Nhận Định:

Hậu quả 50 năm cầm quyền

của tập đoàn lănh đạo CS Hồ Chí Minh

 

 

Nửa thế kỷ cầm quyền của tập đoàn lănh đạo CS/HCM gồm 2 giai đoạn: 30 năm chiến tranh và 20 năm xây dựng XHCN. Để nh́n lại chặng mở đầu của đoạn đường 50 năm ấy, xin giở lại một vài trang sử liệu:

 

     - Ngày 10-8-1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh sau khi bị oanh tạc bằng bom nguyên tử. Ngày 13-8 các lănh tụ Đảng Cộng Sản Đông Dương nhóm họp ở Tuyên Quang quyết định tổng khởi nghĩa “cướp” chính quyền, trước khi các lực lượng quân đội Đồng Minh tới Đông Dương giải giới quân Nhật, và trước khi các lực lượng vơ trang Việt Nam Quốc Dân Đảng (tức Việt Quốc) và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách) chiến đấu chống Phát xít Nhật từ Trung Hoa trở về. Ngày 19-8-45, cờ đỏ sao vàng được tung lên ở Hà Nội để đành dấu ngày “cướp chính quyền”, c̣n được gọi là “ngày khởi nghĩa”.

 

       - Ngày 19-8-1945 chính là ngày khởi đầu 50 năm cầm quyền của nhóm lănh đạo CS/HCM và những người kế vị. Ngày ấy số phận của 25 triệu người VN, vừa thoát khỏi móng vuốt Hắc Long của Phát xít Nhật, đă lại rơi vào ṿng kiềm tỏa dưới bàn tay sắt không bọc nhung của bạo quyền Đỏ. Một tập đoàn cai trị mới, được huấn luyện và chỉ đạo từ Trung tâm Bạo lực quốc tế Mạc Tư Khoa.

 

      Ba hôm sau ngày “cướp chính quyền”, ông Bảo Đại, vua cuối cùng của triều Nguyễn thoái vị dưới những áp lực chính trị. Một chính phủ lâm thời được thành lập tại Hà Nội, do Hồ Chí Minh lănh đạo. Dân chúng xôn xao bàn tán: Hồ Chí Minh là ai ? Có phải là Nguyễn Ái Quốc, người VN tiền phong của phong trào CS quốc tế không? Không ai được biết rơ.

 

        - Ngày 2-9-45, tại Hà Nội, HCM tuyên bố Việt Nam độc lập và hô hào kháng chiến chống Pháp. Một trang huyền sử mới vừa được mở ra. Trong cảnh tranh tối tranh sáng của thời cuộc, người dân chợt thấy ḷng rạng rỡ, tưởng như vừa t́m lại được lẽ sống mầu nhiệm dưới ánh sáng mặt trời.

 

       Việc thực hiện kế hoạch cướp thời cơ và chính nghĩa để “thu quyền lực về một mối” của nhóm lănh đạo đảng CSVN, lúc ấy gọi là đảng CS Đông Dương, tuy nhiên không phải không gặp những khó khăn. Để làm dịu sự chống đối của các khuynh hướng Quốc gia đối lập, HCM tạm thỏa hiệp với các lănh tụ Việt Quốc và Việt Cách để thành lập Chánh phủ Lâm thời sau khi Đảng CS Đông Dương tuyên bố tự giải tán.

 

       Cuộc kháng chiến chống Pháp thật sự bùng nổ sau khi thực dân Pháp theo gót quân Anh trở lại Nam Kỳ để lập lại chế độ thuộc địa. Các lực lượng vơ trang Cao Đài, Ḥa Hảo, B́nh Xuyên, Việt Quốc lập Mặt trận Quốc Gia Liên Hiệp để kháng chiến chống Pháp. Mặt trận Quốc gia Liên hiệp sau đó bị tướng Nguyễn B́nh tuyên bố giải tán do áp lực của Hà Nội. Ở Hà Nội hàng trăm người thuộc các thành phần Quốc gia đối lập bị thanh trừng và thanh toán, HCM lập ra chánh phủ mới, không c̣n tánh cách liên hiệp như trước nữa. Cuộc khởi nghĩa “cướp chính quyền” đến đây hoàn tất: nhưng hậu quả của nó th́ c̣n kéo dài cho đến ngày nay.

 

       Tập đoàn lănh đạo CS/HCM sau đó đưa cả dân tộc vào một cuộc chiến tương tàn thảm khốc, được mệnh danh là “chiến tranh giải phóng”, kéo dài 30 năm, trải qua hai giai đoạn:

      *  10 năm “Kháng chiến chống Pháp”

    *  20 năm “Chống Mỹ cứu nước”

 

        Và sau 30 năm hy sinh xương máu nhân dân để triệt hạ phe Quốc gia dưới danh nghĩa chống ngoại xâm, là giai đoạn 20 năm củng cố chế độ, xây dựng XHCN, rồi “đổi mới” để sống c̣n trong cơn phá sản của CS chủ nghĩa trên khắp thế giới.

 

         Để làm sáng tỏ những nhận định về hậu quả 50 năm cầm quyền của nhóm lănh đạo CS/HCM, một số vấn đề cần được giải đáp:

        - Vấn đề thứ nhất là thực chất của hai cuộc chiến tranh gọi là “giải phóng”nói trên có phải là chiến tranh giành độc lập của những người có ḷng với đất nước không? hay chỉ là những cuộc “chiến tranh ủy nhiệm” với mục đích giành quyền lực?

 

      Thời gian đă qua là một bức tường câm nín. Câm nín trong sự lặng lẽ của những người đă chết. Câm nín trong nỗi quên lăng của những người c̣n sống sót. Câm nín trong cơn gian dối của những kẻ đang ngự trị trên đỉnh cao quyền lực.

 

      Những nhân chứng của thời đại c̣n hiện diện khắp nơi, trong cũng như ngoài nước. Sự thật cũng đă được phơi bầy trên bao nhiêu trang giấy. Tuy nhiên sự thật cũng vẫn bị che giấu bưng bít. Để tránh sự nhận định thiên lệch, hăy hỏi chính ông HCM xem mục tiêu đích thật và mục đích cuối cùng của ông trong các cuộc chiến đấu “giải phóng” ấy là ǵ?

 

      Năm 1960, nhân dịp sinh nhật thứ 70 và sau khi đă tự nhận ḿnh là Nguyễn Ái Quốc, HCM có giải thích sự biến chuyển tư tưởng ḿnh như sau:

-         “ Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản, đă đưa tôi tin theo Lê Nin, tin theo quốc tế thứ ba. Thế rồi, từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nguyên cứu lư luận Mác Lê, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xă hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ... Đối với cách mạng Việt Nam và dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa Mác Lê không những là một cẩm  nang thần kỳ, một địa bàn chỉ hướng, mà c̣n là mặt trời soi sáng con đường thẳng tới thắng lợi cuối cùng, tới chủ nghĩa xă hội và chủ nghĩa cộng sản”.

       Đây là những lời thú nhận quan trọng của họ Hồ, do ông Hoàng Văn Chí, một đồng chí thân cận của ông Hồ Chí Minh ghi chép được và công bố trong cuốn “ Từ thực dân đến cộn sản”…

 

         Xem những lời trên, người ta thấy thoạt tiên ông Hồ dường như chỉ coi chủ nghĩa Cộng sản như một lợi khí, dùng để tranh đấu cho nền độc lập nước nhà. Nhưng sau khi “thấm” tư tưởng Mác Lê rồi, th́ họ Hồ đă xác định lại thái độ, nhận giáo điều Mác Lê là con đường duy nhất để thực hiện các nghĩa vụ quốc tế của người CS, và là mặt trời soi sáng con đường đưa nước Việt Nam thẳng tới xă hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Đó là mục đích duy nhất và cuối cùng của ông.

 

        Trên thực tế ai cũng thấy họ Hồ đă cực lực bác bỏ “Chủ nghĩa yêu nước” bị coi là hẹp ḥi, “lăng mạn” của những đảng phái có khuynh hướng Quốc gia dân tộc thời bấy giờ, để theo chủ nghĩa Mác Lê, kéo theo cả một thế hệ ưu tú của dân tộc vào ṿng lầm lỗi. Hậu quả tai hại của sự mất niềm tin ở các giá trị truyền thống của dân tộc và óc sùng tín giáo điều ấy là sự thành h́nh của một lớp đảng viên trung ương cuồng tín, không có tŕnh độ suy luận cao, không có năng lực tiến hóa, nhưng lại có lợi thế nắm quyền lực và địa vị trọng yếu quyết định đường lối Đảng và Nhà nước.

 

            Người ta không ngạc nhiên khi những người kế nghiệp họ Hồ lại càng trắng trợn hơn nữa. Giải thích hai chữ “yêu nước”, Lê Duẩn viết: “yêu nước là yêu chủ nghĩa xă hội”. Phạm Văn Đồng minh xác: “Yêu nước là yêu Nước Xă Hội chủ Nghĩa”!

 

            Đó là t́nh yêu nước của nhóm lănh đạo CS/HCM. Ta có thể tin rằng họ thành thật khi nói “yêu nước”, nhưng “nước” đó là “nước Xă Hội Chủ Nghĩa” do Mác và Lê Nin đă thiết kế bằng chủ trương “Ai thắng ai”, bằng “Đấu tranh giai cấp”, bằng xưong máu và nước mắt của nhân loại, nó chẳng liên quan ǵ đến nước Việt Nam yêu dấu và dân tộc Việt Nam đau thương của chúng ta cả. Quả thật từ huyền thoại của những người “cầm gươm đi mở nước”, đấu tranh “giải phóng con người” và chiến đấu “cho nền độc lập tự do của dân tộc’’, những lời nói kể trên đă xóa bỏ hết duyên nợ với núi sông, đă rũ sạch t́nh nghĩa với đồng bào.

 

            Khi trí tuệ của kẻ cầm quyền đă bị khuất phục dưới những công thức vô tri của giáo điều, bị gông cùm dưới xích xiềng của chủ nghĩa, th́ chỉ c̣n có Bạo lực và Dối trá ngự trị trên vận mệnh đen tối của toàn dân.

 

            Trở lại những vấn đề thực tế: từ những lầm lỗi ban đầu, càng ngày nhóm lănh đạo CS/HCM lại càng đi sâu vào sự lầm lạc: cướp chính quyền, cướp thời cơ, cướp danh nghĩa, cướp chính nghĩa, rồi cướp cả tài sản lẫn xương máu nhân dân… “Cứu cánh biện minh cho phương tiện”, đó là lập luận của người Mác xít. Nhưng thực tế ấy không thể không gợi lên mối nghi vấn: Phải chăng những thủ đoạn không được quang minh đó là phương tiện, là sách luợc, là đường lối, hay là bản chất đích thật của những người lănh đạo đảng?

            “ Thượng bất chánh, hạ tắc loạn ”

            “ Tiền bất chánh, hạ tắc loạn ”

 

            Hậu quả tất yếu của sự không ngay thật, của chủ trương dối trá, khủng bố, bạo lực là sự bất ổn triền miên. Những hạt mầm của một xă hội đại loạn, một cơn phá sản toàn bộ xă hội và con người Việt Nam ngày nay đă được gieo bằng chủ nghĩa hận thù, bằng bạo lực, bằng dối trá, bằng tham vọng quyền lực, bằng những thủ đoạn thiếu quang minh…ngay từ những ngày đầu của trang huyền thoại “cứu quốc”.

 

            Cuộc chiến 30 năm là giai đoạn đau thương nhất của dân tộc trong lịch sử cận đại. Trong cuộc tương tàn ấy, miền Bắc, được ủy nhiệm của Điện Cẩm Linh, trở thành “ Đội ngũ tiền phong ” cho Phong trào CS Quốc tế. Nhân dân miền Bắc, dưới sự chỉ đạo của Đảng, phải chấp nhận gian khổ, thắt lưng buộc bụng, hy sinh hạnh phúc, hy sinh xương máu cho “nghĩa vụ giải phóng”, quay mũi súng về đồng bào ruột thịt miền Nam để lấn chiếm “giải phóng” phần đất tự do c̣n lại. Miền Nam VN th́ biến thành “Tiền đồn chống cộng” của Thế giới Tự do, kiên cường chiến đấu vừa tự vệ, vừa bảo vệ cho những hậu phương mà chính ḿnh không bao giờ nghĩ tới!

 

            Cuộc chiến oan khiên! Đường ṃn HCM cỏ cây c̣n ghi dấu vết. Nghĩa vụ giải phóng đồng bào hay tội ác chiến tranh? Từng lớp, từng lớp thanh thiếu niên “sinh Bắc,tử Nam” đă oan ức phơi thây, trải thảm lót đường cho tham vọng quyền lực của nhóm lănh đạo già ở Bắc Bộ Phủ.

 

            Trong thời chiến tranh tang tóc ấy, người nhạc sĩ tên tuổi ở miền Nam đă cất tiếng đau thương cho một nước Việt Nam buồn. “Một nước Việt buồn”, phải chăng là tất cả những ǵ Mẹ để lại cho con, vội vă không được viết thành di chúc?

 

            Tháng 4 năm 1975, miền Bắc hoàn thành cuộc tấn chiếm miềnNam bằng bạo lực. Ngày 30 tháng 4, trong tiếng reo ḥ chiến thắng của những người “cầm AK đi mở nước”, người ta nghe tiếng chuyển động khác lạ của cơn mưa trái mùa như tiếng vặn ḿnh rên siết của xă hộiViệt Nam sụp đổ.

 

            Thật vậy! Xă hội Việt Nam đă thật sự sụp đổ ngay khi nó vừa được “giải phóng”. Quyền lực đă được thu trọn về một mối, nhưng Nhân tâm đă đạt đến cùng cực của sự ly tán. Đó là hậu quả tất yếu của sự dối trá, khủng bố và óc thiển cận nơi những người tự nhận có công lao ngang với các bậc tiền nhân dựng nước!

 

            Đến đây, ta hăy dừng thêm đôi phút để nhận định về giá trị tinh thần của các cuộc “chiến tranh giải phóng” dưới danh nghĩa “giành độc lập” của Đảng và Nhân dân:

            Mặc dù một cuộc chiến tranh “giành độc lập” đă không c̣n nhiều ư nghĩa trước đà liên kết phát triển của thế giới và với cái giá phải trả của hàng triệu người đă nằm xuống, người ta cũng không thể phủ nhận những sự hy sinh cao cả cho những mục tiêu chiến đấu đă từng một thời tượng trưng cho lư tưởng cao quư nhất của dân tộc: đó là nền độc lập của tổ quốc. Tất cả những hy sinh cho nền độc lập của nước nhà đều phải được tôn vinh và đền đáp. Tuy nhiên trên thực tế cần phải minh xác ai là người đă hy sinh? Đảng hay nhân dân? Nhân dân có được tôn trọng không? Nhân dân đă được đền đáp như thế nào? Thực tế đă nói lên những sự thật đau ḷng. Nhà văn kiêm đạo diễn Trần Văn Thủy, người đă sống với chế độ từ thuở trang huyền thoại c̣n thơm mùi giấy trắng, đă viết như sau: “…Dưới chánh sách Đảng, cái ǵ cũng của nhân dân, v́ nhân dân: v́ nhân dân hy sinh, v́ nhân dân chiến đấu…Nhưng khi Đảng đă thành công rồi, th́ dưới mắt đảng, cái lũ khố rách áo ôm ấy bỗng dưng biến đi đâu mất hết!..”. Đó quả là một nước Việt buồn! Buồn v́ không c̣n thấy nhân dân, buồn v́ người dân đă phải làm thân “công nhân khách”, sống lưu vong trên chính quê hương của ḿnh!

 

            - Vấn đề thứ hai là thử nhận định về giá trị thực tế của chế độ Xă hội Chủ nghĩa VN và những hậu quả của nó trên nếp sống dân tộc thời hậu chiến.

            Cuộc chiến tranh giành quyền lực đă kết thúc trong bối cảnh của một nước Việt buồn. Kết quả của 30 năm hy sinh xương máu, với hàng triệu người nằm xuống, là sự thành h́nh của chế độ Xă hội Chủ nghĩa VN. Tất cả vấn đề c̣n lại là hăy xét xem trên thực tế chế độ XHCN có giá trị đích thực ǵ trong nếp sống dân tộc không. Nếu nó không chứng minh được những giá trị chân chính, th́ những hy sinh xương máu nhân dân kia, không những là vô ích mà c̣n là tội ác.

 

            Giai đoạn xây dựng XHCN của những người thừa kế sự nghiệp họ Hồ được kể từ 1975 đến nay là 20 năm, trải qua các giai đoạn: củng cố chế độ, triệt hạ các thành phần có xu hướng đối lập; thống nhất đất nước dưới chế độ Cộng sản; đổi mới theo kinh tế thị trường dưới định hướng XHCN.

 

            Sau chiến tranh, đất nước tan nát, dân tộc ră rời, kinh tế kiệt quệ…T́nh trạng ấy đáng lẽ phải được cứu văn bằng những kế hoạch nhằm nâng cao dân trí và phục phục hồi dân khí, vực lại con người để phục hồi những khối óc sáng tạo; đồng thời người cầm quyền phải thẳng thắn thực hiện bước tiến “dân chủ hóa” phù hợp với nếp sống loài người, để ổn định chính trị và phát triển kinh tế. Tuy nhiên nhóm lănh đạo già ở Bắc Bộ Phủ đă không dám nh́n thẳng vào thực tế, đă không dám đả động tới những ǵ ngoài giáo điều và nhất là đă không dám buông bỏ địa vị và quyền lực. V́ sợ sệt họ cũng không dám từ bỏ guồng máy bạo lực và dối trá để chấp nhận sự cải tiến xă hội. Những vấn đề của 10 năm hậu chiến như cả nước nghèo đói, nếp sống lạc hậu, trẻ em thất học…có thể coi là hậu quả tất yếu của chiến tranh. Nhưng sau 20 năm xây dựng XHCN, Việt Nam vẫn là một trong 20 nước nghèo đói nhất thế giới và là một trong 10 nước có t́nh trạng nhân quyền tồi tệ nhất thế giới, th́ đó có phải được nhận định là hậu quả của việc xây dựng XHCN phản tiến hóa, không thích hợp với nếp sống dân tộc.

 

            Ngoài việc duy tŕ guồng máy Bạo lực, Dối trá và phát triển một hệ thống tham nhũng rộng khắp, Xă hội Chủ nghĩa VN đă được xây dựng như thế nào? Ai cũng biết tất cả những nỗ lực của tập đoàn lănh đạo trung ương đảng hiện nay đều không ngoài việc che dấu, khỏa lấp những lổi lầm không thể bào chửa được của chế độ, để củng cố những cái ǵ họ đă có được sau 30 năm đầu tư xương máu và nước mắt nhân dân. Tất cả những sáng kiến của những “đỉnh cao trí tuệ XHCN” hiện nay đều không ngoài việc làm sao gắn cái bụng Tư bản vay mượn vào cái đầu Duy vật cũng vay mượn, để tồn tại qua cơn thoái trào của tư tưởng Mác Lê. Một Xă Hội Chủ Nghĩa VN “đầu Ngô ḿnh Sở” như thế đă gây nên rất nhiều cuộc tranh luận ở trong nước. Người ta tự hỏi: Đất nước đang đi về đâu dưới các tấm bảng chỉ đường của XHCN?

 

            “Đất nước đang đi về đâu” là một ám ảnh dầy đặc đen tối. Hậu quả của việc xây dựng XHCN trên đất nước cần phải được nhận định trên mọi b́nh diện: chính trị, kinh tế, y tế, văn hóa, giáo dục, đạo đức, con người và nếp sống xă hội…và đây là những ǵ chúng ta sẽ có dịp thảo luận trong những đề tài tiếp theo.

 

            Ở phần nhận định tổng quát nầy, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến việc xây dựng con người dưới chế độ XHCN. “Trăm năm trồng người” là chủ trương của Quản Trọng, trước thời Khổng Tử, đă được Hồ Chí Minh mượn làm chủ trương của ḿnh. Tiếc thay việc “trồng người” của họ Hồ đă không được quan niệm đứng đắn theo ư nghĩa nhân bản của nó. Những thành tích tồi tệ về nhân quyền và dân quyền của chế độ XHCN ở chặng cuối của thế kỷ đă chứng tỏ sau 50 năm vun trồng, “người vẫn chưa được làm người”. Dưới những tấm bản chỉ đường của XHCN, con người chỉ được đi về hướng trước mặt như con ngựa già sợ sệt, trước cổ xe nặng chĩu ưu tư.

 

            Với 50 năm trồng người, đảng CS đă làm được những ǵ? “Đạo đức cách mạng” của xă hội CS được hiểu như thế nào?

 

            Nếp sống suy đồi ở VN ngày nay là kết quả đầu tiên của quá tŕnh cải tạo lâu dài con người và xă hội dưới chế độ CS: Nhân tính được thay thế bởi chủ nghĩa Hận thù, T́nh người bị xóa bỏ dưới chủ trưong “Ai thắng ai ?”. Bạo lực, khủng bố, đă hủy diệt sức sống quật cường bất khuất của dân tộc. Sự dối trá và những thủ đoạn “chia rẽ để trị” làm đảo lộn nếp sống gia đ́nh, xă hội, hủy diệt sự thành tín và làm nẩy nở óc hoài nghi. Dưới chế độ XHCN, “Người” không phải là đối tượng được quư trọng và xây dựng. Đối tượng xây dựng là giai cấp; đối tượng phải triệt hạ cũng là giai cấp. Trong chương tŕnh “Hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân”, người chỉ được đề cao là những “vốn quư” của guồng máy sản xuất, tức là nguồn cung cấp sức lao động. Sau hết, một nền giáo dục nặng tính tuyên truyền và dựa trên nền tảng chủ nghĩa giáo điều chỉ có tác dụng duy nhất là ngu dân, hủy diệt óc sáng tạo, tàn phá tiềm năng phát triển của các thế hệ tương lai.

 

            Đất nước đang bị phá sản v́ Xă hội và Con người đang bị phá sản. Cơn phá sản toàn bộ xă hội và con người đang gây nên những hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho sự phát triển đất nước trong hiện tại và trong nhiều thế hệ sắp tới.

 

            Để kết thúc phần nhận định tổng quát về hậu quả 50 năm cầm quyền của nhóm lănh đạo đăng CS trên đất nước, chúng tôi xin nêu lên một quy luật tự nhiên của sự sinh tồn: đó là sự tiến hóa.

 

            Bước tiến của nhân loại đă đi nhanh hơn giáo điều Mác Lê cả một thế kỷ tiến hóa. Những  nổ lực “hiện đại hoá”, theo định hướng XHCN, nếu như có thể thực hiện được, cũng chỉ cứu văn được lớp vơ ngoài của nền kinh tế và kỷ thuật không có căn bản cũng như không có thực chất. Những nổ lực ấy không cứu văn được con người, do đó không cứu văn được xă hội và dân tộc trong cơn khủng hoảng niềm tin và phá sản văn hóa. Việc “hiện đại hóa” thật sự chỉ có thể thực hiện được sau bước tiến “dân chủ hóa”. Nói khác đi, “dân chủ hóa” là điều kiện tiên quyết để người ta có thể “hiện đại hóa” đất nước.

 

            Trước nhu cầu tiến hóa của toàn dân, sự duy tŕ chế độ độc tài đảng trị là một tội ác trước lịch sử. Sự củng cố quyền lực bằng Bạo lực va Dối trá, đă một thời làm tê liệt ư chí quật khởi của người dân, nay chỉ c̣n là những yếu tố kích thích tinh thần bất khuất và làm nẩy nở những khát khao về một xă hội thành tín, bao dung. Làn sóng quật khởi đang phát triển mạnh mẽ ở trong nước. Sự thách đố bằng bạo lực của chế độ CS đang được đáp lại bằng sự thách đố “dân chủ hóa” của toàn dân.

 

            Cuộc tranh đấu “Dân chủ hóa” đă trở thành một thực thể, phát triển như những ṿng đồng tâm ngày một lan rộng khắp quốc nội và hải ngoại, không liên kết mà chặt chẽ, không vũ lực mà tạo thành một sức ép không ǵ ngăn cản nổi. Thời gian 50 năm là một thời lượng quá đủ để người ta đánh giá và lựa chọn một chế độ. Đây chính là lúc thuận tiện nhất để những người lănh đạo chế độ CSVN thực hiện những ǵ họ đă hứa: trao trả chủ quyền đất nước lại cho toàn dân.

 

 

( Bài nhận định của Ban tổ chức buổi hội thảo “ Hậu quả 50 năm cầm quyền của Tập đoàn Cộng sản Hồ Chí Minh” )