ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM DÂNG ĐẤT
DÂNG BIỂN CHO ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG HOA.
Khi khổng khi không, đảng Cộng sản Việt Nam kư 3 Hiệp Ước dâng đất, dâng biển cho đảng Cộng sản Trung Hoa. Đó là Hiệp Ước Biên Giới kư ngày 30 tháng 12 năm 1999, Hiệp Ước Phân Định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Đánh Cá kư ngày 25 tháng 12 năm 2000.
Tại sao lại phải kư 3 cái Hiệp Ước kỳ quặc này ? Các Hiệp Ước này có lợi hay có hại cho nước ta, cho nhân dân ta ?
Nhưng trước khi đi sâu vào vấn đề, ta hăy nghe một đảng viên kỳ cựu, một “người làm công tác văn hóa”, ông Trần Khuê, nói ǵ về các Hiệp Định bán nước này :
“Vừa qua chúng tôi giật ḿnh kinh ngạc khi nghe tin Bộ chính trị Lê Khả Phiêu chỉ thị cho Chính phủ Phan Văn Khải kư với Chính phủ Trung Quốc hai Hiệp định Biên giới Việt-Trung và đă nhượng mất ngót một ngh́n (1000) ki lô mét vuông địa giới và ngót một chục ngh́n ki lô mét (10,000) hải giới. V́ cả hai đảng và hai chính phủ đều giữ bí mật nội dung hai bản Hiệp Ước này nên không rơ diện tích lănh địa và lănh hải mà các đ/c lănh đạo Trung Quốc vừa lấy thêm của Việt Nam là bao nhiêu. Tháng 8 năm 2001, chúng tôi có tổ chức một đ̣an lên khảo sát thực địa ở Lạng Sơn th́ quả thật đă thấy cây số 0 nằm trên vạch biên giới Việt Trung, không c̣n thấy Mục Nam Quan nữa. Phía Trung Quốc đă xây một ṭa nhà sừng sững chắn ngang. Rồi th́ người nói nó nằm sâu trong lănh thổ Trung Quốc 500 mét, người th́ nói 2000 mét. Diện tích nhượng, người th́ bảo mất 500 km2, người th́ bảo mất 700 km2, có người lại nói mất hẳn 900 km2. Riêng đ/c Lê Thế Nghĩa, nguyên Trưởng ban Biên giới của Chính phủ th́ cho chúng tôi biết Mục Nam Quan hiện nằm cách vạch Biên giới là 800 mét !”
Ông Khuê cũng nhắc lại việc Mao Trạch Đông đổi tên Trấn Nam Quan thành Mục Nam Quan : “Mao chủ tịch đă thay mặt nhân dân Trung quốc xin lỗi nhân dân Việt Nam, về những lỗi lầm và tai họa mà các triều đại phong kiến Trung Quốc đă gây nên cho nhân dân Việt Nam trong quá khứ. Người c̣n đề nghị và tự tay ḿnh bút phê sửa lại tên cho cửa ải biên giới Việt Trung, đổi 3 chữ Trấn Nam Quan thành Mục Nam Quan, nghĩa là biến đổi cái “cửa ải đè nén Phương Nam” thành “cửa ải ḥa thuận với phương Nam”.
(Về việc đổi tên Trấn Nam Quan Thành Mục Nam Quan, ông Nguyễn Thanh Giang viết như sau : “Nơi đây không chỉ triều đ́nh nhà Thanh đă xác nhận với chính phủ Pháp mà chính ông Mao Trạch Đông trong lần mạn đàm với chủ tịch Hồ Chí Minh đă nói : “Cái tên ải Nam Quan nhắc nhở đến cuộc chiến do bọn phong kiến Hoa Việt làm xấu t́nh hữu nghị nhân dân. Tôi xin đổi thành Mục Nam Quan. Mục là mắt, coi như nhân dân Trung Quốc luôn hướng mắt nh́n về nhân dân Việt ở phương Nam. Ngược lại coi như mắt của nhân dân Việt Nam luôn nh́n về Bắc vời t́nh hữu nghị.”)
Ông Trần Khuê cũng hănh diện với vị Hoàng đế của thời mà cộng sản luôn miệt thị là “phong kiến bóc lột”. Ông Trần Khuê viết : “Hằng ngh́n năm qua nhân dân nước chúng tôi đă không ngừng chiến đấu hy sinh để bảo vệ từng tấc đất của Tổ Tiên Ông Bà để lại. Ư chí của dân tộc chúng tôi đă thể hiện rơ trong lời dụ của Hoàng đế Lê Thánh Tông (1441-1491) :
“Nay nhận được tờ tấu của viên quan An Bang tâu : “Người nhà Minh sai nhiều binh lính từ Quảng Tây sang, nói phao là sang hội đồng khám dịa giới”. Việc này phải sai người ḍ thám ngay, nếu thấy có ư ǵ khác, phải lập tức đưa công văn đi các đạo tập hợp binh lính pḥng giữ. Một thước núi, một tấc sông của ta có lẽ nào tự tiện vứt bỏ đi được ? Phải kiên quyết tranh luận, không để cho họ lấn dần. Nếu họ không theo, c̣n có thể sai sứ sang triều đ́nh của họ, biện rơ lẽ phải trái. Nếu người nào dám đem một thước một tấc đất đai của Thái Tổ để lại để làm mồi cho giặc, người ấy phải trừng trị nặng.” (Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, quyển XXII, tờ 30, Bản dịch của Viện Sử Học Hà Nội, tập một, trang 1121)
Ông Trần Khuê kết tội đảng Cộng sản Việt Nam và Lê Khả Phiêu : “Nó (đảng CSVN) không thể tồn tại để quan liêu, tham nhũng, uy hiếp quần chúng hoặc tùy tiện kư nhượng đất đai sông biển của Tổ Quốc”.
Ông Trần Khuê hỏi Lê Khả Phiêu : “Thử hỏi Bộ chính trị Lê Khả Phiêu kỳ này kư Hiệp ước nhượng đất, nhượng biển cho ngoại bang th́ sẽ nhận được bản án nào cho xứng tội ?”
Ông Trần Khuê cũng kết án 2 đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc : “Kư 2 Hiệp ước bất b́nh đẳng này, vô t́nh hay hữu ư, những người lănh đạo đảng Cộng sản và nhà nước Trung Quốc đă đẩy anh em đồng chí của ḿnh ra trước vành móng ngựa của Ṭa án Nhân dân và Ṭa án Lịch sử. Một bên tự vạch áo cho thiên hạ thấy ḿnh là kẻ theo chủ nghĩa sô vanh nước lớn, c̣n một bên trở thành kẻ tội đồ bán nước !”
Trên đây là bức thư của ông Trần Khuê, nhà nghiên cứu Hán văn, gởi cho Bí Thư đảng CSTQ là Giang Trạch Dân nói về Hiệp ước bất b́nh đẳng, trắng trợn chiếm đất, chiếm biển của nuớc Việt Nam và kết tội đảng CSVN đă cam tâm dâng đất dâng biển cho ngoại bang. Thư đề ngày 20 tháng 2 năm 2002 làm tại TP. Hồ Chí Minh.
Hiệp ước bán nước của đám tội đồ của dân tộc đă làm toàn dân phẫn nộ kết tội, đến cả những người Cộng sản c̣n chút lương tri cũng phải lên tiếng tố cáo, phản đối tỷ như Trần Khuê, Đỗ Việt Sơn…
Trước khi t́m hiểu các Hiệp ước bán đất bán biển của CSVN, chúng ta điểm qua việc liên hệ giữa đảng CSTQ và đảng CSVN trong thời gian từ năm 1945 đến nay.
ÔNG HỒ CHÍ MINH VỀ NƯỚC.
Những năm cuối thế chiến thứ II, Nhật Bản vào Đông Dương lập căn cứ đánh lại Tàu. Tưởng Giới Thạch lúc trước tỏ ra thờ ơ với các đảng cách mạng Việt Nam lưu vong, nay thấy cần đến để lợi dụng quấy rối người Nhật nên t́m các lănh tụ CM Việt Nam như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh của Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Phục Quốc Đảng để thành lập một Mặt Trận gọi là Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội.
Lúc đó Nguyễn Ái Quốc được Nga sai về hoạt động ở Việt Nam. Khi ông ta đi ngang qua Hoa Nam bị chính quyền Tàu bắt, v́ biết ông này là cộng sản. Các đảng phái Quốc gia Việt Nam chưa biết cộng sản độc hại như thế nào mà chỉ thấy cần có sự hợp tác của các lực lượng chống Pháp dành độc lập nên đă vận động với nhà chức trách Trung Hoa thả Nguyễn Ái Quốc.
Chính quyền Trung Hoa giao cho Trương Phát Khuê yểm trợ các lực lượng Việt Nam. Trương Phát Khuê lại cử Tiêu Văn làm nhiệm vụ liên lạc với các tổ chức Việt Nam. Tiêu Văn là cán bộ cộng sản Tàu nằm vùng trong chính quyền Trung Hoa, v́ thế Tiêu Văn cũng đề nghị thả Nguyễn Ái Quốc. Trương Phát Khuê thấy Nguyễn Ái Quốc có một tổ chức chặt chẽ ở Việt Nam mà tổ chức này đang bắt tay với Pháp chống Nhật tại Đông Dương nên ông chấp thuận thả Nguyễn Ái Quốc với điều kiện phải làm việc như lấy tin, quấy phá quân Nhật. Để giữ lai lịch được bí mật, ông Nguyễn Ái Quốc đă lấy tên một nhà cách mạng sống lâu năm tại Trung Hoa vừa mới chết, đó là ông Hồ Chí Minh. Từ nay, Nguyễn Ái Quốc có tên là Hồ Chí Minh và được làm ủy viên dự khuyết trong Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Cách.
Hồ Chí Minh được phái về Việt Nam hoạt động dưới danh nghĩa Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, nhưng Hồ Chí Minh về nước lại liên lạc với các đảng viên cộng sản và thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội gọi tắt là Việt Minh. Ông ta mập mờ đánh lận con đen, đối với chính quyền Trung Hoa và các đảng phái Quốc Gia th́ ông ta nói hoạt động cho Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách) để được yểm trợ tiền bạc, nhưng thật sự ông ta hoạt động dưới một tên khác là Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (Việt Minh), thực chất là đảng Cộng sản Đông Dương.
Khi Nhật vừa đầu hàng th́ Hồ Chí Minh vội vàng cướp chính quyền, thành lập chính phủ mang tên Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa. Vua Bảo Đại thoái vị.
Đồng Minh giao cho Trung Hoa giải giới quân đội Nhật tại Bắc Việt. Tưởng Giới Thạch giao cho Đốc quân tỉnh Vân Nam là Long Vân sang Bắc Việt làm việc giải giới. Đó là kế hoạch ‘điệu hổ ly sơn” v́ khi quân của Long Vân vừa kéo sang Bắc Việt th́ Tưởng Giới Thạch vào chiếm tỉnh Vân Nam và đưa Long Vân qua Trùng Khánh ngồi chơi sơi nước.
T́nh h́nh nước Tàu thời đó nạn sứ quân rất là trầm trọng. Mỗi tỉnh đều do viên đốc quân địa phương nắm giử quyền hành, nhiều khi không tuân lệnh của chính phủ trung ương. Nhờ cuộc chiến tranh với Nhật Bản đă giải quyết nạn sứ quân v́ tại các nơi chiếm đóng th́ các đốc quân tan ră nên khi Nhật đầu hàng , chính quyền trung ương vào tiếp thu lấy lại trọn quyền cai trị. Giao việc giải giới quân Nhật cho Long Vân là dịp để Tưởng Giới Thạch lấy lại quyền cai trị tỉnh Vân Nam. Quân Tàu sang tước khí giới Nhật ở Việt Nam là thứ địa phương quân của tỉnh Vân Nam nên bê bối bệnh hoạn, dân ta gọi là “quân Tàu phù” !
Khi quân Tàu qua Việt Nam th́ các đảng CMQG cũng kéo quân theo về. Việt Nam Quốc Dân Đảng đă tách khỏi Việt Cách của Nguyễn Hải Thần và được gọi là Việt Quốc. Tưởng Giới Thạch muốn dùng quân đội làm áp lực lật đổ chính phủ cộng sản Hồ Chí Minh cũng gọi là Việt Minh nhưng Hồ Chí Minh đă dùng vàng bạc lấy được do cuộc lạc quyên “tuần lễ vàng” cho Lư Hán và các tướng Tàu tham nhũng để bắt các đảng phái Việt Nam phải tham gia vào một “Chính Phủ Liên Hiệp” gồm có Việt Minh của Hồ Chí Minh, Việt Cách của Nguyễn Hải Thần và Việt Quốc của Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Tường Tam. Xẩy ra nhiều cuộc tranh chấp đụng độ giữa Việt Minh và Việt Quốc.
Thời cuộc biến đổi. Pháp đă thay quân Anh ở Miền Nam lại muốn ra Miền Bắc để đặt nền đô hộ toàn cơi Việt Nam. Pháp điều đ́nh với Trung Hoa : Pháp sẽ ra Miền Bắc thay quân Tàu, để bù lại Pháp sẽ trả lại Quảng Châu Loan và các tô giới, bán rẻ đoạn đường xe lửa từ biên giới Việt Hoa đến Vân Nam cho Trung Hoa lại miễn thuế cho hàng hóa của Tàu và Hoa Kiều được mọi sự dễ dàng. Đến tháng 9 năm 1946 quân Tàu rút hết về nước và quân Pháp ra Miền Bắc.
Khi quân Tàu rút th́ Hồ Chí Minh cho quân đánh vào các cơ sở của Quốc Dân Đảng. Chính phủ Liên hiệp tan ră. Hồ Chí Minh nắm trọn quyền. Cuộc chiến giữa Pháp và Việt Minh bùng nổ.
LIÊN HỆ GIỮA TRUNG CỘNG VÀ VIỆT CỘNG.
a- GIAI ĐỌAN TỪ 1949 ĐẾN 1954.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy viết về giai đoạn này như sau : “Phần Trung Cộng th́ sau khi chiếm được lục địa Trung Hoa, họ đă có một chánh sách tích cực đối với Việt Nam. Lúc ấy, người Pháp đứng trong mặt trận chống cộng thế giới do Hoa Kỳ lănh đạo và cương quyết không chịu thương thuyết với Hồ Chí Minh. V́ đó, Hồ Chí Minh bắt buộc phải chống hẳn lại Pháp, và Nga cũng đổi chánh sách, ra lịnh cho Hồ Chí Minh phải dựa vào Trung Cộng. Với biên giới tiếp cận Việt Nam, Trung Cộng có thể giúp Cộng sản Việt Nam một cách mạnh mẽ về nhiều phương diện. Nhưng Trung Cộng đă đặt một điều kiện cho sự giúp đỡ tận t́nh là Cộng sản Việt Nam phải chứng tỏ sự trung thành với khối Cộng sản thế giới bằng cách áp dụng một chính sách nội bộ có tính cách tranh đấu giai cấp rơ rệt hơn.
Cộng sản Việt Nam từ khi cướp được chánh quyền năm 1945 đă dùng mọi biện pháp để triệt hạ các lực lượng chánh trị khác trong nước và nắm giữ độc quyền kháng chiến, nhưng bề ngoài, vẫn chánh thức duy tŕ chủ trương đoàn kết quốc dân chống ngọai xâm và áp dụng mọi hạng người chịu cộng tác với họ để đương cự lại với người Pháp. Với việc Trung Cộng tiến đến sát biên giới Việt Nam và có thể viện trợ đầy đủ cho họ về mọi mặt, Cộng sản Việt Nam không ngần ngại lột bỏ mặt nạ quốc gia và chấp nhận lời yêu cầu của Trung Cộng. Họ áp dụng hẳn chánh sách tranh đấu giai cấp theo chủ nghĩa Marx, và phát động phong trào đấu tố Trí Phú Địa Hào, tức là những nhà trí thức và giàu có. Tuy nhiên, họ chỉ áp dụng chánh sách này đúng mức ở những nơi họ hoàn toàn kiểm soát, tức là miền bắc Trung Việt (liên khu 4) mà thôi. Ở Nam Việt, v́ cộng sản Việt Nam c̣n yếu so với Pháp nên họ vẫn giữ chiêu bài kháng chiến dành độc lập và chưa dám bộc lộ mặt cộng sản ra. Măi đến khoảng cuối năm 1953, họ mới xây dựng một trại ở vùng U Minh để giam giữ hạng trí phú địa hào, nhưng họ chưa phát động phong trào đấu tố sâu rộng th́ hiệp định Genève đă được kư kết.
Trong việc kư kết hiệp định này, Trung cộng đă đóng một vai tṛ quan trọng. Sau khi thắng trận Điện Biên Phủ nhờ sự giúp đỡ lớn lao của Trung Cộng, Cộng sản Việt Nam vẫn muốn tiếp tục cuộc tranh đấu để chinh phục luôn cả Việt Nam. Nhưng lúc ấy các nhà lănh đạo Nga không c̣n muốn theo chánh sách cứng rắn và lộng hiểm của Staline nên bên trong th́ chủ trương nâng cao mức sống của nhân dân, bên ngoài th́ hướng về sự ḥa dịu trong các vấn đề quốc tế. Trung cộng th́ sau trận chiến tranh Triều Tiên với Hoa Kỳ cũng muốn thấy vai tuồng đại cường của ḿnh được xác nhận trong một hiệp định quốc tế. Thời đó, Nga và Trung cộng vẫn c̣n là thân hữu của nhau nên rất dễ dàng có một lập trường chung. Cả hai đều nghĩ rằng Pháp đă kiệt lực, nhưng nếu không cho Pháp có một lối thoát danh dự th́ Pháp bắt buộc phải tiếp tục chiến đấu ở Đông Dương, đồng thời mời Hoa Kỳ trực tiếp tham dự chiến cuộc với ḿnh. Pháp lại có thể bị áp lực của Hoa Kỳ mà nh́n nhận nền độc lập thật sự của quốc gia Việt Nam, và cộng sản Việt Nam sẽ mất một chiêu bài tuyên truyền có hiệu lực. Như vậy chiến tranh Đông Dương sẽ kéo dài và trở thành ác liệt mà cộng sản Việt Nam lại sẽ ở vào một thế bất lợi hơn.Trong t́nh thế đó, các cường quốc cộng sản hoặc sẽ phải bỏ rơi cộng sản Việt Nam, hoặc phải leo thang trong sự giúp đỡ và điều này có thể đưa đến sự đụng độ mạnh với Hoa Kỳ.
Nga không muốn có một sự đụng độ như vậy. Trung cộng th́ một mặt cần sự giúp đỡ của Nga, một mặt cần một thời gian ḥa b́nh để phát triển cũng có một lập trường tương tự. Bởi đó, cả hai siêu cường cộng sản đều theo giải pháp của Anh, chủ trương cắt đôi Việt Nam, giao Miền Bắc cho cộng sản Việt Nam và để Miền Nam cho người quốc gia. Với giải pháp này, Trung cộng có được một Miền Bắc Việt Nam theo cộng sản làm phên dậu cho ḿnh ở phía Nam, và phần đất cộng sản này lại có thể dùng làm bàn đạp cho phe cộng sản mở rộng thêm thế lực ở Đông Dương về sau. V́ những mối lợi đó Trung cộng đă cùng Nga gây áp lực đối với cộng sản Việt Nam : chẳng những họ bắt cộng sản Việt Nam phải chấp nhận chia đôi Việt Nam, mà c̣n ép cộng sản Việt Nam phải chịu chia đôi ở vĩ tuyến 17 thay v́ ở khoảng vĩ tuyến 13 hay 14, theo một giới tuyến chạy từ Tuy Ḥa ở duyên hải đến Pleiku và biên giới Lào, như cộng sản Việt Nam đ̣i hỏi lúc ban đầu.
b- GIAI ĐỌAN TỪ 1955 ĐẾN 1975.
Sau khi hiệp định Genève được kư kết, chánh sách của Trung cộng đối với cộng sản Việt Nam bắt đầu khác với chánh sách Nga. Cứ theo bản Tuyên Cáo Chung đính theo hiệp định Genève th́ năm 1956, phải có cuộc tổng tuyển cử để giải quyết vấn đề thống nhất Việt Nam. Nhưng lúc ấy, Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm đă từ chối cuộc gặp gỡ với đại diện cộng sản Việt Nam để bàn về việc tổ chức tổng tuyển cử đó, với lư do là Miền Bắc Việt Nam bị cai trị theo lối độc tài nên không thể bàn đến vấn đề tuyển cử được.
Phía Nga không tỏ vẻ bất măn lắm đối với thái độ trên đây của nhà cầm quyền Việt Nam Cộng Ḥa. Đă vậy, năm 1957, đại diện Nga ở Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc lại c̣n đề nghị cho cả hai Miền Nam Bắc Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc. Đề nghị này đă bị Hoa Kỳ bác bỏ v́ lúc ấy Hoa Kỳ và Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm chủ trương chỉ có Việt Nam Cộng Ḥa là được quyền vào Liên Hiệp Quốc mà thôi. Nga cố nhiên là không thể nhận lập trường của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Ḥa. Do đó, họ đă dùng quyền phủ quyết để bác đơn xin gia nhập Liên Hiệp Quốc của chính phủ Ngô đ́nh Diệm. Tuy nhiên, đề nghị sơ khởi của họ ở Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đă cho thấy rằng trong thâm tâm, họ không muốn cho Cộng sản Việt Nam chinh phục Miền Nam Việt Nam. Nhưng sau khi Cộng sản Việt Nam phát động cuộc tranh đấu để xâm chiếm Miền Nam Việt Nam, Nga vẫn phải giúp đỡ v́ không muốn mang tiếng bỏ rơi đàn em và v́ nếu không giúp đỡ ǵ th́ Cộng sản Việt Nam sẽ theo hẳn Trung Cộng mà lợt lạt với họ.
Phần Trung Cộng th́ trái lại, rất bực tức về chỗ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm không chịu tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam như bản Tuyên Cáo Chung của Hiệp Định Genève đă nêu ra. Bởi vậy họ đă tận lực ủng hộ Cộng sản Việt Nam trong mưu toan chinh phục Miền Nam Việt Nam bằng vơ lực. Do đó sự giao thiệp giữa Trung Cộng và Cộng sản Việt Nam lúc ấy rất mật thiết. V́ mối giao t́nh nồng hậu này mà Trường Chinh, người lănh tụ Cộng sản Việt Nam được xem là thân Trung Cộng đă không bị loại hẳn sau khi thất bại trong cuộc cải cách ruộng đất ở Miền Bắc Việt Nam. Thêm nữa, quyền chỉ huy chiến trường ở Miền Nam Việt Nam lại giao về cho Nguyễn Chí Thanh là một viên tướng thuộc phe Trường Chinh.
Sự khác nhau giữa Trung Cộng với Nga trong chính sách đối với Việt Nam năm 1957 tuy rất nhỏ, nhưng lại phát xuất từ một sự bất đồng quan điểm rộng lớn hơn là thái độ của cộng sản đối với Hoa Kỳ. Lúc ấy, Nga muốn có sự ḥa dịu luôn với Hoa Kỳ trong khi Trung Cộng xem Hoa Kỳ là kẻ thù không đội trời chung. Sau một thời gian tạm ḥa dịu khi chiến tranh Triều Tiên chấm dứt, Trung Cộng lại chủ trương gây hấn với Hoa Kỳ, dầu có làm chiến tranh nguyên tử nổ bùng cũng không ngại. Sự bất đồng quan điểm này đă lần lần đưa đến sự xích mích giữa hai siêu cường cộng sản từ 1958 và đến 1960 th́ bộc lộ rơ rệt. Cộng sản Việt Nam rất lo phiền về sự xung đột này và cố giữ sự ḥa hảo với cả hai bên, nhưng v́ sự giúp đỡ của Trung Cộng nhiều hơn nên họ thân thiết với Trung Cộng hơn.
Nhưng t́nh thế lần lần biến đổi v́ ba lư do :
1- Trước hết, Trung Cộng đă lọt vào t́nh thế bất ổn v́ sự tranh chấp nội bộ từ năm 1959. Năm ấy, Lưu Thiếu Kỳ được bầu làm chủ tịch Nhà nước và thật sự nắm quyền điều khiển mọi công việc với sự giúp đỡ của Đặng Tiểu B́nh là Tổng Bí Thư của đảng Trung Cộng. Mao Trạch Đông chỉ c̣n giữ chức vụ Chủ tịch Đảng và bị dồn vào chỗ thật sự vô quyền. Để tranh đoạt lại quyền bính, Mao Trạch Đông phải phát động cuôc Cách Mạng Văn Hóa và dùng Lâm Bưu cùng những thanh niên ngoài đảng Trung Cộng để loại trừ phe họ Lưu và họ Đặng và phá vỡ hệ thống đảng Trung Cộng đi theo hai lănh tụ này. Đến nắm 1967, Mao Trạch Đông mới loại được Lưu Thiếu Kư và Đặng Tiểu B́nh ra khỏi các chức vụ trong chánh quyền và trong đảng và nắm lại được cả quyền bính. Nhưng Lâm Bưu và các quân nhân ủng hộ ông ta lại trở thành mối đe dọa cho Mao và họ Mao lại phải loại trừ Lâm Bưu năm 1971. Việc tranh chấp này tuy là việc nội bộ của Trung Cộng nhưng lại làm cho đảng Cộng sản Việt Nam khó chịu, v́ Cộng sản Việt Nam vốn lấy đảng làm trọng nên không thể chấp nhận đựơc chánh sách của Mao Trạch Đông dùng người ngoài đảng để làm cho đảng yếu. Đó là một “gương xấu” mà cộng sản Việt Nam không muốn thấy có trong hàng ngũ cộng sản thế giới. Bởi vậy, về mặt tư tưởng, cộng sản Việt Nam lần lần đi xa Trung Cộng.
2- Kế đó là việc Hoa Kỳ can thiệp trực tiếp vào chiến cuộc Việt Nam từ năm 1965. Chẳng những mang quân vào Miền Nam Việt Nam để đánh nhau với các bộ đội cộng sản từ Miền Bắc gởi vào, Hoa Kỳ lại c̣n oanh tạc Miền Bắc Việt Nam. Do việc Hoa Kỳ tham dự vào chiến cuộc và đánh cộng sản Việt Nam nhiều đ̣n rất nặng, Cộng sản Việt Nam cần nhiều dụng cụ và khí giới tối tân, nhất là các loại khí giới cấn thiết để đương đầu lại phi cơ Mỹ. Trung Cộng không đủ sức cung cấp tất cả những dụng cụ khí giới mà Cộng sản Việt Nam cần dùng. Do đó, Cộng sản Việt Nam phải nhờ cậy Nga nhiều hơn và chiến cuộc càng kéo dài th́ Cộng sản Việt Nam lại càng siết chặt thêm sự giao hảo với Nga.
3- Từ năm 1969, lại có một biến cố mới làm cho cộng sản Việt Nam xa Trung Cộng hơn. Trước đó, Trung Cộng đă xem Hoa Kỳ là kẻ thù số một y như cộng sản Việt Nam. Nhưng năm 1969, Nga và Trung Cộng đă đụng độ nhau trong một trận đánh khá lớn trên bờ sông Ô Tô Lư. Sau đó, Nga đă có ư định mở cuộc tấn công Trung Cộng trên một quy mô lớn. Họ có tiếp xúc với Hoa Kỳ để được Hoa Kư tán thành trong ư định đó, nhưng Hoa Kỳ đă chẳng những không chấp nhận chủ trương của Nga mà lại c̣n thông báo cho Trung Cộng biết ư định của Nga. Từ đó, Trung Cộng thay đổi hẳn thái độ đối với Hoa Kỳ. Họ không c̣n xem Hoa Kỳ là kẻ thù số một mà lại c̣n muốn dựa vào Hoa Kỳ để chống lại Nga. Chủ trương mới của họ đă bộc lộ năm 1970 với chánh sách “bóng bàn” và đưa đến việc Tổng thống Nixon chánh thức đến viếng Bắc Kinh năm 1972. Sự thay đổi lập trường của Trung Cộng xẩy ra lúc chiến tranh Việt Nam c̣n tiếp diễn nên cố nhiên là làm cho cộng sản Việt Nam bất măn, mặc dầu Trung Cộng vẫn tiếp tục giúp đỡ Cộng sản Việt Nam trong việc đánh nhau với Hoa Kỳ ở Miền Nam Việt Nam.
Ba lư do kể trên đây họp lại đă làm cho cộng sản Việt Nam chuyển hướng từ thái độ thân Trung Cộng hơn thân Nga qua thái độ thân Nga hơn thân Trung Cộng. Sự chuyển hướng này đă bắt đầu trước cuộc tấn công vào dịp tết Mậu thân. Tháng 4 năm 1967, khi về Hà Nội để báo cáo diễn tiến của chiến trường Miền Nam Việt Nam theo lịnh triệu hồi của Chánh trị bộ đảng Lao Động (Cộng sản) Việt Nam, tướng Nguyễn Chí Thanh đă bị bạo bịnh và chết một cách bất ngờ. Giả thuyết gần với sự thật hơn hết là ông ta đă bị phe thân Nga thanh toán bằng sự đầu độc. Điều chắc chắn là sau khi Nguyễn Chí Thanh chết, Vơ Nguyên Giáp chánh thức nắm quyền điều khiển mặt trận Miền Nam Việt Nam, nhưng thật sự, việc điều khiển này thuộc về Văn Tiến Dũng, người thân tín của Lê Duẩn. Dịp tấn công hồi tết Mậu thân là cơ hội cho phe thân Nga loại trừ các cấp chỉ huy mà Nguyễn Chí Thanh đă đặt trong bộ máy quân sự của Cộng sản Việt Nam ở Miền Nam Việt Nam.
Trung Cộng cố nhiên là đă dự liệu sự thay đổi đường lối của Cộng sản Việt Nam và t́m cách đối phó. Bề ngoài th́ họ vẫn tỏ vẻ thân thiện với cộng sản Việt Nam và giúp đỡ cộng sản Việt Nam, nhưng họ đă có những mưu toan để giữ Cộng sản Việt Nam về phía họ.
Từ năm 1966, họ đă t́m cách hạn chế bớt sự giúp đỡ và ảnh hưởng của Nga đối với cộng sản Việt Nam, bằng lối ngăn chặn hoặc làm trễ nải việc chuyên chở các khí giới mà Nga gởi cho cộng sản Việt Nam theo đường bộ, qua lănh thổ của họ. Một số khí giới hay bộ phận của khí giới này lại bị đánh cắp mất để cho phần c̣n lại không sử dụng được. Tuy nhiên, Trung cộng không thể áp dụng một chánh sách quyết liệt về vấn đề này, v́ sợ bị chỉ trích là phản bội cuộc tranh đấu chống Hoa Kỳ của Cộng sản Việt Nam. Để bù vào ảnh hưởng mà Nga thâu hoạch được bằng sự cung cấp vơ khí tối tân, Trung Cộng đă mượn cớ giúp đỡ Cộng sản Việt Nam tái thiết các đường xe lửa và đường lộ bị máy bay Hoa Kỳ phá hủy trong những cuộc oanh tạc, để cho độ 50.000 công binh sang Miền BắcViệt Nam và Lào, vào tháng 8 năm 1966, với hy vọng duy tŕ được thế lực của ḿnh đối với cộng sản Việt Nam. Lúc ấy cộng sản Việt Nam c̣n cần dùng Trung Cộng nên không dám từ chối sự giúp đỡ này, nhưng chắc chắn là bực bội lắm…Khi Hoa Kỳ ngưng oanh tạc Miền Bắc Việt Nam năm 1968, Công sản Việt Nam đă yêu cầu Trung Cộng rút các công binh của ḿnh ra khỏi Miền Bắc Việt Nam và Trung Cộng không thể không chấp nhận lời yêu cầu ấy. Nhưng việc này, thêm vào việc Nguyễn Chí Thanh bị thủ tiêu, làm cho Cộng sản Việt Nam và Trung Cộng càng ngày càng xa nhau hơn. Sau năm 1971, khi cộng sản Việt Nam đă bộc lộ hẳn chánh sách thân Nga hơn thân Trung Cộng, với việc bầu cử lại Quốc Hội mới, trong đó các phần tử được xem là thân Trung Cộng chỉ c̣n 1/3 th́ mối hiềm khích càng gia tăng.
Theo tuần báo Far Eastern Economic Review (số xuất bản ngày 17-03-1978) th́ từ năm 1974, đă có những vụ xung đột nhỏ ở biên giới Việt Hoa, v́ quân trú pḥng của hai bên đă nhơn lúc đêm tối, lén rời các trụ đánh dấu biên giới khoảng từ 50 đến 100 mét về phía này hay phía kia. Ở Miền Nam Việt Nam th́ Trung Cộng đă t́m cách liên lạc nắm lấy Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bằng cách liên lạc gây cảm t́nh và đề cao một số nhơn vật của tổ chức này, như Nguyễn Thị B́nh chẳng hạn.
Mặt khác, sau khi Hoa Kỳ kư được hiệp định Paris với phe Cộng sản Việt Nam và rút quân về nước, Trung Cộng đă chiếm lấy quần đảo Ḥang Sa ngày 19-1-1974. Mục đích của họ là có một căn cứ hải quân ở xa về phía Nam để có thể đặt đài ra đa mà quan sát các tàu bè, nhất là chiến hạm Nga từ Ấn Độ Dương kéo lên, đồng thời theo dơi các tàu bè Nga vào vịnh Bắc Việt. Về mặt kinh tế th́ việc chiếm lấy quần đảo giúp cho họ quyền đ̣i chia phần trong việc khai thác thềm lục địa vùng ngoài khơi của Đông Dương vốn được biết là có thể có nhiều mỏ dầu. Việc Trung Cộng chiếm lấy quần đảo Hoàng Sa đúng vào đầu năm 1974 có thể có thể giải thích bằng 3 lư do :
1- Lúc ấy, có tin cho rằng Nga sắp gởi cho Cộng sản Việt Nam một số
tàu vơ trang với loại hỏa tiễn thật mạnh để cộng sản Việt Nam cướp lấy quần đảo Trường Sa trong tay Việt Nam Cộng Ḥa. Trung Cộng sợ kế hoạch này thực hiện được th́ Nga có thể được Cộng sản Việt Nam cho dùng quần đảo này làm một căn cứ hải quân ở phía nam nước họ và có thể uy hiếp họ được.
2- Phần người Mỹ th́ đă quyết tâm rút quân khỏi Đông Dương nên không c̣n tha thiết muốn giữ quần đảo Hoàng Sa mà lại có thể muốn cho quần đảo này vào tay Trung Cộng hơn là vào tay phe cộng sản Việt Nam thân Nga. Do đó, Hoa Kỳ có thể để yên cho Trung Cộng thực hiện ư đồ của ḿnh. Trong thực tế th́ sau khi Trung Cộng loan báo ư định chiếm lấy quần đảo Trường Sa th́ nhà cầm quyền Mỹ đă vội vă tuyên bố rằng đó là việc của Trung Hoa và Việt Nam, Hoa Kỳ không can dự vào.
3- Trung Cộng phải chiếm quần đảo Hoàng Sa trước khi Cộng sản Việt Nam được tham dự vào một chánh quyền ở Miền Nam Việt Nam, v́ nếu để đến lúc Cộng sản Việt Nam tham dự vào một chánh quyền ở Miền Nam Việt Nam mới chiếm th́ Trung Cộng khó có thể tránh tiếng uy hiếp một chánh quyền bạn hay ít nhứt cũng có bạn ở trong. Sau khi Trung Cộng chiếm lấy quần đảo Hoàng Sa, chỉ có Việt Nam Cộng Ḥa phản đối, c̣n phe cộng sản Việt Nam, kể cả những người hữu trách ở Hà Nội lẫn những người hữu trách trong Mặt Trận Giải Phóng đều né tránh, không dám lên tiếng chỉ trích Trung Cộng về vấn đề này, hay xác nhận Hoàng Sa thuộc lănh thổ Việt Nam.” (Nguyễn Ngọc Huy, Sự Giao Thiệp Giữa VIệt Nam với Trung Hoa)
GIAI ĐOẠN SAU NĂM 1975
Chiếm được Miền Nam rồi th́ sự giao thiệp giữa Trung Cộng và Việt Cộng trở nên căng thẳng hơn. Bề mặt Trung Cộng vẫn duy tŕ sự giao hảo và chi viện cho Việt Cộng trên nguyên tắc, nhưng sự chi viện đă giảm bớt, hơn nữa Trung Cộng lại đ̣i Việt Cộng phải trả những món nợ về mua vũ khí, quân trang, quân dụng trong thời chiến.
Theo tài liệu của Jacques Massu, Jean Fonde trong L’Aventure Việt Minh, Plon, Paris 1980, tr 293 th́ “một viên chức ngọai giao Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa tiết lộ cho biết từ 1954 đến 1971, có 300.000 binh sĩ Hồng quân Trung Hoa đă chiến đấu bên cạnh binh sĩ Bắc Việt, trong đó hàng ngàn người đă tử trận và hàng chục ngàn người đă bị thương. Ông ta c̣n xác định số lượng vũ khí từ 1950 đến 1977 lên đến 2 triệu súng nhẹ, 27.000 đại pháo, 270 triệu băng đạn, 18 triệu đạn đại pháo, 179 máy bay và 145 chiến hạm. Người Trung Hoa tính rằng viện trợ này tương đương với khỏang 20 tỉ mỹ kim theo thời giá lúc đó.”
Một tài liệu khác cũng ước tính như thế : “Từ 1950, khi hai nước Trung Quốc và Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa kư hiệp nước hữu nghị và hổ tương, từ đó đến 1975, Bắc Kinh viện trợ cho Hà Nội trên 20 tỉ Mỹ kim” (King C. Chen, China’s war with Vietnam)
Ngày Việt Cộng vào Sài G̣n, Chợ Lớn, người Việt gốc Hoa đă treo cờ Trung Cộng, nhưng Việt Cộng bắt phải hạ xuống. Việt Cộng cũng lùng bắt các cán bộ t́nh báo cao cấp Trung Cộng tỉ như viên cựu Giám đốc Bệnh viện Triều Châu. Mặt trận Giải pḥng Miền Nam cũng bị giải tán cấp tốc v́ sự móc nối với Trung Cộng. Việt Cộng sợ MTGPMN sẽ thành lập chính phủ riêng biệt thân với Trung Cộng.
Trung Cộng lợi dụng khối người Hoa gốc Việt để đánh phá nền kinh tế Việt Nam cho suy sụp. Công việc không khó v́ nền kinh tế tài chánh đều nằm trong tay người Hoa. Họ cũng dùng tiền tài để hối lộ bọn cán bộ ốm đói mới ở rừng về thành để lũng đọan tinh thần bọn cán bộ này.
Phản ứng của Việt Cộng là triệt hạ thế lực của người Việt gốc Hoa và Hoa kiều. Việt Cộng triệt hạ tư sản để vô sản hóa toàn dân nhưng mục đích chính là đánh vào ngừời Hoa để vơ vét tài sản vàng bạc bỏ túi và trả nợ cho Trung Cộng. Số nợ lên đến trên 20 tỉ mỹ kim, không phải mang nợ v́ quốc kế ích quốc lợi dân mà chỉ là mua vũ khí giết hại đồng bào. Tội này lấy nước nào rửa cho sạch.
Sau đó Việt Cộng đă phân tán người Hoa ra khỏi Chợ Lớn và đưa ra chính sách cho đi vượt biên chính thức mà vơ vét lần chót số vàng Hoa kiều c̣n lại. Trung Cộng giận dữ phản đối và từ đó hai đảng Cộng sản Hoa Việt coi nhau như kẻ thù không đội trời chung. Từ đây các đảng Cộng sản Trung Hoa, đảng Cộng sản Cao Miên, đảng Cộng sản Việt Nam xâu xé nhau đưa đến chiến tranh Đông Dương lần thứ ba. Chiến tranh lần thứ nhất là Việt Cộng đánh nhau với Thực dân Pháp, chiến tranh lần thứ hai là Việt Cộng đánh nhau với Tư bản Mỷ, chiến tranh lần thứ ba là Việt Cộng đánh Cộng sản Khmer và Trung cộng đánh Việt Cộng. Vui thật !
CUỘC CHIẾN ĐẪM MÁU GIỮA 3 ĐẢNG CỘNG SẢN ANH EM.
Nam Vang thất thủ trước Saigon 13 ngày. Trước sức pháo kích dữ dội của Khmer đỏ vào Nam Vang, đại sứ Hoa Kỳ John Gunther Dean, tổng thống Lonnol đă phải lên trực thăng chạy mới toàn mạng. Ngày 17.4.1975, Phạm Hùng và Trần Văn Trà cầm đầu 3 sư đoàn Bắc Việt và 1 sư đoàn Khmer đỏ của Pol Pot tiến vào Nam Vang, Pol Pot ra lệnh dân chúng vào khoảng nửa triệu người, phải ra khỏi Nam Vang ngay. Trung Cộng t́m cách hất Việt Cộng ra khỏi Cao Miên để cho Pol Pot nắm trọn quyền. Ngày 18.4.75, một đại sứ toàn quyền Bắc Kinh bay sang Nam Vang họp kín với Pol Pot mà Phạm Hùng và Trần Văn Trà không được biết ǵ về cuộc họp này.
Lúc đó tại Xuân Lộc tỉnh Long Khánh 16 sư đoàn Việt Cộng do Lê Đức Thọ cầm đầu đang bị kẹt v́ hai quả bom trung ḥa tử (CBU) và sự chống trả mănh liệt của sư đoàn 18 và một số đơn vị nhảy dù, thủy quân lục chiến, biệt kích, biệt động quân. Lê Đức Thọ chỉ thị khẩn cấp cho Phạm Hùng và Trần Văn Trà phải kéo quân từ Nam Vang về đánh từ mặt Tây Ninh vào phía tây Saigon, để phân tán lực lượng VNCH.
Phạm Hùng và Trần Văn Trà vừa kéo quân về qua khỏi biên giới Việt Nam th́ người Mỹ chỉ chờ có vậy, đem bom trung ḥa tử ném hết xuống biển. Mỹ dụ khị cho Việt Cộng rút khỏi Cao Miên xong rồi th́ cũng vội vàng rút khỏi Việt Nam. Trung Cộng chờ choViệt Cộng rút ra khỏi đất Miên rồi củng cố lực lượng cho Pol Pot chiếm trọn Cao Miên không cho Việt Cộng quay lại Cao Miên nữa.
Ư đồ của Việt Cộng và Nga là cho Phạm Hùng và Trần Văn Trà chiếm Cao Miên, rồi cánh quân của Lê Đức Thọ chiếm Saigon xong sẽ phối hợp tấn qua Thái Lan, Mă Lai, Singapore..hoàn thành thế domino Đông Nam Á. Nhưng Việt Cộng bị Mỹ lừa ở Xuân Lộc để phải kéo cánh quân của Phạm Hùng và Trần Văn Trà về, Trung Cộng chỉ chờ có thế để chỉ đạo Pol Pot chận ở biên giới không cho Việt Cộng qua nữa. Thế cờ domino Việt Cộng bị phá vỡ.
Pol Pot có Trung Cộng đứng sau lưng bắt đầu gây hấn với Việt Cộng. Đầu tháng 5 năm 1975, Khmer Đỏ tấn công đảo Phú Quốc và Thổ Châu, giết hàng ngàn người và bắt đi 500 người khác. Khmer Đỏ lại phổ biến Hắc Thư trục xuất Việt kiều đă sống bao đời ở đất Miên và đ̣i lấy lại hết đất đai Cao Miên kể cả Miền Thủy Chân Lạp tức Nam Phần Việt Nam ngày nay.
Tại Trung Cộng, khi Mao vừa chết, đám Tứ nhân bang do Giang Thanh cầm đầu, bị Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh tấn công bắt hết rồi tôn Đặng Tiểu B́nh lên làm Chủ tịch nhà nước, kiêm Tổng bí thư đảng, kiêm Quân ủy trung ương. Đặng ra mặt nâng đỡ Pol Pot gây hấn với Việt Cộng.
Pol Pot ra lệnh thanh toán 20.000 Miên Cộng do Việt Cộng huấn luyện. Cuối tháng 3 năm 1977, sau khi giết hết cán bộ có liên hệ với Việt Cộng, Pol Pot công khai chấm dứt liên hệ với Việt Cộng, lại ra lệnh giết hết Việt kiều và tấn công vào vùng biên giới Việt Nam. Vào ngày 30.4.1977, trong khi Việt Cộng đang ăn mừng chiến thắng cướp được Miền Nam, Pol Pot ra lệnh tấn công vào các tỉnh biên giới như Tây Ninh, Châu Đốc, An Giang, Hà Tiên. Quân Khmer Đỏ đă dă man giết dân Việt rồi phanh thây, mổ bụng, chặt đầu, đốt hết nhà cửa, cướp tài sản, trâu ḅ, khiến cho cảnh tượng thật thương tâm khủng khiếp mà trong lịch sử chưa có cuộc xâm lăng nào dă man hơn.
Lúc này, Việt Cộng sau cơn say men chiến thắng, bỗng cảm thấy cô đơn và thân phận vô cùng bấp bênh, tứ bề thọ địch : Trung Cộng bỏ rơi, Miên Cộng gây hấn, Hoa Kỳ từ chối bang giao và vận động Liên Hiệp Quốc cấm vận. Trước hoàn cảnh thập phần nguy kịch, Việt Cộng phải vội vàng chạy sang Nga cầu khẩn xin gia nhập khối Comecon, để được viện trợ kinh tế và quân sự. Một phái đoàn cao cấp Nga bay sang Việt Nam ḍm ngó các hải cảng, viện trợ cho Việt Cộng 2 tàu ngầm, 4 phi đội Mig 21 và làm cố vấn thay cố vấn Tàu .
Khối Cộng chia thành hai phe thù nghịch coi nhau như quân thù quân hằn: một bên là Nga, Việt Cộng, Lào Cộng, bên kia là Trung Cộng, Miên Cộng đối đầu nhau. Trung Cộng viện trợ tối đa cho Miên Cộng không bồi ḥan. Lê Duẩn và thuộc hạ sang Bắc Kinh xin gặp Đặng Tiểu B́nh để năn nỉ làm lành nhưng Đặng Tiểu B́nh không tiếp. Thế trận tay ba Tàu, Miên, Việt thành h́nh, chỉ chờ bùng nổ.
Việt Cộng cấp tốc mở trường huấn luyện cho một số người Cao Miên bị Khmer Đỏ đuổi giết chạy sang Việt Nam, thành lập “Tổ chức Kháng chiến Khờ Me”, trong đó có Hunsen, về đánh Pol Pot.
Năm 1978, Trung Cộng đưa 30.000 quân vào các tỉnh Bắc Lào (Luang Nam Tha, Udomsay, Luang Prabang và Sầm Nứa) lấy cớ là để bảo vệ công nhân làm đường xe lửa Vân Nam Bắc Lào với mục đích thật sự là t́m cách vào đất Cao Miên, uy hiếp Pathet Lào, bao vây Việt Cộng. Việt Cộng vội kư với Lào Hiệp ước biên giới rồi đem 50.000 quân vào đóng tại Trung và Nam Lào chận đường Trung Cộng xuống Cao Miên. Cuộc gây hấn trở thành công khai, Bắc Kinh chửi Việt Cộng là “Tiểu bá quyền khu vực”, c̣n Hà Nội thóa mạ Trung Cộng là “Chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán”.
Để chuẩn bị cho cuộc xâm lăng Cao Miên, Lê Duẩn, Phạm Văn Dồng, Nguyễn Cơ Thạch bay sang Nga kư hiệp ước hữu nghị và hợp tác kinh tế, quân sự trong 25 năm. Nga viện trợ ngay cho 1.5 triệu tấn lương thực để cứu Việt Cộng đang bị đói trầm trọng.
Đêm 24 rạng ngày 25 tháng 12 năm 1978 (đêm Noel), Việt Cộng bắn phát súng lệnh tại Ban Mê Thuật tiến quân xâm lăng Cao Miên chiếm tỉnh Kratié. Cùng lúc một cánh quân Việt Cộng từ Lào đánh qua chiếm tỉnh Stung Treng. Lê Đức Anh chỉ huy 2 quân đoàn đánh chiếm các tỉnh trên quốc lộ 1 và 7. Sau hai tuần lễ giao tranh trên 20.000 quân Khmer Đỏ ở các tỉnh biên giới tan ră. Ngày 5.1.78 Việt Cộng tiến chiếm Nam Vang. Các cố vấn Trung Cộng tháo chạy thoát thân. Pol Pot và đồng bọn chạy đến vùng sát biên giới Thái Lan. Toàn đất Miên coi như rơi vào tay Việt Cộng.
Để cứu nguy cho chế độ Khmer Đỏ, Đặng Tiểu B́nh, Hàn Niệm Long và các ủy viên cao cấp Trung Cộng vội bay qua căn cứ Utapao họp kín với thủ tướng Thái Lan xin cho Pol Pot và Miên Cộng được tạm dung trên đất Thái để tổ chức đánh du kích chống Việt Cộng. Thái Lan ưng thuận v́ thấy có lợi do việc quân Khmer Đỏ có Trung Cộng đứng sau lưng chống Việt Cộng thay v́ chính Thái Lan phải đương đầu với Việt Cộng.
Trước cảnh Việt Cộng xâm chiếm Cao Miên không thèm đếm xỉa ǵ tới Trung Cộng, Đặng Tiểu B́nh giận lắm quyết phải trừng trị Việt Cộng một phen. Trung Cộng đem 500.000 Hồng quân dàn trận sát biên giới Việt Hoa và mỗi ngày pháo gần 5000 quả đạn vào nội địa Việt Nam.
Phía Việt Cộng cũng dàn khoảng 400.000 quân pḥng thủ biên giới đồng thời tổ chức lực lượng dân quân du kích và thay đổi toàn bộ cấp chỉ huy người Hoa bằng người Việt. Pḥng tuyến chạy dài suốt các tỉnh biên giới từ Hải Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cay, Lai Châu xuống đến Hà Nội.
Hoa Kỳ và Trung Cộng có những cuộc tiếp xúc mật chuẩn bị cho cuộc chiến. Ngày 24.5.78, phụ tá an ninh của tổng thống Jimmy Carter thăm viếng Trung Cộng. Ngày 28.1.79, Đặng Tiểu B́nh thăm viếng Mỹ, hội kiến với Carter tại ṭa Bạch Ốc. Mỹ hối thúc Nga kư hiệp ước Salt II để ngừa Nga đánh Trung Cộng.
Sáng ngày 17.2.79, Trung Cộng xua 85.000 quân đồng loạt đánh vào các tỉnh biên giới có hỏa tiễn, đại pháo 130 ly, xe tăng, thiết giáp yểm trợ. Pháo binh Trung Cộng đă khai hỏa dữ dội vào đất Việt Nam đến nỗi một kư gỉa Mỹ có mặt gần chiến trường cho hay là hỏa lực c̣n mạnh và dữ dội hơn cả pháo đài bay B 52 của Mỹ. Trung Cộng áp dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung với hỏa tiễn và các cổ pháo ṇng dài 130 ly, 122 ly, 140 ly với nhịp độ một giây một trái, sau đó cho quân tràn vào như nước lụt. Nhưng hồng quân Trung Cộng gặp phải hàng hàng lớp lớp chông gai, ḿn bẩy và từ trên các đỉnh núi cao, Việt Cộng bố trí các súng hạng nặng, pháo binh trực xạ bắn vào quân Trung Cộng như bắn bia, khiến số tử vong của lính Trung Cộng từ ngay trong phút đầu tiên của cuộc chiến tổn thật vô cùng nặng nề.
Đặng Tiểu B́nh giận dữ thay tư lệnh chiến trường là Hứa Thế Hữu (Xu Shiyou) v́ bất lợi của cuộc chiến bằng Dương Đắc Chí (Zang Dezhi). Chiến thuật biển người thay đổi bằng chiến thuật dùng pháo và tăng. Các thị xă Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cay, Lai Châu thất thủ sau 10 ngày ác chiến đẫm máu. Tại Lạng Sơn, Trung Cộng gặp sức kháng cự mănh liệt của dân quân cố thủ trong các cao ốc và lô cốt nên măi đến ngày 5.3.79 mới thất thủ.
Việt Cộng kéo 3 sư đoàn từ miền Nam ra tăng cường chiến trường biên giới để tái chiếm các thị xă đă mất. Đồng thời Nga cảnh cáo Trung Cộng phải rút khỏi Việt Nam nếu không Nga sẽ tấn công Trung Cộng. Đặng Tiểu B́nh thấy t́nh h́nh bất lợi đành phải cho lệnh rút quân về và tuyên bố là đă “dạy cho Việt Cộng một bài học”, thứ quân ăn cháo đá bát.
Tổng kết trong 16 ngày giao tranh giữa hai đảng anh em thắm thiết t́nh hữu nghị “môi hở răng lạnh” từ 17.2 đến 5.3.79, số tử vong về phía Trung Cộng lên đến 58.000 người, suưt soát số tử vong của lính Mỹ chết trong 20 năm chiến tranh ở Việt Nam. Phía Việt Cộng, lính và dân chết cũng lên đến 40.000 người. Phần đất mấy tỉnh biên giới mà trong thời chiến, Mỹ đă chừa ra không bỏ bom th́ nay Trung Cộng phá nát tanh bành khiến cho các công tŕnh xây dựng bị san b́nh địa.
Tuy cuộc chiến biên giới 1979, Trung Cộng phải rút quân sớm không đạt được mục tiêu tiến quân chiếm Hà Nội nhưng đă bắt Việt Cộng phải đem quân từ Cao Miên về canh pḥng biên giới Việt Hoa. Thế cờ domino tiến quân qua Thái Lan và Đông Nam Á bị phá vỡ, hơn nữa Việt Cộng lại bị sa lầy ở Cao Miên. Nhờ cuộc chiếm đóng của Việt Cộng trên đất Miên và Khmer Đỏ bị đẩy ra vùng biên giới Thái Lan mà các tổ chức Quốc Gia cũng như phe Bảo hoàng có cơ hội họat động kháng chiến chống Việt Cộng và đánh Miên Cộng.. Thế chân vạc 3 phe thành h́nh: Cộng sản, Quốc gia, Bảo hoàng cùng kháng chiến chống Việt Cộng để kết quả ngày nay Cao Miên có được thể chế dân chủ đa đảng.
Trong thập niên 1980, Việt Cộng hồ hởi phấn khởi với thế domino Liên Xô : Cộng sản Việt Nam phụ trách chiếm vùng Đông Nam Á, Cu Ba đảm nhận vùng Phi Châu, dùng Angola làm đầu cầu, c̣n Liên xô đem quân qua A Phú Hăn để tiến chiếm các nước Ả Rập vùng Vịnh. Nhưng Việt Cộng bị sa lầy ở Cao Miên, Cu Ba bị chận ở Angola và chính Liên xô cũng bị vây khổn ở A Phú Hăn.
Thế cùng lực kiệt, Liên xô phải gánh chịu mọi phí tổn chi viện cho cả 3 mặt trận khiến nền kinh tế bị suy sụp, binh sĩ Liên xô bị tổn thất mỗi ngày mỗi gia tăng. Sau 8 năm bị sa lầy trầm trọng ở A Phú Hăn, Gorbachev lên nắm giữ chức Tổng bí thư đă phải điều đ́nh ráo riết với Mỹ để giúp ông ta rút khỏi A Phú Hăn. Gorbachev đưa ra chính sách Cởi mở và Đổi mới thay cho chính sách kinh tế chỉ huy và cắt đứt mọi viện trợ cho các nước trong khối Cộng sản. Liên xô rút quân khỏi A Phú Hăn, Cu Ba tiu nghỉu kéo quân về và Việt Cộng cũng phải bỏ xứ Chùa Tháp. Và chế độ Cộng sản ở Liên xô, các nước Đông Âu đều bị giải thể.
Cộng sản Việt Nam lúc này mới thật là bi đát, bị Liên xô cúp viện trợ, t́nh cảnh không khác ǵ đứa con côi bị bỏ rơi lạc lơng giữa chợ, quay đi quay lại không biết bám víu vào đâu v́ từ trước tới nay quen thói bán máu dân chúng trong chiến tranh nhận viện trợ nên chẳng có đường lối nào để mà tự lực nuôi thân. Trông vào Mỹ để xin số tiền 5 tỷ đôla Nixon hứa giúp kiến thiết sau chiến tranh ? Hay đ̣i bồi thường v́ nạn thuốc khai quang màu da cam ? Tất cả đều há miệng mắc quai v́ chính Việt Cộng đă vi phạm Hiệp định Paris, cưỡng chiếm Miền Nam th́ lấy cơ sở nào để mà xin với xỏ. Ngó lên phương bắc th́ thái độ thù nghịch với Trung Cộng c̣n đó, khó mà trông mong.
Nhưng các “đỉnh cao trí tuệ” đă vận dụng khối óc tuyệt vời t́m ra được giải pháp: trông vào số tiền “kiều hối” của các “khúc ruột ngàn dặm”, tức là tiền của các thuyền nhân vượt biển gởi về cho thân nhân ở nhà để cứu nguy đảng trong lúc khốn cực này. Các tổ dân phố, các phường, các quận đều phải động viên các nhà có thân nhân vượt biển đi họp để đảng đề cao tinh thần yêu nước của Việt kiều. Các thuyền nhân vượt biển trước đây bị xỉ vả nào là bọn liếm gót giầy tư bản, nào là ăn bơ thừa sữa cặn, nào là đi theo Mỹ Ngụy, chính Phạm Văn Đồng gọi người vượt biển là đĩ điếm, là trây lười, là phản quốc th́ nay được gọi là thành phần yêu nước, là “khúc ruột ngàn dặm”, là “một phần không thể tách rời khỏi thân thể Việt Nam”. Họ thúc dục thân nhân viết thư kêu gọi gởi tiền về giúp gia đ́nh trong cơn túng thiếu. Tiền gởi về bằng đôla Mỹ, đảng chỉ việc in tiền Hồ để đổi lấy ngọai tệ. Chính các thuyền nhân vượt biển chạy trốn chế độ Cộng sản th́ nay lại cứu chế độ khỏi bị xụp đổ ! Lại thêm một kỳ tích khác của các “đỉnh cao trí tuệ” là xuất khẩu công nhân qua các nước tư bản kiếm tiền. Thật chẳng khác ǵ cảnh cha nẹ bất nhân bắt con cái đi ăn xin đem tiền về cho họ, trong lúc họ ngồi thảnh thơi cờ bạc hiện đang nhan nhản ở Thành Hồ.
Thập niên 1990, chế độ Cộng sản Liên xô và các nước Đông Âu đều sụp đổ, nh́n quanh nh́n quẩn chỉ c̣n có Cộng sản Trung Hoa, Cu Ba, Bắc Triều Tiên, Việt Nam và Lào. Cộng sản Việt Nam thấy rét quá không biết sẽ bị nhân dân Việt Nam làm thịt lúc nào. Các “đỉnh cao trí tuệ” lại vận dụng bộ óc và họ lại t́m ra giải pháp tuyệt vời là đành liều muối mặt quay lên thiên triều Bắc Kinh van xin Hoàng đế họ Đặng đánh chữ đại xá tha tội chết cho bầy tôi chót dại chống lại thiên triều.
Thế là cả một bầy lôi thôi lếch thếch do Tổng bí thư Đỗ Mười cầm đầu với Chủ tịch nhà nước Lê Đức Anh, Thủ tướng chính phủ Vơ Văn Kiệt, lại cho chắc ăn lôi cả Đại tướng hồi hưu cai đẻ Vơ Nguyên Giáp, kéo nhau lên Ải Nam Quan, hay gọi theo Việt Cộng là Hữu nghị quan, hay gọi theo Trung Cộng là Mục Nam Quan gơ cửa để xin được bệ kiến Hoàng đế Đặng Tiểu B́nh và Triều đ́nh Trung Cộng. Cũng tại cửa Ải Nam Quan này, ngày xưa Mạc Đăng Dung đă phải cởi trần, chịu trói và dâng bản đồ cắt đất cho Trung Hoa để được giữ vững ngai vàng, không biết Triều đ́nh nhà Việt Cộng do Đỗ Mười cầm đầu có phải chịu trói để tạ tội hay không nhưng việc dâng đất dâng biển đă bắt đầu từ cuộc bái triều lần này. Mất vài ngh́n cây số đất biên giới, mất chục ngh́n hải lư biển, mất mấy nhóm đảo Biển Đông mà được núp bóng Thiên triều giữ vững ngai vàng cho Đảng th́ cái giá đó có xá ǵ !
Việc kư hiệp định được giữ bí mật và không công bố nội dung nên khó biết chính xác là đă mất bao nhiêu đất bao nhiêu biển. Ta thử t́m hiểu xem đă mất bao nhiêu đất, bao nhiêu biển.
ẢI NAM QUAN.
Như chúng ta đă biết Cửa Nam Quan là biên giới ngăn đôi hai nước Việt Hoa như bài thơ của Nguyễn Du làm lúc đi sứ qua đó :
Lư Trần cựu sự yên nan tầm
Tam bách niên lai trực đáo câm
Lưỡng quốc b́nh phân cô lũy diện
Nhất quan hùng trấn vạn sơn lâm…
Việc cũ đời Lư Trần xa xôi mờ mịt khó t́m
Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ
Hai nước (Việt Hoa) chia đều từ mặt lũy lẻ loi
Một cửa ải oai hùng trấn đóng giữa ḷng muôn núi…
Bài thơ cho thấy hai nước lấy Lũy (cửa ải) này làm ranh giới. Phía bên kia mạn Bắc là nước Tàu, phía bên này mạn Nam là nước Việt. “Lưỡng quốc b́nh phân cô lũy diện”. “Hai nước chia đều từ mặt lũy lẻ loi”. Về phía Nam, sát Lũy ta có cất một cái trạm gọi là Ngưỡng Đức Đài làm nơi nghỉ chân và thay quần áo để qua ải vào nước Tàu, bức ảnh chụp thời Pháp c̣n thấy căn nhà đó. Khi sửa lại căn nhà đó, Đốc trấn Lạng Sơn là Nguyễn Trọng Đang có lập bia tại đó. Như thế chứng tỏ Lũy (ải) Nam Quan là đường ranh giới của hai nước Việt Hoa.
Lúc người Pháp và Tàu phân ranh, người Pháp đă nhuợng cho Tàu mất 100 mét đất từ lũy về phía Đồng Đăng, tức là ta mất 100 mét đất. “Biên giới sẽ chạy theo một con suối dưới chân đồi trước cổng khoảng 100 mét”. Con suối này có lẽ là suối Phi Khanh, nơi cha con Ông Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trăi chia tay nhau khi quân nhà Minh bắt ông Phi Khanh sang Tàu.
Thế c̣n Việt Cộng đă nhượng bao nhiêu đất tại cửa ải này ?
Biên giới hai nước Việt Hoa tại ải Nam Quan hiện nay ở cây số 0. Ông Văn Khoa viết về một chuyến đi từ Lạng Sơn qua Bằng Tường (Quảng Tây), có viết về biên giới với cây số 0 như sau: “Đi bộ thêm gần 100m. T. (cô hướng dẫn viên) đưa tay chỉ một cây cổ thụ lớn nằm chắn ra một phần đường : “Đây là loại cây si do thủ tướng Phạm Văn Đồng trồng năm 1965, đánh dấu mốc số 0 biên giới.” Dưới chân cây cổ thụ là cột mốc số 0, quốc lộ 1A. T. chỉ cho tôi nền đường khác nhau giữa hai phía Việt Nam và Trung Quốc. Đường cao tốc 1A Việt Nam làm bằng công nghệ bê tông nhựa nóng, đường Trung Quốc làm bằng bê tông đúc sẵn.”
Ông Phạm Đ́nh Chương viết : “Cá nhân tôi đă không đến được biên giới dễ dàng như tác giả VK tŕnh bày. Công an biên pḥng VN đ̣i phải xuất tŕnh giấy giới thiệu của cơ quan, và phải nhờ vào sự may mắn t́nh cờ tôi mới có cơ hội đến rờ vào cột mốc 0km-HNQ (Hữu Nghị Quan). Muốn sang bên kia để chụp h́nh Ải Nam Quan phải có hộ chiếu và thị thực nhập cảnh…”
Ông Trần Khuê (xin nhắc lại một đoạn trên) cho biết : “Tháng 8 năm 2001, chúng tôi có tổ chưc một đoàn lên khảo sát thực địa ở Lạng Sơn th́ quả thật đă thấy cây số 0 nằm trên vạch biên giới Việt Trung, không c̣n nh́n thấy Mục Nam Quan nữa. Phía Trung Quốc đă xây một ṭa nhà sừng sững chắn ngang…”
Tại cửa ải Nam Quan này, ta mất bao nhiêu đất cho Trung Cộng ?
Theo ông Lê Công Phụng, thứ trưởng bộ Ngoại giao Việt cộng, người phụ trách công việc phân chia biên giới nói là “nó lui vào 200 mét”, ư ông nói là ta mất 200 mét đất cho Trung Cộng.
Theo ông Trần Khuê trong bức thư ngỏ Giang Trạch Dân, đă dẫn ở trên, th́ Lê Thế Nguyên, nguyên Trưởng ban biên giới của Việt Cộng cho biết hiện “Mục Nam Quan nằm cách biên giới là 800 mét”, nhưng ông Trần Khuê cho cũng cho biết là có dư luận nói biên giới cách ải Nam Quan đến 2000 mét, tức 2 cây số.
Theo ông Nguyễn Thanh Giang th́ dư luận cho biên giới hiện nay cách “Mục Nam Quan” đến 5000 mét tức 5 ki lô mét và ông đă du di nhân nhượng vào khoảng phân nửa tức 2 ki lô mét rưởi.
Tờ báo The Christian Science Monitor cho biết: “Hiện nay, trạm ga xe lửa xuyên quốc gia đặt tại Đồng Đăng là trạm kiểm sóat của hai bên.” (Vietnam and China Rebuild Ties. The Christian Science Monitor. International, Oct. 3. 1997)
Như thế th́ biên giới hiện nay nằm ở đâu ? Ở Đồng Đăng hay cách Đồng Đăng bao nhiêu ? Cách cổng Nam Quan 800 mét hay 2000 mét, hay 2500 mét ? V́ nhà cầm quyền CSVN không công bố hay không cho đến nơi xét nghiệm nên không rỏ đâu là sự thực. Nhưng có điều chắc chắn là CSVN đă nhuợng một số đất ở ải Nam Quan cho CSTH v́ từ cây số 0 biên giới nay không c̣n nh́n thấy cửa Nam Quan đâu nữa như lời ông Trần Khuê cả quyết.
Tại cột mốc cây số 0 biên giới có một cây si to lớn do Phạm Văn Đồng, thủ tướng Việt Cộng trồng năm 1965. Như thế từ năm 1965 CSVN đă nhường đất cho CSTH rồi. Trong thời này ông Hồ Chí Minh c̣n sống và ông Phạm Văn Đồng có trồng cây si làm kỷ niệm (dâng đất) th́ cũng phải có sự đồng ư của ông Hồ Chí Minh hay chính ông Hồ bảo ông Đồng đi làm cái việc trồng cây ấy. Như vậy việc dâng đất biên giới cho Trung Cộng đă có ít nhất từ năm 1965 do Hồ Chí Minh chủ xướng. Bây giờ đám Cộng Sản Việt Nam có dâng đất dâng biển cũng chỉ là “tiếp nối sự nghiệp dâng đất của Bác vô vàn kính yêu mà thôi !”
Ông Lư Công Luận có bài trên mạng từ Hà Nội ngày 4.2.02 nói về mất Ải Nam Quan, có đoạn như sau : “Thế là bác Mao mới nói với bác Hồ rằng : “Hiện nay nguyên liệu của Trung Quốc c̣n thừa, TQ làm hộ cho VN một đọan. Hơn nữa đổi bánh hoặc toa ở biên giới núi non cách trở, không tiện. Khi nào ḥa b́nh rồi, tháo gỡ ra cũng được.” (bạn đọc chú ư tất cả tà vẹt và kỷ thuật của TQ đă theo khung 1.2 m và của VN là 0.9 m). Bác Hồ vui vẻ nhận lời.
Cụm từ “vui vẻ nhận lời” măi về sau này, từ năm 1979 đến nay làm cho nhân dân khóc ṛng. Đoạn đường rầy TQ trên đất Việt có người nói 400 m, có người nói 4 km, theo tôi 400 m th́ đúng hơn. Đến năm 1979 TQ xua quân qua xâm chiếm nước ta, đến khi rút quân về, cho quân đội nhổ cột mốc cắm vào điểm cuối cùng đường rầy TQ tạo nên đường biên. Tôi hỏi nhiều người ngày xưa đi du học TQ, Liên Xô, Đông Âu bằng tàu lửa, người ta cũng công nhận đổi toa ở trong nội địa Việt Nam, đi măi mới tới biên giới có đồn canh VN và đồn canh TQ đối diện. Đến khi hai bên đă hữu hảo rồi, bên VN định xây lại đồn biên pḥng tại Ải Nam Quan, được trả lời đất VN kéo dài tới nơi có đường rầy VN thôi, chớ làm sao trên đất VN có đường rầy TQ được. Sau đó phái đoàn đàm phán VN qua vịn vào thỏa thuận xưa giữa hai “Bác” th́ TQ trả lời những truyện xưa không thể làm bằng chứng được, phải có văn bản hẳn hoi kia. Cuối cùng khi ông Lê Khả Phiêu qua TQ th́ thỏa thuận chia 52% thuộc về VN và 48% thuộc TQ và đường biên giới mới được vẽ ở cách Ải Nam Quan về nội địa VN 200 m. Nhiều người nói Ải Nam Quan phong thủy tốt vả lại là cái gai trong con mắt của TQ (mỗi lần lính TQ qua cửa Ải Nam Quan để vào nước ta là thấy rùng ḿnh, ớn lạnh) nên TQ bày ra cái mẹo lừa lịch sử này để cướp cho được.”
NHẬN XÉT :
Ông Lỳ Công Luận cho rằng đoạn đường rầy Trung Cộng làm trên đất Việt Nam là 400 m. Nhưng trước đó ông nói họ Mao nói với họ Hồ rằng đổi bánh hay toa ở biên giới núi non cách trở không tiện, tốt nhất nên đổi vào khu VN bằng phẳng cho tiện, và ông cũng nói là đổi toa ở nội địa ViệtNam, đi măi mới tới đồn canh biên giới. Nếu chỉ 400 m th́ đi một chút đă tới rồi, phải mấy cây số mới thấy xa. 400 m cách Ải Nam Quan đang c̣n là núi non chưa bằng phẳng. Ít nhất phải tới Đồng Đăng mới có khu đất bằng phẳng. Việt Cộng kỹ thuật kém cơi không biết làm đường sắt hay là chỉ biết bắt thanh niên đi chém giết thay v́ làm công nhân để phải nhờ Trung Cộng làm dùm. Con đường xe lửa do Pháp làm chạy từ Hà Nội lên Lạng Sơn, tới Đồng Đăng và Na Sầm c̣n tốt. Để tiếp tế cho chiến trường Đông Dương, Trung Cộng đề nghị làm con đường xe lửa từ Nam Ninh chạy xuống Bằng Tường đến Ải Nam Quan. Khúc từ Nam Quan đến Đồng Đăng sẽ do Việt Cộng làm. Đường rầy của Trung Cộng rộng 1.2 m c̣n đường do Pháp làm rộng 0.9 m . Khi hai khúc đường gặp nhau th́ phải đổi bánh hoặc đổi toa, Đáng lẽ khúc đường xe lửa gặp nhau ở Ải Nam Quan nhưng Việt Cộng không làm được phải nhờ Trung Cộng làm v́ thế đường rầy rộng 1.2 m TC làm chạy tới Đồng Đăng như tờ The Christian Science Monitor cho hay là trạm kiểm sóat hai bên đặt ở Đồng Đăng.
Khúc đường từ Đồng Đăng tới Ải Nam Quan là 4 km hay 5 km th́ đường rầy TC làm cũng dài cỡ đó. Lê Khả Phiêu đă nhường chia 52% cho VN và 48% cho TC, nghĩa là mỗi bên được phân nửa (half and half )! tức Việt Nam mất trên 2 km đất biên giới tại Ải Nam Quan. Thằng ăn cướp lấy của ta 10 đồng, ta đ̣i lại không được, năn nỉ măi nó mới cho lại 5 đồng và lấy làm mừng lắm v́ được những 5 đồng !
THÁC BẢN GIỐC
Một địa điểm khác được lưu ư là thác Bản Giốc. Thác Bản Giốc thuộc tỉnh Cao Bằng, phủ Trùng Khánh. Thác Bản Giốc nằm trên con sông Qui Xuân hay Qui Thuận cũng gọi là sông Quế Chung, ngày nay Việt Cộng gọi là sông Qui Sơn. Con sông này chảy theo ranh giới Việt Hoa trong quảng 20 cây số, nhưng con sông này thuộc địa phận Việt Nam. Thác Bản Giốc v́ thế cũng thuộc vể Việt Nam. Thác Bản Giốc rộng 65 mét và cao 40 mét, rất hùng vĩ đẹp đẽ. Đây là một thắng cảnh của Cao Bằng thu hút khách du lịch. “Đây là một trong những vùng đẹp nhất của Tonkin”.
Thác này khi trước có tên là thác Tụ Long. Có một đồn canh biên giới ở Bản Giốc gần đó nên lấy tên Bản Giốc đặt cho thác, thành Thác Bản Giốc.
Thác này đă được Việt Cộng nhường cho Trung Cộng. Thác từ nay thuộc về Trung Cộng. Khúc sông Qui Xuân 20 cây số ranh giới khi trước ở bên kia sông, con sông hoàn toàn thuộc về Việt Nam th́ nay khúc sông 20 cây số có thác Bản Giốc thuộc về Trung Cộng. Ranh giới ở về phía Việt Nam. Ông Lê Công Phụng giải thích rằng, cột mốc nằm trên một g̣ giữa sông, chia sông thành 3 phần, Việt Nam được 1/3 c̣n 2/3 thuộc về Trung Hoa.
“Tập Bản Đồ Hành Chánh Việt Nam do nhà Xuất Bản Bản Đồ in, giấy phép 20/1/03, in tháng 7 năm 2003, có ghi tiếng Anh : Administrative Atlas, Cartographic Publising House, trang số 7 tỉnh Cao Bằng, tỷ lệ 1 : 600.000 tức 1cm bằng 6km thực địa”, con sông Qui Xuân được ghi là Qui Sơn chảy theo vùng biên giới từ xă Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh qua xă Minh Long thuộc huyện Hạ Lang, khúc sông 20 cây số biên giới này kể từ Thác Bản Giốc dọc khoảng 10 cây số ranh giới vẽ con sông thuộc về Trung Cộng, vào khoảng 5 cây số tiếp theo, khúc sông không có vẻ ranh giới, có lẽ khúc này con sông được chia đôi, khúc dưới cho đến khi sông chảy vào nước Tàu th́ ranh giới vẽ con sông thuộc về Việt Nam. Như thế, sự giải thích của ông Lê Công Phụng đúng, khúc sông này chia 3 th́ Trung Cộng chiếm 2 phần phía trên có thác Bản Giốc c̣n 1 phần phía dưới chẳng có giá trị ǵ thuộc về Việt Cộng ! Thác Bản Giốc mất đứt đuôi con ṇng nọc rồi c̣n ǵ nữa.
Tài liệu Nghiên cứu Địa Chất tại vùng Đông Bắc Bắc Kỳ viết về xứ Trùng Khánh và xác nhận Thác Bản Giốc của Việt Nam như sau :
“Ở về phía Bắc của các ngọn đồi Bồng Sơn là xứ Trùng Khánh. Đây là nơi có thể được xem như là một trong những địa điểm diễm lệ nhất của vùng xinh đẹp nầy. Nó biểu lộ trước hết về phía Tây một cḥm núi đá vôi cây mọc um tùm mà đỉnh cao nhất là Deou Leou (889 m). Cḥm núi nhỏ này giới hạn ở phía Đông bằng những ngọn đồi phiến nham thuộc Trà Lĩnh, thực tế là vùng nối dài về phía Tây Bắc của Quảng Yên. Nó tự giới hạn về phía Tây qua một vùng trũng không rơ rệt, phân biệt bằng một vùng rất đặc thù : cao nguyên Hang Ga. Cao nguyên này được biểu lộ qua những ngọn đồi cỏ thấp và các núi đá nhỏ có h́nh dáng lạ kỳ, chia cách ở giữa là một chuổi những thung lũng được trồng lúa.
Những ngọn đồi Hang Ga cao tới 809 m. Phía Tây Bắc của cao nguyên, chúng hạ thấp dần dần về hướng Đông Nam, đến cao độ chừng 650 m. Bờ ŕa phía Đông của cao nguyên th́ xuôi thoải xuống bằng một dốc cao hướng về Nam Ta.
Sông Nam Ta là một con sông rất đẹp từ đất Tàu đổ vào Tonkin ngay tại vùng chung quanh lô cốt Bong Giao, có độ cao 575 m. Thung lũng của nó, trước hết thắt hẹp lại ở cửa vào bởi hai bờ đầy bóng cây giẻ che mát, mở rộng ra sau khi qua cầu Ban Bao. Sông chảy cho đến những ngọn đồi ở Bồng Sơn, làm cho ruộng rẫy trù mật. Sông cũng đổ qua Tong Hue mà ta nhắc đến tại đây có cây cầu thật tráng lệ.
Ở tả ngạn sông Nam Ta là một vùng đá vôi quan trọng, dường như là nối tiếp với vùng đá vôi Quảng Yên, qua trung gian của rặng núi nhỏ B́nh Lang (802m). Vùng đá vôi này bắt đầu ở phía Nam, dựa vào những ngọn đồi Bồng Sơn, thuộc vùng chung quanh Tụ Mỹ, tại đây nó bị soi ṃn và tạo thành một chuổi những lũng tṛn, những lũng này thông thương giữa chúng với nhau, và đáy của chúng th́ có chung một mặt nghiêng, độ cao 600 gần ở Tụ Mỹ và độ cao 400 trong thung lũng Nam Ta. Phần lớn những lũng này có người Thổ sinh sống, bằng nghề làm nông. Bao bọc chung quanh là những thành đá có cây mọc, bờ dốc thẳng đứng, cao chừng 200 m.
Vùng đá vôi có cùng một đặc tính tiếp tục lan về hướng Bắc bên tả ngạn sông Nam Ta, sau đó suốt chiều dài đoạn biên giới chạy lên hướng Đông Bắc.
Đá vôi này cấu tạo thành một khối gần như nằm ngang, bị cắt thành nhiều lũng cao đều, nối tiếp nhau và có chung mặt phẳng cao độ 600 m. Sau đó các lũng này cách rời nhau bằng những ngọn đèo không cao lắm, hay kết hợp thường xuyên lại với nhau bằng những vết cắt có cùng mực cao, tạo thành như là những thung lũng thật sự. Phía đáy lũng chứa đầy đất sét không chất vôi, trồng trọt rất nhiều. Đỉnh cao nhất là đèn báo Lũng Đinh, cao 914 m. Các thung lũng soi ṃn nằm theo hướng Tây Bắc đến Đông Nam. Cận hướng Đông Bắc th́ khu đá vôi Phong Nam tạo thành một chỏm núi đặc thù. Kể từ hành lang hùng vĩ do sông Qui Xuân (Kouei Chouan) xoáy ṃn tạo thành đến điểm sông này chảy vào Tonkin, và con suối ở cột mốc số 76 chảy vào sông Qui Xuân. Cḥm núi này mọc sừng sững lên giữa ḍng sông, cao khỏang 500 m. Sự nước soi ṃn đă tạo chúng thành những đỉnh khuy (piston), hoặc những khối vuông gần sát nhau, chồng lên thành những bậc thềm từ dưới chân lên đến đỉnh. Khắp nơi cây cối mọc đầy, hiểm trở không thể leo lên được.
Sông Qui Xuân theo hướng Đông Bắc trong vùng núi này chảy ở giữa hai tường đá rất cao. Bờ tả ngạn, có chung phong thái với Phong Nam, chỉ là sự nối dài từ bên Tàu. Nhiều bằng chứng đá vôi, được đẽo thành đỉnh nhọn cao thấp đủ cỡ, rải rác khắp noi trong thung lũng.
Trung tâm của xứ Trùng Khánh th́ đồi cỏ chiếm đầy, và chúng khác với bộ dạng với vùng đồi ở xứ Bồng Sơn.
Phần phía Tây của vùng này th́ được tạo thành do những ngọn đồi tương đối thấp, che phủ cỏ lau. Phần ở giữa, trải dài vài cây số ở phía Bắc và phía Nam của Chi Choi, th́ biểu lộ dưới dạng những đồi nhỏ, bụi rậm phủ đầy, cắt ngang bằng nhiều khu rừng nhỏ.
Vùng này con sông Qui Xuân chảy qua ở gần Chi Choi. Sông này sau khi ra khỏi vùng đá vôi Phong Nam, mở rộng phía dưới hạ lưu thung lũng của nó. Tại đây dân bản xứ tưới nước rất nhiều bằng hệ thống tưới bằng ống tre. Con sông này mở một con đường ngoằn ngoèo trong vùng phía Đông của phủ Trùng Khánh và chảy xuống hết ghềnh thác này qua ghềnh thác khác để đến biên giới Đông Bắc, kế cận Bản Giốc. trước khi chảy qua vùng đồi Bồng Sơn. Công sự Bản Giốc, hiện nay bỏ trống, cheo leo trên một núi đá cao khỏang 30 thước, nh́n xuống những ghềnh thác của con sông và vùng đồng bằng rất đông đảo dân cư, với những tường cao bao quanh.
Đây là một trong những vùng đẹp nhất Tonkin, nếu không v́ xa xôi và v́ khó khăn phương tiện lưu thông, nó rất xứng đáng để du khách đến thăm viếng với những hang động, những cây cầu h́nh chữ Z bắc lên những tảng đá để băng qua sông, và nhất là cái thác hùng vĩ, gọi là thác bậc thềm có tên là Tụ Tổng, được người Châu Âu biết nhiều qua tên Thác Bản Giốc.
Một con đường tốt xe đi được chen giữa những khối đá bạch vân h́nh dáng kỳ lạ, nối phủ Trùng Khánh và Bản Giốc. Đường đi qua, kề cận Po Tau, một vùng rất bị soi ṃn mà đá vôi chỉ c̣n lại những đỉnh khuy nhỏ, lẻ loi. Đó là con đường nối tiếp của con đường từ Trà Lĩnh đến Trùng Khánh. Nó chạy uốn khúc từ lũng này qua lũng khác, xuyên qua những chóm núi đá Deou Leou, sông Nam Ta và cao nguyên Hang Ga.
Vùng Trùng Khánh có nhiều dân Thổ và Nùng, họ trồng lúa trong những vùng thấp dễ dẫn nước và mặt khác là bắp, lúa mạch đen, cây thẩu (làm thuốc phiện) và một ít lúa ḿ tại các nơi khác.” (Trương Nhân Tuấn trích dịch tài liệu Bulletin du service Géologique de l’Indochine, Volume XI, Fascicule I, Etudes Géologiques sur le Nord Est du Tonkin, (Feuilles de Bảo Lạc, Cao Bằng, Hạ Lang, Bắc Kạn, Thất Khê và Long Châu), René Bourret, Hanoi Haiphong Imprimerie d’Extrême d’Orient- 1922, trang 32,33,34)
Một tài liệu khác tả cảnh Thác Bản Giốc : “Trên vùng phía Bắc (vùng II Quân sự), sông Qui Thuận chảy qua Trùng Khánh Phủ. Đây là một phụ lưu sông Tây Giamg (Si Kiang). Có chiều rộng khỏang 60 thước, chảy vào Tonkin qua cửa Ải Lung và chảy vào lại đất Tàu ở gần công sự Tàu, có tên Nam Ton, sau khi đă tưới một thung lũng rộng lớn và trù mật. Hai cây số trước khi rời khỏi đất Tonkin, sông này chảy xuống một bậc đá và tạo thành một cái thác tuyệt đẹp cao khỏang 40 thước. Từng cột nước khổng lồ, trước hết rơi xuống vang rền trên một trũng nước, sau đó dội ngược lên thành những chùm tua đầy bọt nước, chảy trên những bậc thềm bóng láng. Vào mùa mưa, thác này mang một h́nh thái tuyệt trần, tiếng động của nó âm vang ra tận ngoài thật xa, dội vào vách núi đá nghe như sấm động, trong lúc những đám mây hơi nước được tạo thành ở các bên bờ tan ra tạo thành một đám mưa lâm râm thật sự.
Con sông này có một phụ lưu, là con suối Bản Tước. Suối chảy dọc theo con đường từ Hạ Lang đến Trùng Khánh Phủ. Trước khi tới công sự ghi trên không lâu, con đường và ḍng suối đi vào một hang động, song song nhau trong khoảng 300 thước, dưới một ṿm đá, có lúc khá cao. Con đường ra khỏi hang bắng những bậc thềm tạo thành một cầu thang, đẽo vào đường rănh của một tảng núi đá (cheminée) hầu như thẳng đứng, trong lúc ḍng suối th́ chảy khuất vào trong đá và chỉ lộ ra khá xa trong đồng bằng.” (Trương Nhân Tuấn, dịch tài liệu Au Tonkin et sur la frontière du Kwang Si, Bắc Kỳ và biên giới Quảng Tây, nhà xuất bản Auguste Challamel, nhà sách Thuộc Địa năm 1895 của Commandant Famin, Cdt Famin là Phó Chủ tịch Ủy ban Phân Giới)
Lê Công Phụng nói rằng có 174 điểm tranh chấp về biên giới, ông ấy chỉ cho biết có 2 địa điểm là Ải Nam Quan và Thác Bản Giốc th́ ta thấy cả hai địa điểm này đều bị Việt Cộng nhường (hay bán) cho Trung Cộng c̣n 172 điểm khác nó ở đâu và ta đă mất bao nhiêu đất ?
“Theo tài liệu Pacific Forum CSIS Comparative Connections, cuộc thương thảo lần cuối (thứ 15) giữa hai bên Việt Hoa kéo dài một tháng từ 22.6.1999 đến 22.7.1999, hai bên nổ lực làm việc để kịp thời hạn kư kết Hiệp ước vào cuối năm theo lệnh của các Chủ tịch đảng. Mất thời gian nhất là một số “bất đồng ư kiến về ranh giới trong 76 vùng tranh chấp”. Lược qua các ghi chép (chronology) của CSIS về các cuộc viếng thăm qua lại giữa đôi bên, hay các cuộc thảo luận song phương, người ta thấy rất rơ là Hà Nội luôn luôn ở thế bị động và sau những lần giằng co từ chối, đều phải chấp nhận những đ̣i hỏi của Bắc Kinh.”
Theo “Kháng Thư Của Người Việt Hải Ngọai Tố Cáo Đảng Cộng Sản Nhượng Đất Bán Nước Cho Ngoại Bang” do Luật sư Nguyễn Hữu Thống soạn, công bố tháng 1 năm 02, cho biết :
“Theo nhận định của giới am hiểu th́ thời điểm lấn đất đă thực sự phát khởi từ đầu thập niên 1950, thời chiến tranh Đông Dương thứ nhất, khi Bắc Kinh tiếp tế quân trang, quân dụng, cung cấp cố vấn và cán bộ huấn luyện cho Bắc Việt. Các xe vận tải và xe lửa đă chạy sâu nhiều cây số vào lănh thổ Việt Nam để lập các cơ quan chỉ huy, trung tâm huấn luyện, điều quân, tiếp tế và chôn dấu vũ khí. Trong chiến tranh Đông Dương thứ hai hàng trăm ngàn binh sĩ (300.000 quân) Trung Quốc, đă đồn trú tại Bắc Việt để giữ an ninh lănh thổ khi các sư đoàn chính quy Bắc Việt kéo vào xâm chiếm Miền Nam trong các chiến dịch Tổng công kích (Tết Mậu Thân) và Tổng công kích Xuân Hạ (1972, Mùa Hè Đỏ Lửa). Và trong chiến tranh Việt Trung (1979) Quân đội Trung Quốc đă kéo sang tàn phá 6 tỉnh miền biên giới và khi rút lui đă đem công binh gài ḿn nhiều cây số trong nội địa Việt Nam.
Trong những cuộc tấn công và tiếp viện này họ đă kéo theo từng đoàn sắc tộc dân thiểu số Trung Hoa từ Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông sang chiếm đất và định cư tại miền biên giới, sâu trong lănh thổ Việt Nam. Nay Bắc Kinh tạo áp lực buộc Hà Nội phải theo chính sách hợp thức hóa t́nh trạng đă rồi (politique du fait accompli). Họ bắt đảng Cộng sản Việt Nam phải vẽ lại ranh giới theo thỉnh nguyện của các sắc dân thiểu số Trung Hoa trú ngụ tại biên giới.
Theo sự ước tính của các giới am hiểu th́ Việt Nam đă nhượng cho Trung Quốc một giải đất từ 2 cây số đên 12 cây số dọc theo lằn biên giới dài khoảng 1.300 cây số. Như vậy tổng diện tích đất bị mất có thể là từ 2.600 cây số vuông tới 15.600 cây số vuông.
V́ Hiệp ước Biên giới không được công bố nên không ai biết rơ những vùng đất nào đảng cộng sản Việt Nam đă nhượng cho Trung Quốc. Nhiều người tiết lộ rằng Việt Nam đă mất những địa danh như Ải Nam Quan và thị trấn Đồng Đăng tại Lạng Sơn, Thác Bản Giốc tại Cao Bằng.
(Hết Phần VI)