (Anh), tại viện kinh tế các nước đang phát triển của Tokyo, và Viện nghiên cứu các nước Đông Á của Singapore.
- 1990: Nghiên cứu tại CNRS Paris và Australian National University Canberra.
Tác giả: Vietnam Economic Policy Since 1975; Singapore 1990 và Sydney 1990; tái xuất bản 1992.
Tác giả một số bài về kinh tế xuất bản ở Việt Nam, Liên Xô (cũ), Hoa Kỳ, Nhật, Pháp, Úc v.v...