PHẦN VII

                  

  

       CS. VIỆT NAM DÂNG BIỂN CHO CS. TRUNG HOA

 

    Sau khi kư Hiệp Định dâng đất ngày 30 .12. 1999, đến ngày 25. 12, 2000. Cộng sản Việt Nam lại kư Hiệp định “Phân Định Vịnh Bắc Bộ” và “Hiệp Định Đánh Cá” để dâng trên 11.000 cây số vuông biển ở Vịnh Bắc Việt cho Cộng sản Trung Hoa.

 

   Vịnh Bắc Việt (Golfe de Tonkin, Gulf of Tonkin) có nhiều đảo, tính được 1300 đảo lớn, tính cả đảo nhỏ, con số lên đến 2000. Hầu hết các đảo này đều nằm trong hải phận Việt Nam, nhiều nhất là ở Vịnh Hạ Long. (Vịnh Hạ Long được Liên Hiệp Quốc đưa vào danh sách các Di Sản Thế Giới). Các đảo này chằng chịt, có nhiều hang động rất dễ làm chỗ ẩn nấp cho đám cướp biển. Người Pháp khi mới chiếm được Việt Nam liền nghĩ ngay đến việc tiễu trừ đám hải tặc này. Họ thấy cần có một Hiệp ước với người Tàu để minh định lằn ranh biển cho tiện việc tiễu trừ đám cướp biển này mà không đụng chạm ǵ tới nước Tàu. (Đám cướp biển này, dân ta gọi là giặc Tàu Ô, đă làm điêu đứng nước Tàu trong nhiều thế kỷ suốt dọc bờ biển Trung Hoa. Trong các đám cướp biển này, phần lớn lại là người Nhật mà Tàu gọi là Nụy Khấu (Giặc Lùn). Truyện Kiều có nói đến một tuớng cướp biển nổi danh là Từ Hải, đời Gia Tĩnh nhà Minh (1522-1566). Hồ Tôn Hiến được cử giữ chức Tổng đốc quân vụ đi tiễu trừ, Hồ Tôn Hiến đánh không lại Từ Hải nên bày mưu thuyết phục Kiều dụ Từ Hải ra hàng sẽ được ân xá và giữ chức quan. Từ Hải nghe theo lời Thúy Kiều mở cứa thành ra hàng, ngờ đâu : “Hồ Công ám hiệu trận tiền, Ba bề phát súng, bốn bên kéo cờ. Đang khi bất ư chẳng ngờ, Hùm thiêng khi đă sa cơ cũng hèn”. Thế là Từ Hải v́ mắc mưu mà chết: “Khí thiêng khi đă về thần, Nhơn nhơn c̣n đứng chôn chân giữa ṿng”. Hồ Tôn Hiến là ông cố ông sơ của Hồ Cẩm Đào, Tổng bí thư đảng Cộng sản Trung Hoa ngày nay.)

 

    Năm 1887, Pháp kư với nhà Thanh (Tàu) Hiệp Ước Brévié phân ranh vùng Vịnh Bắc Việt (CSVN gọi là Vịnh Bắc Bộ, Pháp gọi là Golfe de Tonkin). Đường Brévié chạy từ đảo Trà Cổ (Móng Cáy) dọc theo kinh tuyến Paris 105o 43’, tính theo kinh tuyến Quốc tế Greenwich là 108o 03’ 18’’ E. ta sẽ gọi đường đó là “đường đỏ”. Đường đỏ ranh giới chạy suốt từ Đông điểm của đảo Trà Cổ ở Móng Cáy phía Bắc xuống đến đường “Đóng Cửa Vịnh” (ligne de fermeture). Đường đóng cửa vịnh vạch từ Vĩnh Linh, Đồng Hới qua đảo Cồn Cỏ đến  mủi Oanh Ca  của Tây nam đảo Hải Nam (Yinggechai Hainan).

 

   Lúc phân chia hải phận, phía Trung Hoa đă đ̣i Pháp phải trao vùng Vạn Xuân và doi đất Bạch Long của Việt Nam cho họ. Người Pháp v́ muốn trao đổi quyền lợi kinh tế và thuận tiện trong việc phân ranh vùng Vịnh nên đă nhượng dải đất dài 17 km. này cho Trung Hoa. (Dải đất này là phần đất c̣n lại cuối cùng của Châu Hợp Phố nước Văn Lang thời các vua Hùng mà người Tàu cứ dần dà chiếm từ đời nhà Đường qua các triều đại Trung Hoa cho đến thời Pháp thuộc). Nếu dải đất đó không bị Pháp nhượng cho Tàu th́ Việt Nam sẽ c̣n được lợi thêm 27 km. chiều ngang hải phận nữa. Và ta cũng nên nhớ là Pháp đă nhượng 6 châu phía Tây Bắc của tỉnh Lai Châu cho Tàu để họ vui ḷng kư Hiệp Ước Phân  Định Vịnh Bắc Việt này. Theo đó, Việt Nam được 62%  và Trung Hoa được 38% biển trong Vịnh Bắc Việt. (Tàu gọi Vịnh Bắc Việt là Giao Chỉ Dương, Ch’iao Chih Zang, cho thấyVịnh Bắc Việt này là của Việt Nam).

 

   Việt Cộng sau khi dâng hay bán đất trừ nợ (mua vơ khí giết dân Việt Nam) hay thực hiện lời hứa của Hồ Chí Minh (thể hiện qua bức thư Phạm Văn Đồng), cho Trung Cộng ải Nam Quan, thác Bản Giốc và suốt dọc biên giới trên đất hàng ngh́n km2, nay lại kư Hiệp Ước Hải Phận dâng hàng chục ngàn km2 biển.

 

   Để mưu đồ xâm chiếm vùng Vịnh Bắc Việt, Trung Cộng trong các thập niên 70, 80, 90 đă vạch ra một vùng “Cấm Xâm Nhập” (Hand off area) tại Vịnh Bắc Việt. Vùng Hand off này bất chấp làn ranh đỏ của Hiệp Ước Brévié đă kư kết giữ Pháp và  nhà Thanh, Trung Cộng tự động xâm chiếm một vùng biển lấn qua phía Việt Nam rộng lớn kéo dài từ vĩ tuyến 18 đến 20o Bắc, rộng suốt 1o dài từ kinh tuyến 107o đến 108o Đông. Tính ra có đến 72.000 hải lư vuông.

 

   Để ra oai chủ quyền, Trung Cộng cấm không Việt Cộng không được đụng chạm tới vùng Hand off này, c̣n Trung Cộng th́ cho các tàu vào làm công tác gọi là nghiên cứu địa chất. Các tàu này họat động ngay tại cửa biển Hải Pḥng, cách Thái B́nh chỉ có 70 dậm, khoảng 120 cây số. Vùng Hand off này c̣n tác hại đến các ngư dân Việt Nam ta sẽ thấy sau này.

 

   Sau khi đă ḍ dẫm, đe dọa qua nhiều thập niên, sau khi đă đạt được thắng lợi to tát ở biên giới trên đất, Trung Cộng ra tay ép Việt Cộng phải kư “Hiệp  Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ” gọi tắt là “Hiệp Định Bắc Bộ”, xóa bỏ Hiệp Ước Brévié năm 1887 mà Việt Nam được 62% và Trung Hoa 38%, nay th́ Trung Cộng được 47% c̣n Việt Cộng chỉ c̣n 53%, mất 9% dỉện tích Vịnh. Trung Cộng chiếm trọn vùng biển sâu của Vịnh Bắc Việt.

 

   Vùng biển sâu này là nơi tiềm tàng có khả năng chứa đựng dầu khí theo như chuyên viên quốc tế cho biết như thế v́ nơi đây là khu vực thủy tra thạch kết tầng. Khoa địa chất học cho biết th́ loại tài nguyên dầu khí quư giá này thường nắm kẹt trong lớp thủy tra thạch do sông ng̣i bồi đắp mà ở Vịnh Bắc Việt này là do Sông Hồng tạo ra. Đảo Hải Nam không có sông lớn nào chảy ra Vịnh Bắc Việt cả.  Vậy mà bọn Trung Cộng ngang nhiên chiếm hữu  c̣n bọn Việt Cộng th́ cúi đầu tiến dâng nguồn tài nguyên quư giá đó của Tổ Quốc cho Bắc phương.

 

   Để gọi là cho có danh chính ngôn thuận, Trung Cộng nói rằng Hiệp Ước Brévié do nhà Thanh kư với Pháp không công bằng v́ lúc đó nhà Thanh ở thế yếu và Hiệp Ước đó Việt Nam chiếm tới 2/3 Vịnh. Chúng ta t́m hiểu xem Hiệp Ước Brévié kư giữa nhà Thanh và Pháp năm 1887 có công bằng hay không :

 

     1- Như ta đă biết Pháp đă phải để mất 6 châu ở vùng Tây Bắc Lai Châu và dải Vạn Xuân cho nhà Thanh để đổi lấy việc kư Hiệp Ước này. Tại sao Trung Cộng không nói đến việc trao đổi này ?  Nay Trung Cộng đ̣i phân định lại Vịnh, sao Việt Cộng không đ̣i Trung Cộng phải trả lại 6 châu và dải Vạn Xuân đă mất ?

 

      2- “Hiệp ĐịnhVịnh Bắc Bộ” năm 2000 giữa Trung Cộng và Việt Cộng phủ nhận hoàn toàn Hiệp Ước Brévié năm 1887. Hiệp Ước Brévié mà làn ranh phân chia là “Đường Đỏ” kéo dài từ Đông đảo Trà Cổ, Móng Cáy thẳng xuống Đông đảo Cồn Cỏ, Quảng B̀nh, nơi đóng cửa Vịnh.

 

      Vào năm 1974 Trung Cộng và Việt Cộng đă có những cuộc thương thuyết về vùng Vịnh Bắc Việt. Hai bên có bất đồng về Đường Đỏ, Trung Cộng th́ cho rằng Đường Đỏ chỉ là “Đường Quản Lư Hành Chánh” c̣n Việt Cộng th́ cho Đường Đỏ có vai tṛ phân chia hải phận. Cuộc thương thuyết dằng cưa, nhưng rồi Việt Cộng đột ngột thay đổi thái độ quay một ṿng 180o khi có những nhân vật thân Trung Cộng lên nắm quyền hành. Việt Cộng đă kư một Hiệp Định dâng Vịnh Bắc Việt cho Trung Cộng. Thế rồi Lê Công Phụng, rồi Nguyễn Di Niên lên tiếng tuyên bố là từ trước tới nay Vịnh Bắc Bộ chưa hề được phân định nên cần phải phân định lại. Rồi cả hai lên tiếng rêu rao là “một thắng lợi lớn” của Viêt Nam. Nhưng thật ra th́ Vịnh Bắc Việt đă được phân định khi Pháp Thanh kư Hiệp Ước năm 1887 có bản đồ đính kèm  c̣n nằm trong thư viện Pháp quốc Hải ngoại (CAOM) tại Aix-En-Province, France. Chẳng có thắng lợi nào cả mà chỉ có mất biển.

 

   3- Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bờ biển lởm chởm chỗ lồi chỗ lơm, các đường ranh giới ngoằn ngoèo phức tạp, luật biển Liên Hiệp Quốc cho phép được vẽ những đoạn đường thẳng căn bản nối liền mui đất và đảo. Tưởng rằng Việt Cộng sẽ căn cứ vào khoản này để bảo vệ lănh hải, đâu có ngờ để Trung Cộng thao túng lấn lướt chiếm phân nửa lănh hải, đưa ranh giới vào sát bờ biển Việt Nam, chiếm phần sâu của Vịnh, nơi có nhiều tài nguyên.

 

    4- Tính về dân số sống bên bờ Vịnh, phía Việt Nam có 20 triệu, nếu tính toàn cả Bắc Việt và Bắc Trung Phần th́ dân số lên đến 40 triệu. Phía Trung Cộng là 6 triệu, nếu tính toàn cả dân số đảo Hải Nam bên bờ Thái B́nh Dương là 9 triệu tất cả. Như thế, dân số phía Việt Nam áp đảo, có quyền sở hữu phần Vịnh nhiều hơn. Dân nhiều hơn th́ cần nhiều nước hơn.

 

    5- Tính về việc đóng góp cho thành h́nh Vịnh, các sông ng̣i ở Việt Nam vừa nhiều vừa có lưu lượng lớn hơn, tải phù sa hàng chục lần hơn phía Trung Cộng. Các thủy tra thạch do sông ng̣i Việt Nam tạo thành ở Vịnh, nay để cho Trung Cộng lấn lướt hưởng thụ.

 

    Thế mà Hiệp Định kư ngày 25.12.2000 Việt Cộng đă để cho Trung Cộng chiếm tới 46,77%, phía Việt Nam chỉ c̣n 53,23%, tính ra mất hơn 11.000 cây số vuông biển, mà phần mất lại là vùng béo bở nhất, có nhiều hải sản, tiềm năng dầu khí và các mỏ quặng.

 

      Vịnh Bắc Việt đang c̣n được phù sa bồi, mỗi năm mỗi lấn ra biển. Vùng đồng bằng Bắc Việt ngày nay trước là biển mới được bồi đắp do sông Hồng và các phụ lưu trong khoảng mấy ngàn năm gần đây. Một ngày kia, có lẽ vào khoảng ngàn năm nữa, phù sa sông Hồng sẽ đắp vùng biển Bắc Việt ra đến làn ranh mà Việt Cộng kư, lúc đó vùng vịnh Bắc Việt về phía Việt Nam sẽ không c̣n nữa và biển lúc ấy đều thuộc về Trung Hoa cả !

 

 

        HIỆP ĐỊNH ĐÁNH CÁ

 

 

   Đồng thời kư “Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ”, Việt Cộng và Trung Cộng cũng kư “Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá ở Vịnh Bắc Bộ”, gọi tắt là Hiệp Định Đánh Cá. Hiệp Định này có hiệu lực thi hành từ ngày 30.6.04.

 

   Theo “Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá ở Vịnh Bắc Bộ” th́ hai bên Việt Cộng và Trung Cộng thỏa thuận thành lập “Vùng Đánh Cá Chung” rộng 61 hải lư, mỗi bên 30,5 hải lư tính từ đường phân tuyến vạch ra, từ phía Nam đảo Bạch Long Vĩ, vĩ tuyến 20 (Ninh B́nh, Thanh Hóa) đến đóng cửa Vịnh tại vĩ tuyến 17 (Quảng B́nh, Quảng Trị).

 

   Diện tích toàn Vịnh Bắc Việt là 120.000 km2. Vùng đánh cá chung rộng 33.500 km2, chiếm 27,9% diện tích của toàn Vịnh, cách bờ biển của hai bên chừng 30 hải lư. Hiệp Định Đánh Cá có giá trị 15 năm.

 

   Theo sự phân định hải phận mới kư kết ngày 25.12.2000 th́ phần Trung Cộng góp vào vùng đánh cá  hầu hết là nằm trong vùng biển mà họ vừa được phía Việt Cộng nhường cho, c̣n phía Việt Cộng lại phải góp phần biển của ḿnh vào vùng đánh cá chung. Tóm lại, ngoài phần được phía Việt Cộng nhường phần biển mới, Trung Cộng lại c̣n lấn thêm vào phần biển c̣n lại của Việt Nam.

 

    Theo Hiệp Định Đánh Cá này th́ tại Quảng B́nh biển rộng chừng 120 hải lư, theo đường ranh mới, Việt Nam được 60 hải lư, trừ 30 hải lư cho vùng đánh cá chung th́ Việt Nam chỉ  c̣n 30 hải lư. Ninh B́nh biển rộng chừng 170 hải lư, theo đường ranh mới Việt Nam được chùng 60 hải lư, góp 30 hải lư cho vùng đánh cá chung, Việt Nam c̣n 30 hải lư gần bờ. C̣n bờ biển các tỉnh Hà Tỉnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Thái B́nh cách vùng đánh cá chung chỉ vào khoảng từ 40 đến 50 hải lư. Theo đó, ngư dân Việt Nam chỉ c̣n khoảng 40 hải lư để đánh cá. Trong khi đó dân Hải Nam có đến 115 hải lư để đánh cả ở vùng Vịnh Bắc Việt và 200 hải lư đặc  quyền kinh tế ở phía Đông thuộc Thái B́nh Dương, tính ra có đến 315 hải lư để đánh cá. Thật là một sự bất công quá đáng đối với Việt Nam.

 

   Trung Cộng hiện nay có một đội tàu đánh cá vào hàng mạnh nhất trên thế giới. Trong số 17 quốc gia ngư nghiệp phát triển có tàu đánh cá trên 100 tấn th́ Trung Cộng đă chiếm đến 40%, so với Hoa Kỳ chỉ có 5%, Nhật Bản 3%, Đại Hàn 2%, Việt Nam không có trong số này. Các tàu Trung Cộng trang bị lưới cá dài có tầm đánh bắt trên 50 hải lư. Tàu Trung Cộng cứ đậu ở vùng đánh cá chung mà chăng lưới vào sát bờ biển từ Thái B́nh xuống đến Quảng B́nh, Quảng Trị để bắt hết tôm cá, hải sản của Việt Nam. Ngư dân Việt Nam sẽ đi về đâu ?

 

    (Bản tin ngày 10.1.05 đưa tin tàu chiến Trung Cộng bắn vào các thuyền đánh cá Việt Nam vào ngày 8.1.05 tại Vịnh Bắc Việt thuộc hải phận Thanh Hóa, giết 9 người, bắt đi 8 người và làm bị thương một số người khác, đánh ch́m một thuyền, làm hư hại nhiều chiếc khác, bắt kéo nhiều thuyền về đảo Hải Nam. Măi đền ngày 14.1.05 chính quyền Việt Cộng mới lên tiếng than phiền một cách yếu ớt, c̣n các báo th́ không dám nói tàu Trung Cộng bắn mà chỉ nói là tàu nước ngoài. Hăng thông tấn AP tường thuật nói rơ là tàu Trung Cộng bắn và cho biết hiện nay (tới ngày 15.1.05) ở cảng Busuo (Ba Sao) tại Dongfang trên đảo Hải Nam, đă có 9 tàu đánh cá cùng khoảng hơn 80 ngư dân Việt Nam bị Trung Cộng bắt. Hiệp Định kư chưa ráo mực, đă tác hại đến sinh mạng và quyền lợi của ngư dân Việt Nam. Những người Cộng sản Việt Nam phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhân dân và Tổ quốc Việt Nam v́ hành động bán đất bán biển cho Trung Cộng. Lúc tàu đánh cá Việt Nam bị tàu Trung Cộng bắn có kêu cứu, vậy lúc ấy tàu tuần duyên Việt Cộng ở đâu, sao không đến cứu ? Hay là tảng lờ để mặc t́nh cho Trung  bắn giết ?

 

   Vịnh Bắc Việt là nơi thường xấy ra gió băo làm ngư dân rất đỗi kinh hoàng. Ngày trước chưa có các cơ sở khí tượng và thông tin hiện đại để loan báo các cơn giông băo nên mỗi lần đi biển đánh cá là một nỗi lo âu cho ngư phủ và cho thân nhân ở nhà. Thuyền bè bị đắm, ngư phủ bị chết rất thường hay xẩy ra. Người dân Thanh Hóa có câu truyện rất thương tâm kể người mẹ khuyên con gái lấy chồng: “Con ơi con, con chịu lấy nó, ba cơn sóng gió, con lại về nhà mẹ con”! Ngày nay, trước mủi súng của  quân Trung Cộng, câu nói đó được sứa lại như sau: “Con ơi con, con chịu lấy nó, tàu Trung Quốc bắn nó, con lại về nhà mẹ con”! Người dân Thanh Hóa vốn nghèo, thường hay thiếu ăn phải đi ăn xin ở các địa phương xa. Nay dân đánh cá bị Trung Cộng bắn giết, không dám ra biển, hàng ngũ cái bang lại thêm nhân số. Chính quyền cộng sản đă không có kế hoạch cứu trợ lại c̣n đánh thuế những người đi ăn xin gọi là “thuế hành khất” để được cấp giấy chứng minh thư hành nghề! Thật chưa từng thấy một chính quyền nào bóc lột nhân dân đến táng tận lương tâm như vậy).

 

    Hiệp Định Đánh Cá c̣n kéo theo nhiều tác hại khác. Theo Hiệp Định Vịnh Bắc Bộ này có khoản nói rằng : “Khi dầu khí được phát hiện, hai bên sẽ khởi sự hợp tác khai thác”. Liệu khi dầu khí được phát hiện ở khu vực của Trung Cộng, Việt Cộng sẽ có được “hợp tác khai thác” hay không ? Hay chỉ phải để cho Trung Cộng “hợp tác khai thác” một khi ở khu vực Việt Nam có dầu khí ?  Có thể lấy thí dụ các ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Cộng bắn giết th́ rơ.

 

 

           QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA.

 

 

    Ngoài khơi Việt Nam có 2 quần đảo. Quần đảo phía Bắc ở vào vĩ tuyến 16o 30’ là quần đảo Hoàng Sa. Phía Nam ở vào vĩ tuyến 8o 39’ có quần đảo Trường Sa.

 

   Quần Đảo Hoàng Sa (Băi Cát Vàng)

 

   Theo sách “Phủ Biên Tạp Lục” do Lê Quư Đôn soạn năm 1776 viết về Hoàng Sa như sau : “..Phủ Quảng Ngăi, ở ngoài cửa biển xă An Vĩnh, huyện B́nh Sơn có núi gọi là Cù Lao Ré rộng hơn 30 dặm. Trước có phường Tư Chính, dân cư trồng đậu. Ra biển 4 canh th́ đến.

 

    Phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa. Trước kia có nhiều hải vật và những hóa vật của tàu (bị đắm) đă lập đội Hoàng Sa để lấy. Đi ba ngày đêm th́ mới đến. Ấy là chỗ gần xứ Bắc Hải.”

 

   “…Phủ Quảng Ngăi, huyện B́nh Sơn có xă An Vĩnh ở gần biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ ḥn này sang ḥn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh th́ đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt.

 

   “Trong đảo có Băi Cát Vàng  ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Bên đảo có vô số tổ yến sào, các thứ chim có hàng ngh́n hàng vạn, thấy người th́ đậu ṿng quanh không hề né tránh, Bên băi  vật lạ rất nhiều như ốc hoa, có thứ mang tên là “ốc tai voi” lớn như chiếc chiếu, dưới bụng có từng hạt như ngón tay trỏ lớn sắc đục không bằng sắc con trai châu, vỏ ốc ấy có thể tách ra thành phiến, cũng có thể dùng vỏ ốc làm thành vôi (để quét nền nhà cửa). Lại có ốc đuợc gọi là ốc xà cừ…Những thuyền lớn đi biển của người Phiên thường khi gặp gió đều nương đậu ở đảo này…Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 xuất, lấy người xă An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng. Đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm mới đến đảo (tức đảo Hoàng Sa). Ở  đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Họ được những đồ hải vật như  gươm và ngựa bằng đồng, hoa bạc, tiền bạc, vàng bạc, đồ đồng, thiếc khối, ch́ đen, khẩu súng, ngà voi, sáp ong vàng, đồ chiên giạ, đồ sứ…Họ lượm những con đồi mồi, những con hải sâm, những hạt con ốc thật là nhiều. Đến kỳ tháng 8 th́ đội Hoàng Sa mới trở về cửa Eo (Thuận An) rồi họ tới thành Phú Xuân tŕnh nạp các vật đă lượm nhặt được..”  (Lê Quư Đôn, Phủ Biên Tạp Lục)

 

    Quần đảo Hoàng Sa từ xa xưa thuộc địa bàn nước Chiêm Thành. Năm 1075 vua Lư Nhân Tông sai Lư Thường Kiệt vẽ h́nh thế núi sông của 3 châu Ma Linh, Địa Lư và Bố Chánh  mà Chế Củ, vua Chiêm Thành dâng cho vua Lư Nhân Tông vào năm 1069 để chuộc mạng. Đến năm 1172- 1173, vua Lư Nhân Tông nhân đi quan sát núi sông đường sá cùng đời sống dân chúng đă ra lệnh cho các quan soạn địa đồ nước ta. Những sách ấy nay không c̣n nữa v́ vào hồi thế kỷ 15 (1413-1427) lúc quân Minh xâm lăng nước ta đă thu lấy tất cả sách vở nước ta đem về Kim Lăng, Tàu.

 

    Sau khi thu hồi độc lập, Nguyễn Trăi viết cuốn “Dư Địa Chí hay An Nam Vũ Cống”. Kế đến vua Lê Thánh Tông cho soạn cuốn “Đại Việt Sử Kư Toàn Thư” có vẽ bản đồ các địa phương, nhưng hai cuốn này các tài liệu đă bị thất truyền. Rất may là cuốn “Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư” của Đỗ Bá, tuy biên soạn vào khoảng cuối thế kỷ 17, nhưng phần nhiều đă căn cứ vào những chi tiết thâu lượm được hồi thế kỷ 15, khi vua Lê Thánh Tông thân chinh Chiêm Thành.

 

   Sau đó cuốn “Phủ Biên Tạp Lục” của Lê Quư Đôn (1726-1784) nói rơ về quần đảo Hoàng Sa và việc các vua chúa nhà Nguyễn lập đội Hoàng Sa để lấy các vật liệu do các tàu bị đắm để lại như đă nói ở trên.

 

    Từ khi được sáp nhập vào Việt Nam, ít nhất là từ thế kỷ 15, quần đảo Hoàng Sa đầu tiên được đặt tên chữ là Trường Sa, tên nôm là Cù Lao Cát Dài do dân chài gọi. Dưới triều Nguyễn để tránh sự lẫn lộn giữa danh xưng Vạn Lư Trường Sa  vốn đă được áp dụng từ lâu về trước cho quần đảo Hoàng Sa, danh xưng Hoàng Sa nhất danh là Băi Cát Vàng  đă được dành riêng cho quần đảo Hoàng Sa c̣n danh xưng Vạn Lư Trường Sa chỉ được dùng riêng cho những ḥn đảo ở xa về phía Nam quần đảo Hoàng Sa, tức quần đảo Trường Sa  ngày nay. Vị trí Nam Bắc đối nhau đó của hai quần đảo Hoàng sa, Trường Sa lại được ghi rơ trên bản đồ Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ.

 

    Thương nhân Bồ Đào Nha đặt tên cho quần đảo Hoàng Sa là Ilhas do Parcel (Pracel). Parcel có nghĩa là đá ngầm (ám tiêu). Danh xưng này xuất hiện vào năm 1595. Về sau người Pháp dựa vào đó mà gọi quần đảo Hoàng Sa là Paracels. Ông J.B. Chaigneau (1769-1825), tên Việt là Nguyễn Văn Thắng, làm quan dưới thời Gia Long có nói đến Hoàng Sa như sau : “ Nước Cochinchine mà vua bây giờ lấy hiệu Hoàng Đế gồm xứ Cochinchine thật hiệu (Đàng Trong), xứ Đông Kinh (Đàng Ngoài), một phần xứ Cao Miên, một vài đảo có dân cư không xa bờ bể và quần đảo Paracels hợp thành bởi những tiểu đảo, gềnh đá, không dân cư. Chỉ đến năm 1816, mà Hoàng Đế bây giờ mới lấy chủ quyền trên quần đảo ấy”. (Mémoire sur la Cochinchine par J.B.Chaigneau)

 

   Giám Mục Tabert trong quyển Univers, xuất bản năm 1833, viết : “Chúng tôi không đi vào việc kê khai những ḥn đảo chính yếu của xứ Cochinchine, chúng tôi chỉ xin lưu ư rằng từ hơn 34 năm nay quần đảo Paracels mà người Việt gọi là Cát Vàng (Hoàng Sa) gồm rất nhiều ḥn đảo chằng chịt nhau lởm chởm những đá nhô lên giữa những băi cát, làm cho những kẻ đi biển e ngại, đă được chiếm bởi người Việt xứ Đàng Trong.

 

    Chúng tôi không rơ họ có thiết lập một cơ sở nào tại đó không, nhưng có điều chúng tôi biết chắc là Hoàng Đế Gia Long đă chủ tâm thêm cái đóa hoa kỳ lạ đó vào vương miện Ngài v́ vậy mà Ngài thấy đúng lúc phải thân chinh vượt  biển tiếp thu quần đảo Hoàng Sa và chính là vào năm 1816, mà Ngài long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong”.

 

    Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa thời Pháp thuộc.

 

    Dưới thời Pháp thuộc, quần đảo Hoàng Sa (Paracels) được người Pháp luôn luôn để ư. Năm 1920, Nha Thương Chánh (thuế quan) đă tổ chức cuộc tuần chung quanh Hoàng Sa. Năm 1925, Hải Học Viện Nha Trang gởi một phái đoàn bác học ra Hoàng Sa nghiên cứu tường tận tại chỗ. Phái đoàn nhận thấy đảo có nhiều phốt phát. Phái đoàn cũng thấy nhiều bằng chứng rằng quần đảo Paracels nằm trên Cao nguyên ch́m dưới biển dính liền với lục địa Việt Nam.

 

    Quần đảo Hoàng Sa gồm trên 120 đảo nhỏ quần tụ trong 4 nhóm và vô số băi ngầm. Phân chia như sau :

 

    1- Nhóm Tuyên Đức (Amphitrite Group), ở về phía Bắc gồm 16 đảo đáng kể, trong đó đảo Phú Lâm (Woody Island, Ile Boisée) là lớn nhất trong quần đảo Hoàng Sa, bề dài 3.700m. bề ngang 2.800m. Trên đảo cây cối um tùm và có vài cây dừa, có vô số chim hải âu sinh nở từ đời này qua đời kia để lại một lớp phân chim dày lối 5 tấc. Thời Pháp thuộc có một công ty Nhật Bản đă khai thác phân ở đây. Ngoài ra c̣n có các đảo Cây, đảo Nam, đảo Trung, đảo Bắc, ḥn Đá, ḥn Bàn Thạch v.v…

 

     2- Nhóm Nguyệt Thiềm (Crescent Group) ở về phía Tây Nam, gồm các, đảo Hoàng Sa (Pattle), Hữu Nhật (Robert), Quang Ảnh (Money), Quang Ḥa (Duncan) Duy Mộng Drummond). Trong nhóm này, đảo Hoàng Sa là rộng  nhất dài 900m. rộng 700m. Trên đảo có bia chủ quyền ghi như sau; “République Francaise- Empire d’Annam- Archipel des Paracels” (Cộng Ḥa Pháp-Đế quốc Annam-Quần đảo Hoàng Sa). Trên đảo phía Bắc có hải đăng, gần đó có đài khí tượng. Về phía Đông Bắc có vài ngôi mộ binh sĩ thời Nhà Nguyễn đă hy sinh. Phí Đông có am thờ gọi là Đền Bà, có một pho tượng Quan Âm đặt trên bệ đá chạm trỗ tinh vi. Trên đảo, ngoài các căn cứ quân sự c̣n có một vài giếng, một sân vận động và vài mươi cây phi lao. (Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên chép về vịệc vua Minh Mạng muốn xây miễu thờ thần như sau : “Dựng đền thờ thần ở đảo Hoàng Sa thuộc Quảng Ngăi. Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngăi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um. Giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam có miếu cổ, có tấm bài khắc bốn chữ VẠN LƯ BA B̀NH. Năm ngoái, vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, bỗng v́ sóng gió không làm được. Đến đây mới sai cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quăng Ngăi, B́nh Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu, cách ṭa Miếu cổ 7 trượng (33mét). Bên tả Miếu, dựng bia đá, phía trước miếu xây b́nh phong. Mười ngày làm xong rồi vế.”)

 

    3- Nhóm Linh Côn (Lincoln Group), nằm về phía cực Đông, cũng là lănh thổ cực Đông của nước Việt Nam v́ đảo nằm vào kinh tuyến 112o 45’. Nhóm này không mấy quan trọng, chỉ là những mỏm san hô nhấp nhô trên mặt bể xanh thường hay bị sóng đùa, triều dập.

 

   4- Đảo Tri Tôn. Đây là ḥn đảo đơn độc ở về phía cực Nam. Đảo này ít người đến, nhưng có rất nhiều hải sâm, san hô đủ màu, thứ già th́ cứng rắn, cắt tay chân, nhưng thứ non th́ mềm mại. Ngoài các đảo kể trên, c̣n vô số những mỏm san hô nhấp nhô trên mặt nước, nhiều mỏm, khi nước xuống, chỉ có một diện tích đủ cho hai người đứng mà thôi, và lại ch́m dưới nước khi triều lên.

 

    Người Pháp chỉ lập căn cứ ở đảo Hoàng Sa (Pattle), một đảo gần để tàu ra cho gần. Đảo Hoàng Sa tuy lớn không bằng đảo Phú Lâm (Ile Boisée), nhưng gần trung tâm quần đảo, gần nhiều đảo, việc kiểm soát dễ dàng hơn. Khi người Nhật đảo chính Pháp, họ đă chiếm đảo và xây lô cốt pḥng thủ. Sau khi Nhật đầu hàng, Pháp trở lại Đông Dương, họ lại ra trấn giữ đảo. Ngày 29.10.1946 Trung Hoa gởi 4 chiến hạm từ đảo Hải Nam đến Hoàng Sa (Pattle), đụng độ với toán lính Việt-Pháp, phải rút lui. Họ quay ra chiếm đảo Phú Lâm (Ile Boisée), đảo lớn nhất trong quần đảo Hoàng Sa vào ngày 29.11.1946. Sau khi Trung Cộng chiếm được lục địa Trung Hoa, họ ra Phú Lâm (Ile Boisée), biến thành một căn cứ đồ sộ : làm đường xe hơi chạy từ đầu tới cuối đảo, lập căn cứ quân sự. Trung Cộng cũng chiếm đảo Linh Côn.

 

   Ba năm sau, vào đêm ngày 20 rạng 21.12.1959, một đơn vị hải quân VNCH đóng tại quần đảo Hoàng Sa phát giác thấy quân Trung Cộng đă lén đưa ngư dân đổ bộ lên các đảo Cam Tuyền (Robert) Quang Ḥa (Duncan) Duy Mộng (Drummond) trong nhóm Nguyệt Thiềm (Cresscent) thuộc quần đảo Hoàng Sa trong mục đích chiếm lấy quần đảo này. Hải quân Việt Nam đă ra lệnh họ phải rời các đảo này. Khi họ từ chối và kháng cự, các lực lượng hải quân VNCH đă bắt giữ 82 ngư dân và 5 ngư thuyền. Vài bữa sau họ được thả.

 

   Vào giữa tháng 1 năm 1974, gần Tết, Trung Cộng cho các tàu chiến giả dạng tàu đánh cá bao vây Hoàng Sa lúc đó chỉ có một trung đội Địa Phương Quân trấn giữ. Trung úy trưởng đồn báo cáo vụ việc về đất liền.

 

   “Sau đó, tuần dương hạm Lư Thường Kiệt HQ 16 ra Hoàng Sa, thả xuống đảo thiếu tá Hồng, 1 đạii úy hải quân, 1 trung úy công binh kiến tạo, 1 trung úy công binh chiến đấu, 2 binh sĩ và một người Mỹ. Sau đó, chiến hạm này đi thám sát các đảo và mỏm đá ở phía đông đảo Nguyệt Thiềm.

 

  Lúc ấy, 2 “tàu cá” của Trung Cộng c̣n ẩn phía sau đảo Hữu Nhật. Đuôi tàu nhô ra nên từ đảo Hoàng Sa c̣n nhận được. V́ đảo cao như đĩa sôi, nên không rơ Trung Cộng làm ǵ. Sau này, mới biết là Trung Cộng đem vật liệu lại xây bốn ngôi mộ. Anh em liền đào vứt xuống biển v́ họ vi phạm chủ quyền Việt Nam.

 

   Tuần dương hạm Lư Thường Kiệt tiến vế phía hai “tàu cá” đuổi chúng ra khỏi đảo. Hai “tàu cá” ĺ ra không chịu đi. Tàu ta và tàu địch tiến gần nhau đến nỗi trông thấy cả bàn ghế trên tàu địch. Bọn lính Trung Cộng trên tàu cá chửi sang ta bằng tiếng Tàu. Sau cùng, các tàu Trung Cộng đành rút lui về phía các đảo mà Trung Cộng mới chiếm….

 

   Tàu Trung Cộng gồm có tàu lớn đậu đàng xa, các “tàu cá” và nhiều tàu đổ bộ, chạy tới chạy lui ở vùng hai đảo Duy Mộng và Quang Ḥa. Các tàu Việt Nam đều tiến về hai đảo này.

 

  Không rơ súng bắt đầu nổ từ lúc nào (về chi tiết trận hải chiến, giữa hải quan VNCH và Trung Cộng, các nhân chứng chỉ thấy được một vài khía cạnh), nhưng chiều ngày 18.1.1974 th́ nổ lớn dữ dội. Anh em trên đảo đứng xem như trên màn ảnh. Những tàu Trung Cộng chạy rất nhanh tiến về phía các tàu Việt Nam. “Tàu cá” lộ nguyên h́nh tàu chiến ở đài chỉ huy có hai cây đại liên. Sườn tàu để hở các ô vuông chỉa súng ra. Tàu Trung Cộng bắn. Tàu Việt Nam bắn trả, có những đốm lửa trên tàu địch và khói bay lên.

 

   Tuy nhiên, về phía Việt Nam, chiếc HQ 16 cũng bị một phát đạn vào chỗ bánh lái và một phát vào lườn tàu, HQ 16 nghiêng về một bên, rút về eo biển giữa Hoàng Sa và Hữu Nhật. HQ 15 được chiến hạm HQ 11 d́u về Đà Nẵng. Đồng thời hộ tống hạm Nhật Tảo HQ 10 mới ra nhảy ngay vào ṿng chiến. Sau một hồi khai hỏa, HQ 10 bị bắn vào giữa tàu và lửa bốc lên.

 

   Hôm sau, 27 Tết, tức ngày 19.1.1974, chuyện dữ đến với anh em trên đảo Hoàng Sa. Hai tàu lớn của Trung Cộng và hai “tàu cá” tiến lại đảo Hữu Nhật, Các tàu đổ bộ chạy quanh đảo này kiếm chỗ vô. Trên đảo bắn ra, nhưng chỉ có súng nhỏ. Các tàu lớn bắn vào đảo này. Sau đó anh em trên đảo Hoàng Sa mất liên lạc với đảo Hữu Nhật. Rồi tàu Trung Cộng bắn vào đảo Hoàng Sa. Anh em ra rừng và các đống phân nằm bố trí. Có cả tiếng máy bay phản lực rít lên nữa. Họ đổ bộ từ các tàu nhỏ lên đảo đông như kiến, nhưng không dám tiến vào đảo, mà chỉ nằm ở các băi cát và 30 phút sau, họ tiến vào trong đảo.  Anh em địa phương quân bắn tới hết đạn, th́ họ chiếm được đảo. Khi tiến vào mỗi pḥng trong nhà, họ ném chất nổ, nên mọi thứ bên trong đều bị hủy diệt”. (Trần Thế Đức, Sử Địa 29, Hoàng Sa Qua Những Nhân Chúng).

 

   Tại sao Trung Cộng chờ cho đến năm 1974 mới tiến chiếm Hoàng Sa ?  V́ họ biết là Mỹ sẽ rút khỏi Việt Nam và  có thể là chính người Mỹ đă bật đèn xanh cho họ chiếm Hoàng Sa coi như là một món quà mà người Mỹ tặng cho Trung Cộng v́ vừa mới  kư thỏa ước thân hữu do Kissenger đạo diễn. Vả lại người Mỹ cũng không muốn để quần đảo này lọt vào tay Việt Cộng và từ đó vào tay người Nga. Những chia chác, đ̣n phép giữa các đế quốc với nhau, chỉ có Tổ quốc Việt Nam là thiệt tḥi.

 

       TRƯỜNG  SA

 

    Năm 1930, chính quyền Pháp đă chính thức cử một phái đoàn ra cắm cờ tại quần đảo Trường Sa (Spratley). Năm 1933 lại cử 3 chiếc tàu khác ra cắm cờ trên những hoàn đảo nằm rải rác xung quanh ḥn đảo chính Spratley. Các năm sau đă thâu nhập tất cả những ḥn đảo Caye d’Ambroise (1933), đảo Itu Aba (1937), nhóm Hải Đảo (1937), đảo Loaita (1933), đảo Thi Tu (1933).

 

  Trong thời thế chiến hai, Nhật Bản chiềm 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau thế chiến, nước Nhật bại trận đă long trọng từ bỏ chủ quyền của ḿnh trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Hiệp Đ́nh Đ́nh Chiến tại San Francisco.

 

    Sau thế chiến thứ hai, Nhật Bản đầu hàng, việc giải giới Nhật ở Đông Dương, từ phía bắc vĩ tuyến  16, Đồng Minh giao cho Trung Hoa c̣n từ vĩ tuyến 16 trở vào giao cho liên quân Anh Pháp giải giới. Trung Hoa vịn vào đó, ngày 26.10.1946 đă cho 4 chiến hạm đi tuần tra 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa rồi về (Trường Sa nằm dưới vĩ tuyến 16 nên Trung Hoa không có quyền giải giới). Nhưng về sau Trung Hoa rồi Trung Cộng coi đây là việc tiếp thu 2 quần đảo này! Trung Hoa cho quân đổ bộ lên đảo Itu Aba mà họ đặt tên là Thái B́nh, chiếm giữ cho đến ngày hôm nay.

 

   Tại Hội nghị San Francisco năm 1951, Thủ Tướng Chính Phủ, Trưởng Phái Đoàn Việt Nam, Trần Văn Hữu đă công khai long trọng tuyên bố chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không có nước nào trong số 51 nước tham dự Hội nghị phản đối cả.

 

   Đến nay, quần đảo Trường Sa có tiềm năng chứa dầu khí nên các nước từ Trung Hoa, Trung Cộng, Phi Luật Tân, Mă Lai, Brunei đều nhảy vào dành dựt đ̣i làm chủ quyền, mà hung hăng, dữ dằn nhất là Trung Cộng.

 

 

    Cộng Sản Trung Hoa và 2 Quần Đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

 

 

   Sau khi Cộng sản Trung Hoa (Trung Cộng) chiếm được toàn thể nước Tàu, Trung Cộng đă công bố một bản đồ rộng lớn bao trùm một phần lớn các quốc gia tiếp giáp với Trung Hoa như : Mông Cổ, miền đông nước Nga, Đại Hàn, Đài Loan, Việt Nam, Lào, Cao Miên, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Népal, một phần Ấn Độ, một phần Pakistan, và Kyrgystan. Về lănh hải, Trung Cộng dành chủ quyền các biển tiếp giáp với Trung Hoa như Vịnh Cao Ly, Hoàng Hải (bắc Thượng Hải) East China Sea (Biển Đông Trung Hoa) bao gồm Đài Loan, South China Sea (Biển Nam Trung Hoa, Biển Đông Việt Nam) lại c̣n lấn sang cả Vịnh Thái Lan và một phần của Ấn Độ Dương nữa.

 

    Sau đó, Trung Cộng ra tuyên cáo xác nhận chủ quyền trên toàn thể “Nanhai” (Nam Hải) là “Nội Hải” và 2 quần đảo “Xisha” (Hoàng Sa) và “Nansha” (Trường Sa) là lănh thổ của Trung Hoa. Trung cộng lại ra tuyên cáo nới rộng chủ quyền lănh hải ra 12 hải lư. Ta thấy cái óc đế quốc bành trướng của người Bắc Phương dù dưới chế độ phong kiến hay cộng sản th́ tham vọng cũng như nhau !

 

     Trước đ̣i hỏi bành trướng của Trung Cộng, Chính quyền Cộng sản của Hồ Chí Minh đă cho Phạm Văn Đồng là Thủ Tướng gởi Văn Thư cho Chu Ân Lai công nhận đ̣i hỏi đó của Trung Cộng :  “..Ghi nhận và và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc..” Trước đó, năm 1956 khi Trung Cộng mới chiếm vài đảo trong quần đảo Hoàng Sa th́ Ung Văn Khiêm lúc đó là Ngoại Trưởng của Chính Phủ Việt Cộng đă vội vàng tuyên bố công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: “Hà Nội nh́n nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa Và Trường Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa”. Như thế tức là Việt Cộng đă công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa v́ khi Trung Cộng công bố quyết định về hải phận cũng là lúc công bố bản đồ Đại Hán (Đế quốc Cộng Sản Trung Hoa) bao gốm cả biển Nam Hải (tức Biển Đông) có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Tội bán nước này không thể tha thứ được.

 

   Để bào chữa cho vụ dâng cống hai quần đảo này, tờ Saigon  Giải Phóng, số tháng 5 năm 1976,  trong bài b́nh luận về việc Trung Cộng chiếm đóng Hoàng Sa năm 1974, viết : “Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí mà c̣n là người thầy tín cấn đă cưu mang chúng ta nhiệt t́nh để chúng ta có ngày hôm nay. V́ vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Trung Quốc hay thuộc Việt Nam cũng vậy thôi. Khi nào Việt Nam muốn nhận lại, Trung Quốc sẽ sẵn sàng trao lại quần đảo này”. Thật là ngây thơ, thật là bợ đỡ, đúng là luận điệu của bọn tôi tớ bán nước !

 

   Và khi Trung Cộng tiến chiếm Trường Sa tháng 3 năm 1988, Báo Nhân Dân ngày 26-4-1988 đă viết : “Trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lăng th́ Việt Nam phải tranh thủ sự gắn bó của Trung Quốc, và ngăn chặn Hoa Kỳ sử dụng 2 quần đảo nói trên. Do đó những lời tuyên bố (của Phạm Văn Đồng năm 1958) phải được hiểu trên tinh thần và trong bối cảnh lịch sử đó”. Lại một biện minh cho hành động bán nước. Hẳn là Hồ Chí Minh, để mua chuộc sự giúp đỡ của Trung Cộng, đă hứa nhường đất nhường biển cũng như để mượn đất Cămpuchia, đă hứa trả đất Tầm Phong Long và Phú Quốc cho Khmer Đỏ. Đối với Khmer Đỏ, Việt Cộng cậy mạnh đem quân đánh át đi nhưng đối với Trung Cộng th́ phải một phép cắt đất dâng biển, dâng đảo. Bởi vậy ngay từ năm 1974 đă tiến hành đàm phán về vấn đề nhường đất và phân định lại lănh hải và vùng đánh cá. Đó chỉ là thực hiện lời cam kết của Hồ Chí Minh mà thôi.

 

    Sau khi chiếm Miền Nam, Việt Cộng liền cho quân tiếp thu một số đảo trong quần đảo Trường Sa do quân đội Việt Nam Cộng Ḥa trấn giữ. Đó là điều dĩ nhiên v́ ở đó có nguồn dầu hỏa to lớn. Trung Cộng liền đ̣i Việt Cộng phải thực thi việc nhượng lảnh thổ và lănh hải như đă giao kết bí mật thời c̣n Hồ Chí Minh.

 

      Việt Cộng v́ sợ toàn dân Việt Nam nguyền rủa và tiếc mối lợi quá lớn về dầu khí nên tính bội tín mà chạy núp bóng Liên Sô bởi vậy mới xẩy ra vụ Trung Cộng đánh qua biên giới Việt Nam năm 1979. Năm 1988 Trung Cộng cho tàu chiến tiến chiếm 8 ḥn đá vừa nổi vừa ch́m ở Trường Sa và đánh ch́m 3 chiến hạm của Việt Cộng. Năm 1992, Trung Cộng lại ngang nhiên chiếm băi dầu khí Vạn An, phía tây băi Thanh Long, Từ Chính của Việt Nam mà Việt Cộng không dám hó hé ǵ.

 

 

    Kế Hoạch 4 Bước Của Trung Cộng Để Thôn Tính Biển Đông.

 

 

    “Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền Tường Tŕnh Về 3 Hiệp Ước Bắc Việt”, luật sư Nguyễn Hữu Thống viết về kế hoạch của Trung Cộng thôn tính Biển Đông như sau : “Năm 1982 với tư cách một trong ngũ cường thuộc Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết, Trung Cộng tham dự Đại Hội kỳ 3 Liên Hiệp Quốc về Luật Biển và đă hoan hỷ kư Công Ước về Luật Biển. Kư xong Công Ước, Bắc Kinh mới thấy lo! Theo Công Ước, các quốc gia duyên hải chỉ có 200 hải lư vừa là vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá vừa là thềm lục địa để khai thác dầu khí. Trong khi đó Hoàng Sa tọa lạc ngoài lục địa Trung Hoa 300 hải lư, và Trường Sa cách Hoa lục 750 hải lư, nên không thuộc hải phận (thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế đánh cá) của Trung Quốc.

 

   V́ vậy, đầu thập niên 80, Bắc Kinh tập hợp hơn 400 học giả Trung Hoa ngày đêm nghiên cứu thảo luận ṛng ră suốt 10 năm, để kết luận rằng “Nam Hải là Biển Lịch Sử của Trung Quốc từ thời Hán Vũ Đế”.

 

   Biển Lịch Sừ hay Lưỡi Rồng Trung Quốc nằm sát bờ biển Quảng Ngăi 40 hải lư, cách Nam Dương 30 hải lư, cách Mă Lai và Phi Luật Tân 25 hải lư. Nó bao gồm toàn thể vùng biển Hoàng Sa Trường Sa và chiếm trọn 3 túi dầu khí đang khai thác là Tứ Chính (Vanguard) của Việt Nam, Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi Luật Tân và Natuna của Nam Dương.

 

   Tuy nhiên  về mặt pháp lư, nếu Ấn Độ Dương không phải là đại dương của Ấn Độ, th́ Nam Hải cũng không là biển của Trung Hoa về phía Nam.

 

   Vả lại theo Ṭa Án Quốc Tế La Haye, biển Lịch Sử chỉ là nội hải. Và thuyết Biển Lich Sử của Trung Quốc đă bị Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển bác bỏ trong Điều 8 : “Biển lịch sử hay nội hải của một quốc gia tọa lạc trong lục địa hay đất liền, bên trong bờ biển căn bản.” (đường căn bản là mực nước thủy triều thấp).

 

    Do đó Biển Hoa Nam hay Nam Hải không là Biển Lịch Sử của Trung Quốc v́ nó là ngoại hải và cách lục địa Trung Hoa hơn 2000 cây số.

 

    Và công tŕnh 10 năm nghiên cứu của 400 học giả Trung Hoa chỉ là công “dă tràng xe cát Biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán ǵ”!

 

   Thất bại trong thuyết Biển Lịch Sử, Trung Quốc đề ra kế hoạch 4 bước để thôn tính Biển Đông. Trong giai đoạn chuẩn bị từ 1988 đến 1995, Trung Quốc tung ra chiến dịch hỏa mù, lấn chiếm bừa băi tại Trường Sa, chiếm 8 đá nổi và đá ch́m thuộc hải phận Việt Nam trong đó có đá Chữ Thập (Fiery Cross) và đá Gaven, chiếm băi dầu khí Vạn An, và chiếm 6 đá ch́m và băi ngầm như đá Vành Khăn (Mischief) trong thềm lục địa Phi Luật Tân.

 

   Trong thời gian này, hải quân Trung Quốc thường xuyên tuần thám, phóng hỏa tiễn, thao diễn quân sự, gây tranh chấp bất ổn trên biển, hù dọa sẽ biến Đông Nam Á  thành ḷ lửa Trung Đông. Rồi giở giọng khuyến dụ các quốc gia Đông Nam Á  hăy gác vấn đề tranh chấp chủ quyền hải đảo để cùng hợp tác khai thác nghề cá và dầu khí tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

 

   B́nh thường chúng ta chỉ thấy có sự hợp tác khai thác dầu khí giữa hai quốc gia có thềm lục địa chung, như Đại Hàn, Nhật Bản : bờ Phú San chỉ cách bờ Yamaguchi 100 hải lư. Tuy nhiên chúng ta không thấy có sự khai thác chung dầu khí giữa hai quốc gia không có chung thềm lục địa (trường hợp Việt Nam và Trung Quốc tại vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa).

 

   Chiếu Điều 121 Luật Biển các hải đảo nhỏ bé như Hoàng Sa, Trường Sa, v́ không có thường dân cư ngụ và không thể tự túc về kinh tế, nên không được hưởng quy chế 200 hải lư để đánh cá và khai thác dầu khí.

 

   Do đó tranh chấp hải đảo tại Trường Sa chỉ là tung hỏa mù. Mục tiêu chiến lược của Trung Quốc là thôn tính Biển Đông về kinh tế, bằng cách đ̣i khai thác chung nghề cá và dầu khí tại các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Cao Miên, Thái Lan, Phi Luật Tân, Mă lai, Nam Dương v.v..

 

   Cho đến nay chỉ có Việt Nam là con ṃng dễ bắt nhất. Do những cam kết của Đảng Cộng Sản  khi xin Trung Quốc cưu mang trong hai cuộc Chiến Tranh Đông Dương (từ thập niên 50 đến đầu thập niên 70).

 

   Sau giai đoạn chuẩn bị là giai đoạn thực hiện. Lộ tŕnh của Bắc Kinh gồm 4 bước như sau :

 

    1- Kư kết Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ để hủy băi Hiệp Ước Bắc Kinh (Brévié) (theo đó Việt Nam được 63% và Trung Hoa được 37% hải phận Bắc Việt). Từ nay, theo đường trung tuyến, hai bên được chia đều 50% (Việt Nam được 53% trên lư thuyết). Như vậy, Việt Nam đă mất 13% hải phận khoảng 15.000 km2.

 

   Trên thực tế Trung Cộng không áp dụng nghiêm chỉnh đường trung tuyến và đă đề ra 21 điểm tiêu chuẩn phân định, theo đó Việt Nam chỉ c̣n 45% so với 55% của Trung Hoa. (Vũ Ngọc San : Vinh Bắc Việt, Địa Lư và Chủ Quyền Hải Phận, 2004).

 

    2- Kư kết Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá để thiết lập vùng đánh cá chung 60 hải lư. Và Việt Nam chỉ c̣n từ 25% đến  32% hải phận Bắc Việt. Với các tàu đánh cá lớn trọng tải trên 100 tấn, với các lưới cá dài có tầm hoạt động 50 hải lư và nhất là với sự toa rập đồng lơa của đội tuần cảnh duyên hải, toàn thể Vịnh Bắc Việt sẽ biến thành khu đánh cá tự do cho đội ḱnh ngư Trung Quốc mặc sức tận thu, vét sạch và cạn tàu ráo máng. (chuyện này đă xẩy ra với việc tàu Trung Cộng bắn vào các ngư thuyền đánh cá Việt Nam giết nhiều ngư phủ, tháng 1 năm 2005).

 

    3- Từ  đánh cá đến khai thác dầu khí chỉ c̣n một bước. Trong Hiệp Ước Phân Định Vịnh Bắc Việt có điều khoản quy định rằng, khi dầu khí được phát hiện, hai bên sẽ khởi sự hợp tác khai thác dầu khí. Dầu khí là do các chất hữu cơ kết tụ trong các chất thủy tra thạch kết tầng dưới đáy biển. Các chất hữu cơ này được nước phù sa sông Hồng Hà từ Vân Nam và sông Cửu Long từ cao nguyên Tây Tạng đổ ra Biển Đông từ cả triệu năm nay. Do đó chất dầu khí nếu có, là do các chất hữu cơ từ lục địa Việt Nam, chứ không phải từ Hoa Lục. Mặc dầu vậy, tại Vịnh Bắc Việt, Trung Quốc đă để ra nhiều dự án thăm ḍ và khai thác dầu khí, như dự án Quỳnh Hải bên bờ đảo Hải Nam và dự án Vịnh Bắc Bộ về phía Bắc vĩ tuyến 20. Khi dùng danh xưng “Vịnh Bắc Bộ”, Trung Quốc mặc nhiên nh́n nhận rằng đó là vịnh của Việt Nam về phía Bắc. V́ nếu là của Trung Hoa th́  phải gọi là Vịnh Nam Bộ mới đúng lư.

 

   4- Với chính sách vết dầu loang, sau khi thành tựu kế hoạch đánh cá và khai thác dầu khí chung tại Bắc Việt, hai bên sẽ tiến tới việc hợp tác đánh cá và khai thác dầu khí chung tại miền duyên hải Trung và Nam Việt. Điều đáng lưu  ư là vùng lănh hải này thuộc thềm lục địa và khu đặc quyền kinh tế đánh cá 200 hải lư của Việt Nam. Ở đây không có sự trùng điệp hay sự chồng lấn hải phận như trường hợp Vịnh Bắc Việt.

 

   Không ai ngu dại ǵ cho người nước ngoài đến đánh cá và khai thác dầu khí chung quanh thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế riêng của nước ḿnh. Chiếu Điều 77 Luật Biển, thềm lục địa thuộc chủ quyền của quốc gia duyên hải. Mọi sự chiếm cứ bất cứ từ đâu tới cũng đều vô hiệu, nhất là chiếm cứ vơ trang (trường hợp Trung Cộng dùng vơ trang chiếm Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa từ năm 1988).

 

   Bằng kế hoạch thôn tính 4 bước, đế quốc Bắc Kinh đă buộc Hà Nội hiến dâng lănh hải Việt Nam từ Vịnh Bắc Việt đến vùng biển Hoàng Sa Trường Sa theo lời cam kết của Hồ Chí Minh (Phạm Văn Đồng chỉ là kẻ thừa sai, bất lực, không có cả quyền bổ nhiệm một thứ trưởng theo lời tự phán).

 

   Như vậy, thuyết Biển Lịch Sử do Trung Quốc đề ra năm 1982 sẽ được hiện thực hóa trong lộ tŕnh 4 bước. V́ quyền lợi riêng tư, Đảng Cộng sản Việt Nam đă táng tận lương tâm nhượng đất, bán nước, dâng biển cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc”. (Luật sư Nguyễn Hữu Thống)

 

 

 

    KẾT LUẬN.

 

 

   Việt tộc vốn là chủ nhân toàn lục địa Trung Hoa từ trên chục ngàn năm nay. Vào khoảng 4000 năm trước đây, Hoa tộc, vốn là dân du mục, từ vùng sa mạc Tây Bắc tràn vào đánh chiếm vùng sông Hoàng Hà. Đó là trận chiến giữa Hiên Viên, lănh tụ Hoa tộc và Xi Vưu, lănh tụ Việt tộc.

 

   Từ đó, suốt 3000 năm, hoa tộc cứ lấn dần đẩy Việt tộc lui xuống dưới sông Trường Giang và vùng Ngũ Lĩnh. Đến đời Tần Thủy Hoàng, thống nhất các nước Hoa tộc vừa xong lại có tham vọng đánh chiếm các nước Việt tộc ở Đông Hải (Sở, Ngô, Việt, Mân, Đông Âu) và các nước ở vùng Lĩnh Nam. Kể từ đó, tất cả các nhóm Việt tộc đều bị Hoa tộc thống trị, kể cả nước Văn Lang của chi Lạc Việt.

 

   Sau một ngàn năm bị đô hộ, dân tộc Việt Nam đă anh dũng đứng lên đánh đuổi Hoa tộc dành lại quyền tự chủ cho đất nước.

 

    Nhưng suốt ngàn năm độc lập, Hoa tộc vẫn ngấp nghé nuôi tham vọng đánh chiếm nước ta. Từ nhà Tống, nhà Minh, đến cả những nước xâm lăng thống trị Trung Hoa cũng muốn chiếm nước ta như Mông Cổ, Măn Thanh, nhưng đều bị đánh lui.

 

   Tất cả các cuộc xâm lăng đó phần nhiều đều dựa vào sự kêu cứu của những phế đế hay tôn thất các triều đại bị lật đổ. Bởi đó Bắc Phương mới có cớ để đánh nước ta. Tất cả các cuộc xâm lăng đó đều bị đẩy lui. Và nước ta không để bị mất tấc đất nào trừ nhà Mạc dâng mấy động biên giới để được giữ vững ngôi vàng.

 

   Ngày nay đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ Chí Minh lănh đạo, v́ muốn  độc tôn thống trị nên đă dựa vào đảng Cộng Sản Trung Hoa viện trợ vũ khí giết hại dân tộc. Để được sự yểm trợ của Cộng sản Trung Hoa, họ Hồ và tập đoàn Cộng sản đă hứa dâng đất biên giới, dâng biển, dâng đảo Biển Đông. Và ngày nay, dân tộc ta đang phải chịu cảnh mất đất (một giải biên thùy với Ải Nam Quan, thác Bản Giốc..), mất biển (Vịnh Bắc Việt), Mất đảo (Hoàng Sa, Trường Sa).

 

   Để kết thúc, chúng tôi xin mượn đoạn văn của “ Bản Văn Công Bố của Tập Hợp Đồng Tâm về việc nhóm Lănh Đạo đảng Cộng Sản Việt Nam dâng đất và biển cho Trung Quốc” :

 

   “Với hành động mớ ám cắt đất cắt biển dâng cho ngoại bang, nhóm lănh đạo đảng CSVN có thể đă đạt được vài điều lợi riêng, nhưng ngàn thế hệ con cháu sau đây sẽ phải trả giá cho cái nhục của ngày hôm nay bằng hận thù, bằng xương máu, bằng nước mắt.

 

  “Cái nhục của ngày hôm nay là cái nhục phát sinh từ tinh thần đảng trị độc tôn, từ sự ngu dốt, thiển cận, dối trá, tham lam, mê muội chủ nghĩa, lệ thuộc ngoại bang.

 

   “ - V́ mê muội chủ nghĩa, Tập đoàn lănh dạo CSVN đă tự dành cho ḿnh quyền độc tôn cai trị đất nước. Để đạt mục tiêu ấy họ đă không ngần ngại nương dựa vào thế lực Đế quốc Cộng Sản phương Bắc, phản lại quyền lợi toàn dân.

 

   “ - V́ tham lam ngu dốt và v́ tinh thần lệ thuộc, họ đă ngấm ngầm dâng  đất  nước cho ngoại bang với hy vọng củng cố lâu dài những đặc quyền đặc lợi của phe nhóm, bất chấp những thiệt hại muôn đời cho dân tộc.

 

   “ - V́ óc độc tôn, thiển cận và thói quen dối trá, họ đă coi những việc trọng đại liên quan đến sự tồn vong của đất nước như những bí mật riêng tư.

 

   “Với hành động mờ ám, ô nhục ngày hôm nay, Tập đoàn lănh đạo CSVN không những đă phản bội Tổ Tiên, phản bội dân tộc, mà c̣n phản bội ngay cả những người đă và đang chiến đấu cho lư tưởng Cộng sản mà họ đă lớn tiếng kêu gọi!

 

   “Nhân đây chúng tôi cũng xin thành tâm kêu gọi : Hỡi anh linh những người đă hy sinh dưới cờ CS chủ nghĩa! Hăy thức dậy chứng kiến những phản bội vĩ đại của Tập đoàn cai trị đất nước để thấm thía cái nhục của ngày hôm nay!

 

  “Nhóm lănh đạo đảng CSVN ngày hôm nay có  thể nhất thời giấu giếm những lưỡi dao đă đâm sau lưng những  người cùng hàng ngũ với họ, nhưng họ không thể che giấu, rửa sạch được tội bán nước trước toàn dân, trước tổ tiên và trước lịch sử”.

 

 

Viết xong ngày đầu Xuân năm Ất Dậu, 2005

 

ĐÔNG BIÊN