CÁCH-MẠNG VIỆT-NAM:

 

CÔNG & TỘI

 

 

Những cái bánh vẽ khổng-lồ

 

(Bài tham luận tại cuộc hội thảo ngày 20.8.1995  ở Sydney, Úc)

 

                                                                                     Giáo sư Nguyễn Ngọc Phách

 

 

Thưa quư vị

Thưa các bạn

Giới cán-bộ Cộng-sản Việt-nam - như ai nấy đều biết - rất sính một số từ-ngữ như “Cách-mạng” , “cứu quốc” , “đổi đời”…

 Như người Cộng-sản hay nói th́ trước Cách-mạng, người Việt ḿnh đă phải sống một kiếp sống lầm-than cơ-cực đủ điều nên khi Đảng Cộng-sản Việt-nam (ĐCV), lúc đó c̣n có tên là Đông-dương Cộng-sản Đảng (ĐCĐ), phát-động cuộc Cách-mạng Mùa Thu năm 1945, họ đă có công cứu quốc và đổi đời cho mấy chục triệu sinh-linh đồ-thán: họ đă giải-phóng đất nước khỏi ách thống-trị của Phát-xít Nhật và Thực-dân Pháp, và lănh-đạo các tầng lớp nhân-dân nổi lên chấm dứt mấy chục thế-kỷ đế-quyền phong-kiến. Từ hôm mồng 2 Tháng Chín năm 1945, là ngày Hồ Chí Minh cho ra mắt Chính-phủ Việt-nam Dân-chủ Cộng-ḥa, Ông Hồ c̣n cho thuộc-cấp viết trên tất cả các tài-liệu chính-thức khẩu-hiệu: “độc-lập, tự-do, hạnh-phúc” .

Ta cũng phải biết là ngay trong Tuyên-ngôn Độc-lập họ Hồ đọc tại Quảng-trường Ba-đ́nh ở Hà-nội, chính ông đă dịch ba bốn đoạn văn bất-hủ trong hai tài-liệu lịch-sử quan-trọng. Để giúp các bạn trẻ mường-tượng được phần nào không-khí ở Hà-nội vào thời-điểm đó - và cũng để giúp các bậc cao-niên nhớ lại “cái thủa ban đầu lưu-luyến ấy” - tôi xin phép đọc đoạn mở đầu Tuyên-ngôn Độc-lập của họ Hồ:

"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền b́nh-dẳng. Tạo-hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm-phạm được (và) trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự-do, và quyền mưu-cầu hạnh-phúc.”  Lời bất-hủ ấy ở trong bản Tuyên-ngôn Độc-lập của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân-tộc trên thế-giới đều sinh ra b́nh-đẳng; dân-tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyên tự-do.

Bản Tuyên-ngôn Nhân-quyền và Dân-quyền của Cách-mạng Pháp năm 1791 cũng nói: "Người ta sinh ra tự-do và b́nh-đẳng về quyền-lợi và phải luôn luôn được tự-do và b́nh-đẳng về quyền-lợi”.

Đọc đến đó, lănh-tụ ĐCĐ đă nói thêm: “Đó là những lẽ phải không ai chối căi được.” Tôi không biết quư vị và các bạn nghĩ sao chứ riêng tôi cũng phải nói không sao chối căi được những lẽ đó. Tôi c̣n phải khen họ Hồ đă khéo tổng-kết tất cả những lư-tưởng cao-cả, đă hướng dẫn tập-đoàn tác-giả Tuyên-ngôn Độc-lập của Hoa-kỳ và Tuyên-ngôn Nhân-quyền và Dân-quyền của Cách-mạng Pháp trong vỏn vẹn có ba chữ ngắn gọn.

Thế mà trong suốt một nửa thế-kỷ vừa qua - một nửa thế-kỷ là hai đời người rồi chứ đâu có ít ỏi ǵ - ông Hồ và mấy thế-hệ lănh-đạo ĐCĐ, rồi Hội Nghiên-cứu Mác-xít, rồi Đảng Lao-động Việt-nam, rồi ĐCV đă làm được ǵ để xây đắp ba khái-niệm mà họ đă hứa hẹn với dân-tộc ?

Thưa quư vị

Thưa các bạn

Trước khi luận về công tội của Cách-mạng Cộng-sản Việt-nam, tôi xin phép được sơ-lược ba khái-niệm Độc-lập, Tự-do và Hạnh-phúc. Như Từ-điển Tiếng Việt của Nhà Xuất-bản Khoa-học Xă-hội ở Hà-nội giải-thích th́ một nước độc-lập là một “nước có chủ-quyền về mọi mặt, không phụ-thuộc vào nước khác...” Tự-do th́ được định-nghĩa là “ trạng-thái một dân-tộc (mà) các thành-viên không bị cấm đoán, hạn-chế trong các hoạt-động xă-hội - chính-trị.” Và Hạnh-phúc th́ chỉ là một “ trạng-thái sung sướng v́ cảm thấy hoàn toàn đạt được ư-nguyện ” .

Nhưng thực quả trên thế-gian này, không nước nào, không dân-tộc nào là hoàn toàn độc-lập, hoàn toàn tự-do, hoàn toàn hạnh-phúc. Độc-lập mà đến chỗ tuyệt-đối th́ chỉ là cô-lập, cô-lập như nước Nhật trước đời Minh-trị, cô-lập như chế-độ B́nh-nhưỡng ở Bắc Hàn ngày nay. Tự-do mà tuyệt-đối th́ loạn to, loạn như vào buổi hồng hoang, con người c̣n gần loài thú hơn là “giống sậy biết nghĩ” của Pascal. Hạnh-phúc mà tuyệt-đối th́ có lẽ phải lên tiên-cảnh hay sang thế-giới bên kia mới được hưởng. Thế-giới loài người là thế-giới của sự tương-đối nên không làm chi có ǵ là tuyệt-đối. Ta đang sinh sống tại Úc th́ có lẽ ta cũng nên tự hỏi Úc có hoàn toàn độc-lập hay không.

Như ai nấy đều dư biết, Độc là “một ḿnh” và Lập là “đứng” . Bởi vậy, Độc-lập là “đứng một ḿnh” , “không phải dựa vào ai mà cũng đứng vững” . Mới thoạt xét th́ ta có thể nói Úc là một quốc-gia hoàn toàn độc-lập. Thực vậy, không như Việt-nam thời Bắc-thuộc hay thời thuộc Pháp, đất Úc không có quân nước ngoài chiếm đóng và dân Úc không phải tuân-thủ những luật lệ làm tận đâu ở Ba-lê hay Trường-an. Nhưng nh́n kỹ một chút th́ ta mới thấy là ngay như có bỏ qua những liên-hệ chính-trị lịch-sử c̣n để lại giữa Úc và Anh-quốc - như mấy ông Toàn-quyền và Khâm-sứ hữu danh vô thực - quốc-gia Úc-đại-lợi vẫn bị ràng buộc bởi rất nhiều hiệp-ước và công-ước quốc-tế. Chẳng hạn, một khi đă kư và phê-chuẩn Công-ước Quốc-tế về Dân-quyền và Chính-trị-quyền (ICCPR), Úc phải làm đủ mọi cách để ban bố những quyền đó cho tất cả các thành-phần nhân dân trong xứ. Cách đây hơn 20 năm, Thổ-dân Úc đă được hưởng quyền bầu-cử chỉ là v́ thế! Hơn nữa, việc hai chính-đảng lớn ở đây luôn luôn chủ-trương Úc phải tham-gia những tổ-chức khu-vực cũ mới như ANZUS (Liên-minh Quân-sự Úc, Tân Tây-lan, Mỹ) và APEC (Diễn-đàn Kinh-tế Á-châu - Thái-b́nh-dương) có lẽ cũng chứng-tỏ nhân-loại đă bước vào một thời-đại mới, mà khái-niệm độc-lập lần lần phải nhường bước cho khái-niệm liên-lập.

Chuyện độc-lập đă thế... chuyện tự-do th́ sao ?

Trong số các dân-tộc đang sống trên địa-cầu, có lẽ không dân-tộc nào có truyền-thống tự-do cang cường như dân Pháp. Nhưng ngay ở Ba-lê, không phải ai muốn làm ǵ cũng được. Người Pháp có nhiều luật như. .. cây trong rừng, mà ai vi-phạm là bị Phú-lít nhắc nhở hay bỏ bót ngay. Nhưng ở nước Cộng-ḥa Xă-hội Chủ-nghĩa Việt-nam (CXCV) của chúng ta, từ ngày đất nước thống-nhất đến giờ đă được non 20 năm mà Quốc-hội chưa làm nổi 100 đạo luật nên dân làm ǵ người Nhà Nước cũng có thể bỏ tù ! Mà dân chẳng làm ǵ th́ người Nhà Nước cũng vẫn có thể bỏ tù. Trường-hợp Bác-sĩ Nguyễn Đan Quế, Giáo-sư Đoàn Viết Hoạt, Ông Hoàng Minh Chính và Ông Đỗ Trung Hiếu chứng-tỏ hai năm rơ mười là ở CXCV, “Tự-do” là một chữ hoàn toàn rỗng nghĩa!

 Mấy trường-hợp vừa nêu c̣n chứng-tỏ một điều khác nữa: Có lẽ v́ xuất thân ít học, suốt đời chỉ lo đấu-tranh, và trong mấy chục năm chiến-tranh chỉ nghĩ du-kích-chiến - mà du-kích là vừa đánh, vừa phá, vừa chơi - họ không biết xây dựng mới là chuyện khó. Thực vậy, xây được một cái cầu, làm được một nhà máy mới khó chứ dùng ḿn cho nổ cây cầu và nhà máy kia th́ dễ quá, ai làm chẳng được ! Nhưng v́ đă luôn miệng ca-ngợi các hành-động phá-hoại là thần thánh, họ không thể xem chất xám trong đầu là quư. Tôi dám chắc họ chỉ xem Bác-sĩ Quế như một thứ lang Tây, t́m đâu cũng ra. Họ đâu có biết một chuyên-viên y-khoa như Ông Quế phải đào-tạo mấy chục năm mới xong. Khi bỏ tù những nguời như ông, họ c̣n chứng-tỏ không hiểu ǵ về thời-đại kỹ-thuật cấp cao ngày nay. Tuy nhiên, thái-độ của cấp lănh-đạo Hà-nội đối với giới trí-thức và chuyện chữ nghĩa không phải chỉ hạn-chế ở việc bỏ tù Ông Quế, Ông Hoạt, Ông Chính, Ông Hiếu..

Tôi chắc những người có mặt ở đây ai cũng c̣n nhớ hồi năm 1975, ngay sau khi Miền Nam vừa “được bộ-đội Cụ Hồ giải-phóng”, Ủy-ban Quân-quản vùng Sài-g̣n - Chợ Lớn - Gia-định chỉ ra một thông-cáo là ai giử sách cũ, sách gọi là dâm-bôn đồi-trụy - kể cả sách tây, sách ta, sách khoa-học kỹ-thuật, tự-vị y-dược – đều có thể bị xộ khám dễ dàng. Chính-phủ Lâm-thời Cộng-ḥa Miền Nam Việt-nam chỉ ra có một nghị-định mươi mười lăm hàng về chuyện “học-tập cải-tạo của Ngụy-quân Ngụy-quyền” là cả mấy trăm ngàn người phải ở tù “mút mùa Lệ Thủy”. Và Ủy-ban Cải-tạo Công-thương-nghiệp cũng chỉ ra một cái thông-tư đâu đâu là 250.000 gia-đ́nh công-thương bỗng dưng bị tước mất hết cả sản-nghiệp xây dựng bằng mồ hôi nước mắt của bao nhiêu thế-hệ !

Tuy không ưa ǵ ông Mao Trạch-đông, tuy đă cho quân sang đánh ông Pol Pot chạy có cờ, chính-sách dựng nước của ĐCV chứng-tỏ họ nghĩ không khác ǵ cố lănh-tụ Cộng-ḥa Nhân-dân Trung-hoa và nhân-vật đă từng được báo-chí mệnh-danh là đồ-tể của nhân-dân Căm-pu-chia. Thái-độ của các lănh-tụ ĐCV sau Chiến-thắng Mùa Xuân c̣n đi ngược với tinh-thần luật-pháp - như William Blackstone viết - là “thà tha lầm mười kẻ có tội c̣n hơn là phạt một người vô tội”. Việc bỏ tù cả trăm ngàn người và tịch biên tài-sản của hàng trăm ngàn người khác rơ rệt chứng-tỏ thái-độ của ĐCV là “thà giết lầm mười người c̣n hơn để cho một kẻ thù thoát chết.”

 Than ôi ! Ở các nước văn-minh tiến-bộ, ngay như muốn bỏ tù một tên chúa trùm băng đảng khét tiếng, nhà cầm quyền cũng phải cho người theo dơi, lập hồ-sơ, rồi bắt quả tang tên kia đang phạm tội th́ mới đưa được y ra ṭa, và chỉ có quan ṭa mới có quyền bỏ tù hắn ta. Ở CXCV, sự đời không bao giờ lôi thôi như thế! Tôi có một ông bạn đă phải học-tập cải-tạo thêm cả năm chỉ v́ ban quản-giáo trại để lạc lịnh phóng-thích ông ! Hỏi ông tại sao khi về ông lại không khiếu-nại th́ ông nói đến thái-độ “dĩ ḥa vi quư” . Ông đâu biết là tinh-thần “dĩ ḥa vi quư” mà đặt sai chỗ là rất tai hại !

 Nghĩ cho cùng th́ giữa một chế-độ pháp-trị như ở Úc, ở Pháp, ở cả một nước như Thái-lan và Tân-gia-ba, và một chế-độ đảng-trị như ở bên nhà, cái khác-biệt lớn lao nhất chỉ là ở tŕnh-độ tôn-trọng luật-pháp. Ở nước nào khuôn-khổ pháp-lư càng công-bằng, rơ rệt, và vững chăi th́ người dân càng xu-hướng thượng-tôn luật-pháp và đ̣i giới cầm quyên phải tôn-trong quyền-lợi của họ. Ở Việt-nam ta ngày nay, người ta có muốn tôn-trọng phép nước cũng chẳng

biết đâu mà ḍ…thành thử ra quyền-hạn của dân-chúng lần lần bị soi ṃn, quyền-hạn của người Nhà Nước lần lần cứ ph́nh lên. Đáng ngại hơn nữa là các tệ-nạn của thời phong-thực như cửa quyền, quan-liêu, bệnh gia-trưởng phong-kiến…cứ gia-tăng măi không thôi nên các giá-trị đạo-đức hiện-đại - như nhân-phẩm, nhân-quyền của người công-dân - cứ bị chà đạp măi không thôi.

 Như các bỉnh-bút đă nhiều lần nhận-xét, ở các nước dân-chủ tự-do, điều ǵ luật-pháp không cấm là người dân có quyền làm. Ở các xứ như nước ta, luật-pháp không minh-thị cho phép là người dân không có quyền làm ǵ cả. Thế mà Nhà Nước lại không chịu làm luật ! Chẳng trách làm bất cứ chuyện ǵ cũng có thể bị người Nhà Nước cấm cản, mà không răm rắp tuân theo người Nhà Nước là có phen bỏ xừ !

Chắc ai cũng c̣n nhớ chuyện “ngăn sông cách chợ” đă có thời làm cho kinh-tế Việt-nam điêu đứng. Hồi Thập-niên 70 và 80, cứ thỉnh thoảng ông Thủ-tướng Phạm Văn Đồng lại chỉ-thị cho Chính-phủ và Chính-phủ lại chỉ-thị cho các chính-quyền cấp tỉnh phải hủy bỏ các trạm kiểm-soát làm tê-liệt việc chuyên chở hàng hóa từ làng ra quận, từ quận ra ra tỉnh, nhưng v́ các trạm này là một nguồn lợi-tức quá béo bở cho các toán dân-quân du-kích, các tổ-chức này nọ ở các địa-phương, nên lịnh của họ Phạm - nói như người Sài-g̣n năm xưa - không có kư-lô nào hết. Trong vùng ven biên Hà-nội, giới nhà nông trồng cơ man nào là rau cỏ mà sao có lúc cư-dân đất Ngàn Năm Văn Vật không cả có đủ rau cải, rau muống mà ăn !

Luật-pháp không đủ, áp-dụng không nghiêm-minh, th́ chỉ c̣n là một thứ luật rừng. Ấy thế mà mỗi khóa Quốc-hội, các nhà lập-pháp CXCV chỉ làm ra được dăm ba bộ luật, luật này có khi c̣n mâu-thuẫn với luật kia, và có cái c̣n đi ngược với Hiến-pháp. Luật Đầu-tư Nước Ngoài, chẳng hạn, có điều-khoản cho phép các pháp-nhân ngoại-quốc sử-dụng đất cát suốt mấy chục năm - trong khi chính người Việt-nam th́ chưa được nh́n nhận quyền làm chủ những thửa ruộng chính tay ḿnh khai-phá và Hiến-pháp 1992 vẫn chủ-trương Nhà Nước chủ-hữu tất cả đất đai trong xứ. Ở trong t́nh-trạng đó, người làm bất cứ việc ǵ cũng không sao cầm chắc ḿnh có được hưởng kết-quả những việc ḿnh làm hay không. Hơn nữa, trong t́nh-cảnh pháp-lư tranh tối tranh sáng đó, làm ăn là phải biết điều, “đầu tiên” cái này, “đầu tiên”” cái kia. Thế th́ c̣n tự-do ǵ nữa!

  Mà không tự-do, nhân-quyền bị vi-phạm, nhân-phẩm bị chà đạp th́ làm sao có thể nói chuyện hạnh-phúc ? Như các dân-tộc phương Tây quan-niệm, tự-do chẳng khác ǵ cái không-khí ta thở. Không có tự-do là ai cũng sợ hăi, mất cả nhân-phẩm th́ không làm sao có thể có hạnh-phúc.

Nhưng ngay như chỉ hiểu khái-niệm hạnh-phúc theo nghĩa hẹp nhất, tức là có nhà ở, có cơm ăn, có áo mặc, có thuốc khi ốm đau, có trường cho con cái đi học, có việc làm tương-đối chắc chắn, nên không phải quá lo chuyện ngày mai, th́ cũng không ai có thể bảo là người Việt-nam ngày nay có hạnh-phúc.

Thực vậy, ngay trong mấy ngày vừa qua, tin trong nước đă nói đến hai án tù người đời nay không sao có thể chấp-nhận được. Như các thông-tấn-xă cho biết th́ Ông Nguyễn Đ́nh Huy, một người đă trên thất tuần, đă bị bỏ tù 15 năm. Vụ thứ hai là vụ Ḥa-thượng Thích Quảng Độ, Tổng Thư-kư Viện Hóa-đạo Giáo-hội Phật-giáo Việt-nam Thống-nhất (GPVT), một vị chân tu năm nay đă 67 tuổi, vừa bị một Ṭa án Nhân-dân bỏ tù năm năm.

Quái gở thay ! ông Huy bị lănh án dài - đối với người tuổi tác như ông th́ là tử-h́nh rồi chứ c̣n ǵ nữa - chỉ là v́ ông muốn “nói chuyện” với ĐCV. Vụ Ḥa-thượng Quảng Độ cũng quái gở không kém ! Lần này, Ḥa-thượng lại phải đi “nằm ấp” chỉ v́ ngài đă viết một bản nhận-định về t́nh-h́nh đất nước suốt một nửa thế-kỷ và một lá thư gửi ông Tồng Bí-thư Đỗ Mười, đ̣i ĐCV phải bỏ thói cầm quyền độc-tài đảng-trị. Tôi dám cam-đoan với quư vị là ông Đỗ Mười chưa đọc cuốn La Chute của Albert Camus nên chưa biết rằng “người ta nhiều khi phạm tội chỉ v́ trong ḷng không chấp-nhận là ḿnh đă sai trái.”

 Những chuyện như thế - mà từ một nửa thế-kỷ nay, đă có bao nhiêu ngàn, vạn vụ như thế - đă làm băng-hoại sức sống của dân-tộc. Để lường-định được khả-năng tụt hậu và biệt-tài tự-hủy của các nước theo chủ-nghĩa Cộng-sản, thực quả ta chẳng cần phải đi đâu xa lạ, chỉ cần nh́n sang mấy nước láng giềng gần như Thái-lan, Mă-lai Á, Tân-gia-ba - mới ngày nào c̣n kém nước ta - là ai cũng phải nh́n nhận dân ḿnh đă thua kém họ xa !

Người dân Thái-lan, chẳng hạn, tuy bị một bọn quân-phiệt ác ôn bóc lột suốt mấy chục năm, đă xây dựng được một chế-độ đại-nghị tương-đối lành mạnh, đưa xứ sở vào một thời-kỳ phát-triển có một không hai trong lịch-sử. Trường-hợp Mă-lai Á c̣n đáng lưu-ư hơn nửa: Tuy có một dân-số tạp nhạp nên lịch-sử cận-đại đă ghi nhiều đụng độ sắc-tộc đổ máu tang-thương, Mă-lai Á đă tiến nhiều bước khồng-lồ và nay đă được cấp lănh-đạo nhiều quốc-gia xem như một thứ phát-ngôn-viên của các nước tân-hưng.

Nhưng trường-hợp đáng để người Việt chúng ta suy-nghĩ nhiều nhất có lẽ là Tân-gia-ba. Cách đây độ một phần tư thế-kỷ, Tân-gia-ba c̣n ở trong một t́nh-trạng phát-triển tương-tự như vùng Sài-g̣n - Chợ Lớn mà thôi. Mới hồi Thập-niên Sáu Mươi, mỗi lần có dịp ghé thăm cộng-ḥa thị-phủ này, tôi c̣n có thói so sánh Tân-gia-ba với Sài-g̣n về phương-diện này hay phương-diện kia.

Nhưng chỉ đến Thập-niên Bẩy Mươi th́ Tân-gia-ba đă có phần trội hơn thủ-phủ Miền Nam. Chẳng hạn, trong khi chính-quyền Miền Nam chỉ xây được một số khu chúng-cư tương-đối thiếu tiện-nghi để bán cho dân nghèo th́ Tân-gia-ba đă có vô số “thị-trấn” mênh mông bát ngát nhà cửa thoáng mát, tiện-nghi hiện-đại, và - điểm này có thể c̣n ư-nghĩa hơn nữa - người dân xứ này gần như ai cũng có quyền và có tiền mua một căn để ở. Trong lúc Miền Nam c̣n mờ mịt khói lửa, người Sài-g̣n chỉ lo sống qua ngày, th́ cuộc sống của quảng-đại quần-chúng Tân-gia-ba đă được cải-thiện rơ rệt. Lớp trẻ có trường học tốt, dân-trí lên cao, nên giới lănh-đạo đă nghĩ được đến việc kỹ-nghệ-hóa đất nước.

Từ ngày ĐCV thống-nhất đất nước (1975) và áp đặt chủ-nghĩa Mác - Lê từ Ải Nam-quan đến Mũi Cà Mau th́ Tân-gia-ba c̣n tiến-bộ nhanh gấp bội. Từ một xứ chỉ có một hai ngành công-nghiệp cần nhiều sức lao-động như may mặc, Tân-gia-ba đă chóng vánh chuyển sang những ngành công-nghiệp đ̣i hỏi nhiều vốn và kỹ-năng như lọc dầu và pha chế y-dược. Trong mười năm qua, cộng-ḥa thị-phủ này lại đă mạnh mẽ chuyển ḿnh tiến vào nhiều ngành công-nghiệp hiện-đại cấp cao như tin-học và ngân-hàng.

Như một nhà tư-tưởng Pháp đă viết, gouverner, c'est prévoir - xin tạm dịch là “trị nước là phải biết tiên-liệu” - cựu Thủ-tướng Lư Quang Diệu và ê-kíp của ông đă tiên-liệu được t́nh-h́nh kinh-tế thế-giới cả chục năm trước nên họ đă lèo lái con thuyền quốc-gia theo xu-thế thời-đại. Chính v́ thế mà Tân-gia-ba đă tiến xa hơn CXCV cả mấy chục năm. Chỉ cần so sánh một vài con số th́ bất cứ quan-sát-viên vô-tư nào cũng phải đi đến kết-luận là khoảng-cách giữa Tân-gia-ba và CXCV là một khoảng-cách quá lớn.

Thực vậy, mười năm sau khi cấp lănh-đạo ĐCV thấy rơ nguy-cơ đói khổ có thể làm chế-độ sụp đổ nên họ mới chịu “đổi mới tư-duy” và “cải-tổ cơ-cấu” - nói cách khác, vứt bỏ hệ-thống kinh-tế chỉ-huy và thây kệ cho người dân muốn làn ăn thế nào cũng được - lợi-tức b́nh-quân đầu người của dân Việt-nam mới nhích được đến mức 220 Mỹ-kim. Trong khi đó th́ phần thu-nhập của người dân Tân-gia-ba đă thăng tiến đến 18.000 Mỹ-kim, tức là hơn dân ḿnh tới gần 90 lần. Cũng nên biết là trong khi hơn 70 triệu dân Việt-nam chỉ bán được ra nước ngoài một số hàng hóa trị giá bốn năm tỷ Mỹ-kim th́ lợi-tức xuất-khẩu của ba triệu dân Tân-gia-ba đă lên xấp xỉ 100 tỷ. Có điều c̣n quan-trọng hơn thế nữa là trong khi CXCV nợ nước ngoài 24.7 tỷ Mỹ-kim mà chỉ có một khối ngoại-tệ dự-trữ chừng 600 triệu th́ Tân-gia-ba không những không mắc nợ ai đồng nào mà họ c̣n có một khối ngoại-tệ dự-trữ (không kể vàng) trị-giá hơn 56 tỷ Mỹ-kim.

Cũng nên biết là ngay trong những dự-báo kinh-tế lạc-quan nhất ở Hà-nội - chẳng hạn như tập Việt-nam: Con đường Phát-triển tới năm 2000 (Dự-thảo lần 3) - Viện Nghiên-cứu Dự-báo Chiến-lược Khoa-học và Công-nghệ (NDCKC) đă viết:

Vào năm 2020, với một dân-số dự-báo quăng 105 triệu, giá-trị GDP đầu người của Việt-nam ít nhất phải đạt dược mục-tiêu khiêm-tốn -- là quăng 2000 Mỹ-kim theo giá năm 1990... Nếu lấy điểm xuất-phát về GDP đầu người của Việt-nam vào năm 1990 là 200 Mỹ-kim th́ để đạt được mục-tiêu trên đây, cứ sau mười năm, nền kinh-tế Việt-nam phải có khả-năng nâng GDP đầu người lên ít nhất là gấp đôi, và mức phấn-đấu này phải được duy-tŕ liên-tục trong ba thập~niên liền kể từ năm 1991 trở đi.

Tôi không biết nhiều về kinh-tế-học nên không dám đồ-đoán chuyện tương-lai xa vời như các học-giả ở Viện NDCKC. Chỉ xin nói chuyện lai rai từ nay đến đầu năm 2000 mà thôi . . . Từ nay đến cuối Thế-kỷ XX, chỉ c̣n bốn năm rưỡi mà thôi. Bốn năm là một thời-gian rất, rất ngắn ! Bà nào giờ này có bầu, vài tháng nữa nằm ổ sinh con th́ đứa nhỏ đó chưa đến tuổi cắp sách đến trường, loài người đă bước vào Thế-kỷ XXI.

 Như tôi cũng nghĩ th́ năm 1990, lợi-tức b́nh-quân đầu người của dân Việt-nam mới là vào khoảng 200 Mỹ-kim th́ ngay như nếu hơn 70 triệu nhân-dân ta có chịu khó chịu cực cho sự phát-triển kinh-tế quốc-gia được duy-tŕ ở mức 10% một năm th́ đến năm 2000, người Việt-nam mới chỉ có một lợi-tức cá-nhân chừng 500 Mỹ-kim mà thôi. Nhưng đến khi đó th́ lợi-tức của dân Tân-gia-ba sẽ lên đến mức nào ? Ngay như độ phát-triển ở cộng-ḥa thị-phủ này chỉ bằng phân nửa mức phát-triển của CXCV th́ lợi-tức b́nh-quân đầu người của họ ít nhất cũng lên đến 30.000 Mỹ-kim. Cách-biệt giầu nghèo giữa Tân-gia-ba và Việt-nam rơ ràng là không sao có thể thu hẹp được !

Không biết quư vị nghĩ sao chứ ở trong thế-giới lư-tài ngày nay, tôi chắc đa-số đều nghĩ rằng chế-độ Tân-gia-ba rơ rệt là phục-vụ nhân-dân giỏi hơn nhà cầm quyền CXCV nhiều. Và tôi xin phép ví von vi vút một chút, nếu dân Việt-nam được tự-do lựa chọn giữa cái bánh vẽ ở Hà-nội và cái bánh nướng ở tiệm Lư Quang Diệu th́ chắc chắn họ sẽ chọn cái bánh thứ hai !

Lấy ba tiêu-chuẩn - Độc-lập, Tự-do, và Hạnh-phúc - để đo-lường sự thành bại của Cách-mạng Việt-nam th́ không ai có thể c̣n hồ-nghi ǵ nữa. Cách-mạng Việt-nam đă chứng-tỏ là một cái họa hơn là một cái phúc.

Nhưng nghĩ cho cùng th́ chữ “Cách-mạng” như tôi vừa dùng - và như người trong nước đă có thói dùng từ mấy chục năm nay - chỉ ám-chỉ những hoạt-động của phe Cộng-sản. Nếu hiểu chữ “Cách-mạng” theo nghĩa chữ Revolution của người phương Tây th́ có lẽ ta chẳng nên nói là ĐCV đă làm cách-mạng. Hồi năm 1945, họ Hồ chỉ đă cướp được chính-quyền và từ ngày đó, chính ông ta và đám đàn em đă dùng đủ mọi thủ-đoạn để nắm giữ quyền-hành chẳng khác ǵ những triều-đ́nh phong-kiến đời trước !

Thực vậy, theo định-nghĩa của tác-giả Đào Duy Anh th́ “Cách-mệnh” có hai nghĩa, “theo nghĩa cũ là đổi mệnh vua, đổi triều vua (thí dụ như Thang Vũ Cách-mạng) và theo nghĩa mới th́ là đổi chế-độ cũ mà xấu mà dựng nên chế-độ mới mà tốt” . Từ-điển Tiếng Việt của Nhà Xuất-bản Khoa-học Xă-hội chỉ cho nghĩa thứ hai: “Cách-mạng” được định-nghĩa là một “cuộc biến đổi xă-hội chính-trị lớn và căn-bản, thực-hiện bằng việc dùng bạo-lực lật đổ một chế-độ xă-hội lỗi thời, lập nên một chế~độ xă-hội mới, tiến-bộ ".

“Dưới ánh sáng” của mấy định-nghĩa vừa kể, ta có thể tự hỏi là nếu chế-độ mới không có ǵ là tốt đẹp và tiến-bộ hơn chế-độ cũ và có khía-cạnh c̣n tồi-tệ và suy-thoái hơn chế-độ mà nó thay thế th́ chế-độ đó có xứng chữ “Cách-mạng” người ta thường dùng cho nó hay không?

Muốn trả lời được câu hỏi vừa nêu, có lẽ chúng ta phải viết dăm bẩy cuốn sách mới đủ. Trong phạm-vi bài nói chuyện hôm nay, tôi chỉ xin nêu lên hai điểm chính.

l. Khi lật đổ Triều Nguyễn, Ông Hồ Chí Minh và các đồng-chí đă nói “đánh đổ chế-độ quân-chủ mấy mươi thế-kỷ mà lập nên chế-độ dân-chủ cộng-ḥa.” Nhưng đă nói đến một chế-độ cộng-ḥa dân-chủ th́ chế-độ đó phải là của toàn dân, do người dân lựa chọn, và v́ nhân-dân mà làm việc - nói theo Mạnh-tử th́ là “dân vi quư, xă tắc thứ chi, quân vi khinh” và nói theo ĐCV bây giờ th́ là “lấy dân làm gốc” .

Nhưng thử hỏi trong suốt 50 năm qua, chế-độ Hà-nội đă bao giờ là do nhân-dân Việt-nam tự ư “ lựa chọn” đâu ! Đă đành là những người c̣n bênh-vực cho Hà-nội có thể nói đến những cuộc tổng-tuyển-cử, những cơ-quan gọi là “dân-cử” như Quốc-hộ́ và Hội-đồng Nhân-dân các cấp, nhưng ngay những phần-tử Mác-xít chính-hiệu như Bác-sĩ Nguyễn Khắc Viện cũng đă lên án thủ-tục lựa chọn ứng-cử-viên vào các cơ-quan vừa kể ! Sự thực là chuyện dễ mếch ḷng nhưng chuyện bầu-cử ở các nước xă-hội chủ-nghĩa chỉ là một tṛ hề . Ở các nước dân-chủ, người dân thực sự có tự-do trong pḥng phiếu, không một ứng-cử-viên nào có thể thu hút được quá 50-60 phần trăm số phiếu trong các kỳ bỏ thăm. Ấy thế mà mỗi khi ra “tranh-cử” ở bên nhà, mấy Ông Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Vơ Văn Kiệt. . . đều “được” 98-99 phần trăm dân-chúng dồn phiếu cho họ th́ làm sao mà ai tin được chứ ! Những lúc đọc hay nghe tin bầu-cử bên nhà, tôi chỉ muốn gọi giây nói cho mấy trự này và bảo thẳng với họ: “Thôi đi, mấy cha nội ! Một vừa hai phải thôi chứ !

2. Nhưng dân-chủ không phải chỉ là cho dân thả cửa ăn nói và mỗi dịp đi bỏ thăm th́ bỏ sao cũng được. Nếu dân-chủ chỉ vỏn vẹn có là thế th́ những chính-thể quân-nhân đă tiếp-tục cầm cân nẩy mực ở Miền Nam sau cuộc đảo-chính Ông Ngô Đ́nh Diệm năm 1963 đều có tính-cách dân-chủ cao cả hay sao ? Dân-chủ là chuyện phức-tạp hơn thế nhiều. Dân-chủ là một tiến-tŕnh lâu đời, đa-đoan rắc rối, có nhiều cách phát-huy. Ở Anh, chẳng hạn, hồi đầu Thế-kỷ XIII, giới quư-tộc đă liên-kết với nhau và buộc được nhà vua phải chấp-nhận một bản Đại Hiến-chương (Magna Carta) nên các nguyên-tắc dân-chủ có đủ thời-giờ bắt rễ trong đời sống chính-trị quốc-gia. Ở Pháp, người dân có lẽ ưa chuyện suy-tư, lập-thuyết hơn nên người ta đă phải đợi đến lúc đọc được tác-phầm của những nhà tư-tưởng lớn như Montesquieu, Voltaire, Rousseau rồi th́ các tầng lớp quần-chúng mới đủ tin-tưởng phát-động cuộc Cách-mạng Dân-chủ Dân-quyền. Tại Mỹ, chủ-nghĩa dân-chủ đă được các thành-phần trí-thức đề-xuất và thực-thi trong cuộc Chiến-tranh Giành Độc-lập nên Cách-mạng Mỹ có một vài nét giống Cách-mạng Việt-nam. Nhưng trong khi dân Mỹ chỉ lo một chuyện, là đẩy quân Anh xuống biển, th́ Cách-mạng Việt-nam c̣n lo thêm sự-nghiệp bành-trướng chủ-nghĩa Cộng-sản ra khắp mặt địa-cầu. Trong khi người làm Cách-mạng Mỹ có nỗ-lực tư-duy sáng tạo để chuẩn-bị giai-đoạn hậu-chiến th́ Ông Hồ và các đồng-chí chỉ cứ nhắm mắt theo kinh-điển chủ-nghĩa Xít-ta-lin và chủ-nghĩa Mao nên họ chỉ đă để ra một chế-độ vừa độc-tài vừa phong-kiến.

Cách-mạng Mỹ đă thành-công tương-đối nhanh nên người Mỹ đă chóng vánh xây dựng được một guồng máy quốc-gia dân-chủ hùng mạnh. Ở xứ ḿnh, trong khi c̣n phải lo đối-phó với “ giặc ngoài”, Ông Hồ vẫn không quên “ giặc trong” - thực ra nhiều thành-phần gọi là “phản - Cách-mạng” này c̣n có tinh-thần đổi mới hơn mấy ông Cộng-sản - nên mấy ổng đă diệt bất cứ ai không chịu ṭng-phục mấy ổng. Nh́n sang bàn cờ chính-trị các nước đă thành-công trong

tiến-tŕnh xây dựng dân-chủ, tôi thấy rơ là Cách-mạng - như thể con người - phải có hai chân, hai cẳng th́ nó mới “đi “ được. Không có chân phải, lại bị cưa mất cả cái cẳng phải, Cách-mạng Việt-nam đâm ra què cụt !

Ngay bây giờ đây, chỉ cứ xem những sự tranh căi ḷng ṿng trong Chính-trị-bộ và Ban Chấp-hành Trung-ương ĐCV th́ ai cũng phải nói là Cách-mạng Việt-nam đă tṛn ngũ tuần mà vẫn chưa biết phải làm ǵ để kiến quốc !

Cuộc Cách-mạng và Chiến-tranh Giành Độc-lập của người Mỹ chỉ kéo dài tám năm (1775-1783) và 50 năm sau th́ Hợp-chúng-quốc Mỹ-châu đă trở nên một cường-quốc. Từ khoảng đầu Thế-kỷ XX, Hoa-kỳ rơ rệt c̣n đă giữ vị-thế siêu-cường số một trên thế-giới, một vị-thế gần như chẳng một ai chối căi.

Nh́n thế-sự qua nhăn-quan của người Cộng-sản Việt-nam th́ cuộc Chiến-tranh Giành Dộc-lập của chúng ta đă kéo dài ba chục năm mới có kết-quả nhưng giờ đây, 50 năm sau khi Ông Hồ Chí Minh tuyên-bố Cách-mạng Thành-công, các nhà làm cách-mạng ở Hà-nội vẫn chỉ lo bị đào-thải . Thực vậy, chỉ cần chịu khó đọc báo trong nước một tư là bất cứ ai cũng phải tự hỏi tại làm sao mà cấp lănh-đạo Hà-nội lại lo hiểm-họa “diễn-biến ḥa-b́nh” đến thế. Hay là. .. họ chỉ là những con người bịnh-hoạn, bịnh-hoạn v́ già nua nên tư-tưởng cằn cỗi, bịnh-hoạn v́ thói tham quyền cố vị đă_làm cho họ có cái nh́n hoàn toàn lệch lạc, bịnh-hoạn v́ cái sân si muốn ở thế cầm quyền măi măi.

Thưa quư vị

Thưa các bạn

Tôi chỉ mong chính tôi có cái nh́n quá lệch lạc khi tôi nh́n các lănh-tụ ĐCV. Tôi chỉ mong tôi nhầm - mà nhầm lớn - khi tôi phê phán họ. Nhưng tôi cũng phải nói với họ là dân-chủ là thế đấy, dân-chủ là nh́n nhau với con mắt đầy nghi ngờ nhưng vẫn có thể nói chuyện và làm việc với nhau.

Dân-chủ c̣n là phải làm sao tạo dựng cho bằng được một khuôn-khổ cho những người chính-kiến dị-đồng có thể ngồi cùng bàn chung sức làm việc nước hay thay phiên nhau phục-vụ nhân-dân, và nếu gập chuyện xung đột quá khó hóa-giải th́ phải chấp-nhận phán-quyết của trọng-tài - trong trường-hợp này phải là một ṭa án độc-lập.

T́nh-h́nh hiện-tại ở trong nước, lề lối sinh-hoạt của nhân-dân và nhất là lối sống và nếp suy-tư của cấp lănh-đạo cũng như cách làm việc của thiểu-số vi-ti này đều chứng-tỏ Cách-mạng Việt-nam không phải là một cuộc cách-mạng đích-thực. Những cố-gắng và hi-sinh vô bờ bến của nhân-dân Việt-nam - năm sáu triệu người chết và cả chục triệu người bị thương trong cuộc Chiến-tranh 30 Năm - vẫn chưa đưa đất nước ra khỏi Thời-đại Phong-kiến.

Độc-lập, Tự-do, Hạnh-phúc vẫn chỉ là những cái bánh vẽ khổng-lồ !

 

                                                                          Sydney, ngày 19 Tháng Tám 1995

  

Tiểu Sử :

 

Giáo Sư NGUYỄN NGỌC PHÁCH

 

 

Nhà báo chuyên nghiệp trong suốt 45 năm qua, đặc biệt theo dơi, phân tích t́nh h́nh Việt Nam. Tác giả rất nhiều bài viết nhận định và phân tích về hiện t́nh xă hội, kinh tế và chính trị Việt Nam.

Trước năm 1975:

- Nhân viên Ban Việt ngữ, đài phát thanh Luân Đôn (1959 - 1964)

Chủ bút các tờ báo Anh ngữ xuất bản tại Việt Nam: Sunday Post Vietnam Report (tiếng nói chính thức của Hội đồng Bang giao Quốc tế - Vietnam Council on Foreign Relations)

Bỉnh bút thường trực của tờ Daily Telegraph (Luân Đôn) .

- Giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Cửu Long.

Sau năm 1975:

- Nhân viên Ban Việt ngữ, đài phát thanh Úc Đại Lợi (Radio Australia) . .

Phụ trách Ban Việt ngữ, trường Ngôn ngữ và Thông ngôn Phiên dịch (School of Languages, Interpreting and Translating) của Viện Đại học Deakin, Victoria.

- Bỉnh bút (không thường trực) cho nhiều tờ báo Anh và Việt ngữ.