BIÊN GIỚI VIỆT NAM QUA CÁC THỜI ĐẠI :
VĂN LANG, BẮC THUỘC VÀ TỰ CHỦ.
THỜI VĂN LANG VÀ BẮC THUỘC.
Lê Quư Đôn trong Vân Đài Lọai Ngữ viết về Cương vực lănh thổ Văn Lang như sau : “Sử thần Ngô Sĩ Liên làm sách Ngoại Kỷ có chép: “Hùng Vương dựng nước gọi là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu. Đất nước Văn Lang, Đông giáp Nam Hải, Tây giáp Ba Thục, phía Bắc đền hồ Động Đ́nh, phía Nam đến nước Hồ Tôn. Cả nước chia làm 15 bộ :
1- Giao Chỉ ( Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh B́nh )
2- Chu Diên ( Sơn Tây, vùng núi Ba V́ )
3- Vũ Ninh ( Bắc Ninh )
4- Phúc Lộc ( Miền Đồng Bằng )
5- Việt Thường ( Quảng B́nh, Quảng Trị )
6- Ninh Hải ( Quảng Yên và một phần Quảng Đông )
7- Dương Tuyền ( Hải Dương )
8- Lục Hải ( Lạng Sơn và một phần Quảng Tây )
9- Vũ Định ( Thái Nguyên và một phần đất Hoa Nam )
10- Hoài Hoan ( Nghệ An, Hà Tỉnh )
11- Cửu Chân ( Thanh Hóa )
12- B́nh Văn ( ? )
13- Tân Hưng ( Hưng Hóa, Tuyên Quang )
14- Cửu Đức ( Lưu vực sông Đà )
15- Văn Lang ( Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên )
Theo đọan sử trên th́ nước Văn Lang chia làm 15 bộ trong đó có bộ thứ 6 Ninh Hải là Quảng Yên và một phần Quảng Đông là châu Liêm, châu khâm, Hợp Phố, nay không đ̣i lại được nữa.
Bộ thứ 8 Lục Hải là Lạng Sơn với một phần tỉnh Quảng Tây đó là vùng Nam Ninh mà có lần Lỳ Thường Kiệt đánh qua.
Bộ thứ 9 Vũ Định là Thái Nguyên và một phần đất Hoa Nam. Phần đất Hoa Nam này có lẽ ăn lên đến Quư Châu. Các phần đất ấy nay đều không đ̣i lại được nữa.
Nhưng 15 Bộ của nước Văn Lang nói trên chỉ là nước Văn Lang bị thu hẹp lại vào cuối thời các Hùng Vương. Thật sự nước Văn Lang lớn hơn nhiều.
Nước Văn Lang nguyên thủy là nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương truyền lại cho Lạc Long Quân. Lạc Long Quân truyền ngôi cho Hùng Vương th́ cũng giao luôn nước Xích Quỷ. Hùng Vương đổi tên nước Xích Quỷ ra Văn Lang.
Nước Xích Quỷ ở đâu ?
Truyện Hồng Bàng viết : “Cháu ba đời Viêm Đế họ Thần Nông tên là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi rồi đi Nam tuần đến Ngũ Lĩnh, gặp được nàng con gái Vụ Tiên đem ḷng yêu mến mới cưới đem về, sinh ra Lộc Tục dung mạo đoan chính, thông minh túc thành; Đế Minh lấy làm lạ, cho nối ngôi vua; Lộc Tục cố nhường cho anh. Đế Minh lập Đế Nghi làm tự quân, cai trị Phương Bắc; phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương cai trị Phương Nam, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ Quốc.” (Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp, bản dịch Lê Hữu Mục, Huế 1960)
Đoạn trên cho ta thấy Lộc Tục được Đế Minh cho làm vua nước Xích Quỷ ở Phương Nam c̣n anh cùng cha khác mẹ Đế Nghi làm vua Phương Bắc. Phương Bắc ở vùng sông Hoàng Hà. Phương Nam ở vùng sông Trường Giang. Tên hiệu của Lộc Tục là Kinh Dương Vương nói lên Lộc Tục làm vua đất châu Kinh, châu Dương. Như thế nước Xích Quỷ ở vùng Trường Giang đúng với cương vực nước Văn Lang Bắc giáp Động Đ́nh Hồ, Tây giáp Ba Thục, Đông giáp Nam Hải, Nam giáp Hồ Tôn. Nước Văn Lang bao gồm Trường Giang thất tỉnh ( bảy tỉnh vùng Trường Giang là Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, An Huy, Chiết Giang) và Lĩnh Nam ngũ tỉnh ( năm tỉnh vùng Lĩnh Nam là Vân Nam, Quư Châu, Quảng Tây, Quảng Đông, Phúc Kiến) của nước Tàu ngày nay.
“Đế Nghi truyền ngôi cho Đế Lai cai trị phương Bắc; nhân khi thiên hạ vô sự, sực nhớ đến chuyện ông nội là Đế minh Nam tuần gặp tiên nữ, Đế Lai bèn khiến Xi Vưu tác chủ quốc sự mà Nam tuần qua nước Xích Quỷ.” (Lĩnh Nam Chích Quái, sđd.)
Thế là Đế Lai nổi máu giang hồ, bắt chước ông nội Đế Minh xuống phương Nam t́m tiên nữ, (chắc lại xuống vùng Ngũ Lĩnh là đất của Âu Việt, con gái Thái trắng đẹp nổi tiếng như tiên nữ). Không thấy nói Đế Lai có truyền ngôi cho con là Đế Ly chưa mà chỉ nói giao quyền bính cho Xi Vưu. Lúc đó Hoa tộc đă vượt sa mạc qua ngă Cam Túc vào Quan Trung rồi xâm chiếm đất Việt tộc.
“Hoa tộc dưới quyền điều động của HiênViên, tiến đánh Xi Vưu ba lần, trong đó có trận Trác Lộc (một địa điểm bên bờ sông Hoàng Hà). Trong quyển “Kỳ Môn Độn Giáp Toàn Thư” c̣n câu hát : “Ngày xưa Hoàng Đế đánh Xi Vưu, cuộc chiến ở Trác Lộc đến nay tưởng như chưa dứt : Tích nhật Hoàng Đế chiến Xi Vưu Trác Lộc kinh kim vi nhược hưu”. Từ khi Xi Vưu tử trận th́ Hoa tộc chiếm 6 tỉnh lưu vực sông Hoàng Hà để lập quốc. Hiên Viên nhờ vậy được công kênh lên làm tông tù trưởng và xưng hiệu Hoàng Đế.” (Kim Định, Việt Lư Tố Nguyên)
Tại sao Hoa tộc thắng Việt tộc, cụ Kim Định nhận định :
“1- Việt tộc ở rải rác khắp 18 tỉnh nước Tàu nên dân cư thưa thớt không
thể chống cự đoàn người du mục kết thành một đạo quân hùng mạnh.
2- Việt tộc lúc đó c̣n ở trong t́nh trạng thị tộc hay bộ lạc, chưa đạt ư thức quốc gia nên thường hay xung đột lẫn nhau, bởi vậy cháy nhà hàng xóm b́nh chân như vại.
3- V́ Việt tộc đă đạt định cư nông nghiệp sớm hơn nên Văn cao hơn mà Vơ kém….tự cổ chí kim chiến đấu lực của những dân du mục bao giờ cũng vẫn cao hơn dân tộc nông nghiệp. Hồi đó Hoa tộc c̣n sống du mục, những năm đồng khô cỏ héo họ thường lấy sự cướp bóc làm sinh họat; c̣n Việt tộc đă định cư có của tư hữu nên người đâm ra nhút nhát hiếu ḥa. V́ một hay tất cả những lư do trên mà Hoa tộc du mục đă thắng Việt tộc nông nghiệp, một việc sẽ c̣n lập lại nhiều lần về sau trong lịch sử.” (Kim Định, sđd)
Ṭan thể nước Tàu ngày xưa thuộc họ Thần Nông cai trị. Đến đời Đế Minh mới chia làm hai, cho con trưởng là Đế Lai làm vua Phương Bắc và Lộc Tục làm vua Phương Nam. Phương Bắc là lưu vực sông Hoàng Hà, Phương Nam là lưu vực sông Trường Giang. Đến khi Hiên Viên đánh Xi Vưu chiếm lưu vực Hoàng Hà th́ Phương Bắc thuộc về Hoa tộc.
Vậy th́ Phục Hy, Thần Nông là Tổ của Việt tộc. Hoa tộc vốn là thứ lai căn chẳng có gốc có tổ nên đă nhận vơ thần Nông là tổ của họ. Đó chỉ là cả vú lấp miệng em, cũng như ông Bàn Cổ là thần thọai của dân Mán cũng nhận là của họ, khi người ta thắng th́ muốn nói ǵ cũng được.
Thần Thoại Mán về ông Bàn Cổ :
Ngày xưa, thuở chưa có trời đất, chưa có mặt trời, mặt trăng soi sáng đất và nước, đầu tiên chỉ có Nhiêu Vương (tức Ngọc Hoàng) và Bàn Cổ, Bàn Cổ thành h́nh một lượt với Nhiêu Vương.
Nhiêu Vương có ba trăm sáu con mắt, Bàn Cổ có ba trăm sáu thân h́nh. Con mắt bên trái của Nhiêu Vương sinh ra Mặt Trời (Dương), con mắt bên phải sinh ra Mặt Trăng (Âm), đầu làm thành trời, chân làm thành đất. C̣n ḷai người th́ do tâm của Bàn Cổ mà sinh ra, trong đó có Bàn Vũ…”(Hoàng Trọng Miên, Việt Nam Văn Học Toàn Thư)
Trở lại vấn đề lănh thổ Văn Lang thời Lạc Long Quân truyền ngôi cho Hùng Vương. Vua Hùng Vương tiếp nhận nước Xích Quỷ rồi đổi tên nước là Văn Lang. “Chia nước làm 15 bộ là : Giao Chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Ḥai Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Quế Lâm, Tượng Quận, sai các em phân trị, đặt em thứ làm tướng vơ, tướng văn; tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng vơ gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quang (Quan) Lang, con gái gọi là Mỵ Nương, quan Hữu ty gọi là Bồ Chính, thần bộc nô lệ gọi là nô tỳ, xưng thần là khôi, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo, thay đời truyền cho nhau đều hiệu là Hùng Vương không đổi.” (Lĩnh Nam Chích Quái, sđd)
Theo đó, vua Hùng Vương chia nước làm 15 bộ rồi chia cho các em phân trị và đặt các quan văn vơ trị nước. Con trai gọi là Quang Lang, cho đến ngày nay, những họ quư tộc người Tày ở Thanh Hóa đều gọi là Lang. Dân tộc Choeng ở Quảng Tây là người Lang. Chắc họ Lang này có liên hệ đến ḍng dơi Lang, con Hùng Vương. Ḍng dơi Hùng Vương có họ Lang đời đời cha truyền con nối gọi là Tạo (Phú Tạo) mà Lĩnh Nam Chích Quái gọi là Phụ Đạo, c̣n dân gian gọi là Lang Đạo.(tước vị của quư tộc như người Anh gọi Lord, người Pháp gọi Seigneur, người Lào gọi là Thao.)
Như thế nước Văn Lang, hậu thân của Xích Quỷ dưới quyền cai trị của Hùng Vương, chia làm 15 bộ giao cho các em trông coi. Đến khi nước Văn Lang bị thu hẹp lại th́ các vua Hùng vẫn nhớ tên 15 bộ hồi c̣n cực thịnh ở vùng Trường Giang mà gọi các bộ ở vùng đất sông Hồng.
Tại sao lănh thổ Văn Lang bị thu hẹp lại ? Hiển nhiên là do các cuộc xâm lăng bành trướng của Hoa tộc. Cuộc xâm lăng đầu tiên được sử sách nói đến là do Cao Tông nhà Ân vào đời Hùng Vương thứ sáu. (Chu Dịch, quẻ Kư Tế, hào Cửu tam viết : Cao Tông phạt Quỷ Phương tam niên..) Sử ta ghi đời Hùng Vương thứ sáu Cao Tông nhà Ân xâm phạm đất Văn Lang bị Phù Đổng Thiên Vương đánh bại. Đất Quỷ Phương mà Ân Cao Tông xâm lăng là vùng Kinh, Dương nước Xích Quỷ đổi thành Văn Lang. “ Kinh là nước Sở sau này, c̣n Dương là miền sông Hoài, Châu Từ, U Việt v.v.. Chính ở vùng này mà có truyện vua Ân kéo quân xâm lăng, bị Thánh Gióng đánh phải chôn xác lại trên đất Việt, có nói trong Kinh Thư, mà các sử gia người Tàu có ư dập bớt đi.” Kim Định, Hưng Việt)
Thấy việc đem quân đánh chiếm không thành công, Hoa tộc đă dùng lối xâm thực dần dần không gây chấn động, đó là cho dân đi khai phá từ từ, chiếm đất một cách nhẹ nhàng, đồng hóa dân Việt rồi đặt bộ máy cai trị với lính tráng trấn đóng. Thế là dân Việt mất đất. Hùng Dịch với nước Sở là điển h́nh cho lối tằm ăn dâu, xâm thực độc ác đó. Cứ thế các bộ của nước Văn Lang mất dần, cho đến đời Câu Tiễn của nước U Việt th́ vùng Trường Giang mất hết. Nước Văn Lang rút về vùng Sông Hồng với 15 bộ thu hẹp.
Đến đời Hùng Vương thứ 18, nước Văn Lang mất vào tay Thục Phán An Dương Vương thành lập nước Âu Lạc. Rồi Âu Lạc bị sáp nhập vào nước Nam Việt của Triệu Đà. Triệu Đà, một viên tướng người Hoa do Tần Thủy Hoàng sai xuống làm huyện lệnh. Cũng giống như Hùng Dịch nước Sở, nước Nam Việt của Triệu Đà cũng bị Hoa tộc thôn tính. Thế là nước Văn Lang mất, Việt tộc bị Hoa tộc đô hộ suốt ngàn năm mới dành lại được tự chủ.
THỜI BẮC THUỘC.
Cũng theo Lê Quư Đôn th́ Hán Vũ Đế diệt nhà Triệu của nước Nam Việt rồi chia làm 9 quận như sau :
1- Nam Hải
2- Uất Lâm
3- Hợp Phố
4- Thương Ngô
5- Giao Chỉ
6- Cửu Chân
7- Nhật Nam
8- Châu Nhai
9- Đạm Nhĩ
Về sau nước Việt Nam ta dựng nước chỉ c̣n 3 quận : Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. C̣n 6 quận kia hăm cả vào Trung Quốc, không lấy lại được !” (Lê Quư Đôn, Vân Đài Lọai Ngữ,)
Sau Hai Bà Trưng khởi nghĩa bị Mă Viện đánh dẹp th́ nhà Hán đặt ra bộ phận Giao Châu, gồm 7 quận :
1- Nam Hải
2- Thương Ngô
3- Uất Lâm
4- Hợp Phố. Bốn quận này về sau thuộc bờ cơi Bắc Triều.
5- Giao Chỉ
6- Củu Chân
7- Nhật Nam. Ba quận này là nước Việt Nam ngày nay.
C̣n hai quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ thuộc đảo Hải Nam theo Hai Bà trưng khởi nghĩa, nhà Hán không đánh dẹp được nên không kể vào nữa.
Đến đời Tam Quốc, Ngô Tôn Quyền cho là Giao Châu quá rộng nên cắt 3 quận Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm lập ra Quảng Châu, trị sở ở Phiên Ngung. Chỉ lấy 4 quận Giao Chỉ, Nhật Nam, Cửu Chân và Hợp Phố làm Giao Châu, đặt trị sở tại Long Biên. Châu Giao, Châu Quảng chia đôi từ đó.
Nhà Tấn b́nh được nhà Ngô đặt ra Giao Châu thống trị 7 quận, 5 huyện trong đó có Hợp Phố, Giao Chỉ, Tân Xương, Vũ B́nh, Cửu Chân, Cửu Đức, Nhật Nam.
Nhà Đường lên làm vua nước Tàu, đổi Giao Châu đặt ra An Nam Đô Hộ Phủ. Tên An Nam có từ đó, gồm 17 châu, phủ. Trong các châu phủ này không c̣n có tên Hợp Phố nữa. Như thế Hợp Phố đă bị nhà Đường chiếm mất, đem sáp nhập vào Quảng Châu (Quảng Đông) đổi ra làm hai châu là Châu Khâm và Châu Liêm.
Khi Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán (938) khôi phục nền tự chủ th́ không đ̣i Hợp Phố lại được nữa. Biển Hợp Phố có nhiều ngọc trai. Chính v́ mê ngọc trai này mà Tần Thủy Hoàng đă đánh chiếm Lĩnh Nam. Hợp Phố nổi tiếng với câu “Châu về Hợp Phố”.
Tự điển Lê Văn Đức cắt nghĩa câu Châu về Hợp Phố là “Của về chủ cũ” : Dưới thời Bắc thuộc, quan Tàu bắt dân Nam ṃ hột châu ở Hợp Phố (lúc đó c̣n thuộc về đất Nam); bị hà khắc khổ sở, dân trốn đi nơi khác cả. Quan Tàu bắt lớp dân khác tới ṃ th́ không có châu. Sau thái thú Mạnh Thường bỏ lệ ấy, người xứ đó trở về, th́ châu cũng có lại và nhiều hơn trước.
Truyện Mỵ Châu Trọng Thủy có liên quan đến ngọc trai Hợp Phố. Truyện kể Mỵ Châu nghe lời ngon ngọt của Trọng Thủy đem nỏ thần ra để Trọng Thủy đánh tráo đồ giả vào. Triệu Đà đem quân qua đánh, An Dương Vương bị thua phải đem Mỵ Châu chạy ra biển Đông. Thần Kim Quy hiện ra bảo giặc ngồi đàng sau, nh́n lại chỉ thấy Mỵ Châu, An Dương vương chém Mỵ Châu rồi nhảy xuống biển tự vận. Máu Mỵ Châu chảy xuống biển, trai uống vào mang ngọc trong ḿnh. Trọng Thủy t́m Mỵ Châu không thấy nhảy xuống giếng tự vận. Những người ṃ ngọc trai đem rửa nước giếng Trọng Thủy th́ ngọc sáng ngời lên. Giếng Trọng Thủy ngày nay vẫn c̣n ở đền thờ An Dương Vương, làng Cổ Loa, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên.
THỜI TỰ CHỦ
Từ khi dành được tự chủ, qua các đời Ngô, Đinh, Lê th́ vấn đề biên giới không thấy đề cập đến, có lẽ các vua ta thời đó đặt nặng việc củng cố quyền hành, ổn định đất nước trước khi nghĩ đến đ̣i đất. Từ nhà Lư về sau th́ có nhiều tranh chấp về biên giới.
Thời nhà Lư trị v́ (1010), bên Tàu là nhà Tống, có Vương An Thạch làm tể tướng đưa ra nhiều cải cách để làm giàu và mạnh cho nhà Tống. Lúc đó, tại vùng biên giới giữa ta và nhà Tống đang có sự lôi kéo các tù trưởng lệ thuộc nhà Lư theo vế nhà Tống. Vương An Thạch quyết định đánh chiếm Giao Chỉ, một phần để nâng cao uy tín, một phần để mở mang về Nam lấy nguồn tài nguyên chống với Liêu, Hạ phương Bắc. Triều nhà Lư biết âm mưu đó quyết định ra tay đánh trước.
Lư Thường Kiệt chia quân làm hai đạo, một tiến đánh đường biển, một tiến đánh đường bộ. Đường biển do chính Lư Thường Kiệt cấm đầu tiến đánh hai châu Liêm và Khâm (Hợp Phố) rồi thẳng đường lên đánh Ung Châu. Đường bộ do tướng Tôn Đản cầm đầu tiến đánh thẳng vào Ung Châu. Hai đạo quân phối hợp vây Ung Châu (nay là Nam Ninh), vào ngày 18-1-1076, đến ngày 1-3-1076 thành Ung Châu bị hạ, tướng giữ thành là Tô Giàm tự sát, quân dân trong thành không chịu hàng bị quân Lư giết hết, tính ra có đến 70 ngàn người bị giết, bị bắt hơn 200 người đem về Đại Vịêt với nhiều của cải.
Nhà Tống bị quân ta tấn công nên giận hết sức, sai Triệu Tiết và Quách Quỳ đem tám vạn quân phối hợp với Chiêm Thành, Chân Lạp tấn đánh nước ta. Lư Thường Kiệt đem quân chận ở sông Như Nguyệt (Bắc ninh). Quân Chiêm Thành và Chân Lạp cũng bị chận đứng ở phía nam nên không giúp ǵ được cho quân Tống.
Để nâng cao tinh thần chiến đấu cho quân sĩ, Lư Thường Kiệt đă áp dụng thuật tâm lư chiến, cho người vào đền Trương Hát bên sông thét ra bài thơ được coi như bản tuyên ngôn Độc Lập (bảo rằng do thần cho) :
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
(Đại ư rằng : Đất nước của người Nam phải do người Nam (vua nuớc Nam) cai trị. Điều đó đă do ư trời định. Kẻ nghịch dám xâm phạm đất ta, chỉ là mua lấy thảm bại mà thôi.)
“Quân lính nghe đọc mấy câu thơ ấy, ai nấy đều nức ḷng đánh giặc, quân nhà Tống không tiến lên được. Hai bên cứ chống giữ nhau măi. Lư triều sợ đánh lâu không lợi, bèn sai sứ sang Tống xin hơan binh. Vua Tống thấy quân ḿnh không tiến lên được, mà lại đóng ở chỗ chướng địa, quân sĩ trước sang hơn 8 vạn, sau chết quá nửa, cho nên cũng thuận hơan binh lui về.” (Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược)
Lê Quư Đôn dẫn sách Nhị Tŕnh Di Thư của Tŕnh Di viết về chiến sự Tống Việt có đọan như sau : “…Quân (Tống) kéo vào đất giặc sâu qúa, dùng bè chở 500 quân sang sông, vừa đẵn tre, vừa đốt phá trại rào bằng tre, mà mấy lần không được, lại chở bè không về, đem viện binh sang, th́ lại bị giặc hợp binh bắt giết. Quân ta không có quân cứu, hoặc chết hoặc trốn, nên không thành công. Chỉ tranh nhau có 50 dặm đất mà sau lại muốn đem quân sang đánh, nhưng thuyền không có mà qua sông, lương cũng không đủ để đóng giữ. Tính toán sai lầm chưa hề thấy có. May được bên địch nói nhũn, bèn vịn vào đó mà giảng ḥa. Giả thử, đối phương bướng bỉnh, th́ không biết xử sự làm sao ? Về trận này, quân chở lương chết mất 8 vạn, quân chiến đấu ngă nước chết mất 11 vạn. C̣n sống sót trở về là 28.000 người, nhưng phần nhiều đều bị ốm đau cả. Lại c̣n, trước kia bị giặc giết mất mấy vạn. Tính ra , tất cả không kém 30 vạn người. Sao ngu dốt mưu cơ đến thế !” (Lê Quư Đôn, Vân Đài Lọai Ngữ)
Rút quân về, nhà Tống cho quân chiếm đóng mấy châu của ta, đó là : Châu Quảng Nguyên, (nay là Quảng Uyên, Cao Bắng), châu Tư Lang ( tức châu Thượng Lang và Hạ Lang, Cao Bằng), châu Tô Mậu (giữa hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn) và huyện Quảng Lang (tức Ôn Châu thuộc Lạng Sơn).
Năm 1078 (Mậu Ngọ) vua Lư Nhân Tông cho sứ thần là Đào Tôn Nguyên đem 5 con voi sang nhà Tống đ̣i lại những châu thuộc Cao Bằng về cho Đại Việt. Tống rút quân rồi th́ người Tàu tiếc của v́ châu Quảng Nguyên có mỏ vàng nên có câu thơ :
Nhân tham giao Chỉ tượng
Khước thất Quảng Nguyên kim.
Năm 1084, Triều Lư lại cho Binh bộ Thị lang Lê Văn Thịnh sang đ̣i nhà Tống trả nốt mấy châu c̣n lại. Trong cuộc tranh luận giữa sứ thần Lê Văn Thịnh và nhà Tống, sử Tàu c̣n ghi lại lư luận của Lê Văn Thịnh : “ Nơi nào quân thiên triều chiếm đóng trong cuộc chiến th́ nay mới trả lại. C̣n những nơi các tù trưởng tự ư dâng nạp cho Tống th́ không liên quan ǵ đến việc tranh chấp mà phải bàn tới.” Chánh sứ Lê Văn Thịnh đă trả lời một câu sắc sảo làm nhà Tống phải cứng họng : “Đất có chủ. Bọn tù trưởng coi cho chủ, đem đất đi dâng cho người khác là bọn ăn trộm. Sao thiên triều lại giữ đất ăn trộm để làm nhơ sổ sách của nhà vua ?”
Thế là Đại Việt đă đ̣i lại được hết các châu huyện bị quân Tống chiếm giữ. Đó là thắng lợi ngọai giao có sự hậu thuẫn của binh hùng tướng mạnh. Ngoài ra các vùng Hải Ninh, Móng Cáy đến Khâm Châu, đến Ôn Châu, đến Ung Châu hai bên Lư Tống cùng kiểm sóat. Địa thế Việt Nam hồi đó như ôm đất Ung Châu v́ biên giới chưa phân định rơ rệt nên hay có cuộc rắc rối giữa hai nước.
Như ta biết đất Hợp Phố của Văn Lang mất do việc nhà Đường cắt để nhập vào đất Quảng Châu thành lập 2 châu Khâm và Liêm. Theo truyền thuyết dân gian th́ nơi ranh giới giữa nước ta và Tàu là nơi có đồi cỏ “Phân Mao Cỏ Rẽ”, nơi đó có cột đồng do Mă Viện cướp trống đồng của ta đúc ra, cắm làm biên giới với câu thề “Đồng trụ chiết Giao Chỉ diệt” (Cột đồng mà găy th́ Giao Chỉ bị diệt). Thế mà nay đồi cỏ rẽ, cột đồng đều nằm cả nơi đất Tàu !
Theo sách “Đại Thanh Nhất Thống Chí” th́ : “Đèo Phân Mao ở động Cổ Sâm, cách Khâm Châu 3 dặm ở phía tây”. Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” viết : “Mă Viện nhà Hán lập cột đồng ở dưới, chia địa giới với nước ta, đỉnh núi có sân cỏ tranh, ngọn cỏ chia hướng về nam và bắc, đến nay vẫn thế. Bản đồ năm Hồng Đức thứ 21 gọi là xứ Yên Bang. Năm Nguyên Ḥa thứ 8, nhà Mạc lại đem 4 động Tư Lẫm thuộc châu Tĩnh Yên nộp về nước Minh : “Xin nộp các động Tư Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, Yên Lăng, La Phù thuộc châu Tĩnh Yên ở trấn Yên Quang nguyên thuộc về Châu Khâm”.
Như thế tuy Hợp Phố đă mất về Tàu, nhưng vẫn lấy đồi Phân Mao thuộc động Cổ Sâm chỉ cách Châu Khâm có 3 dặm làm ranh giới. Đáng lư đất Việt Nam c̣n rộng thêm hàng trăm cây số nhưng Mạc Đăng Dung v́ lo củng cố ngai vàng mà dâng cho nhà Minh một vùng rộng lớn, để ranh giới lùi măi xuống Móng cáy ngày nay.
Đời nhà Hồ, cũng bị mất một số đất cho nhà Minh. “Nhà Minh yêu cầu lấy đất Lộc Châu thuộc Lạng Sơn. Quư Ly sai Hoàng Hối Khanh làm Cát địa sứ, lấy 59 thôn Cổ Lâu trả về cho Minh, (Thổ quan Quảng Tây Hoàng Quảng Thành bảo rằng : “Lộc châu là đất cũ của phủ Tư Minh”), Quư Ly thấy số đất trả lại nhiều quá; phàm thổ quan do Minh bổ đến th́ mật sai ở đấy đánh thuốc độc giết đi.” (Ngô Thời Sỹ, Việt Sử Tiêu Án)
Vùng đất địa đầu Lạng Sơn này có nhiều tranh chấp từ các triều trước. Sử nhà Minh nói : “Cuối đời Nguyên loạn lạc, người Giao Chỉ đem quân đánh phà trại Vĩnh B́nh, bèn vượt qua Đồng trụ hơn 200 dặm lấn cướp 5 huyện Khâu Ôn, Như Ngao, Khánh Viễn, Uyên và Thoát thuộc phủ Tư Minh, mà người Giao Chỉ nói là thuộc địa giới Đồng trụ, rồi lập trạm ở đấy, xin sắc cho An Nam trả lại đất cũ để cho cương vực được chính xác. Minh Thái Tổ sai hành nhân là Trần Thành và Lữ Nhượng sang bàn luận qua lại măi không quyết, việc bèn thôi.” (Đại Nam Nhất Thống Chí)
Nhà Minh tranh với nhà Lê không được, nhân Hồ Quư Ly thoán đoạt nên lợi dụng cơ hội bắt phải nhuợng đất.
Vùng biên giới phía bắc giáp Tàu này, nước Việt Nam sẽ c̣n bị mất thêm đất vào thời Pháp thuộc khi Pháp-Thanh phân định biên giới cũng như Việt cộng noi gương Hồ Quư Ly, Mạc Dăng Dung dâng đất cho Trung cộng để củng cố chế độ.
Vùng Tây Bắc, ranh giới giữa Việt Nam và tỉnh Vân Nam nước Tàu cũng có nhiều tranh chấp.
Đến cuối đời nhà Mạc, ông vua cuối cùng này lại dâng đất cho Tàu. Nguyên Mạc Kính Khoan ra hàng nhà Lê (Chúa Trịnh), được phong tước Thái Úy Thông Quận Công và cho giữ đất Cao Bằng. Nhưng con là Mạc Kính Hoàn không chịu cống bị Chúa Trịnh Tạc đem quân đánh phải chạy qua Tàu nương nhờ Ngô Tam Quế và dâng 3 động Ngưu Dương, Hồ Điệp và Phổ Viên. Khi nhà Thanh đánh Ngô Tam Quế bắt được Hoàn đem giao nhà Lê và trả lại 3 động. ( Khang Hy thứ 28, năm 1689). Nhưng sau đó thổ mục là Vi Phúc Liêm nhận của đút lót của nhà Thanh mà đem đất 3 động ấy lệ thuộc vào nước Tàu. Đến đời Lê Bảo Thái,ta đ̣i quá, người Tàu sợ có chiến tranh giữa hai nước nên mới trả lại mỏ đồng Tụ Long, lấy sông Đỗ Chú làm ranh giới. Cuộc tranh chấp c̣n gay go, ta sẽ trở lại khi nói về việc phân định biên giới thời Pháp thuộc.
Vùng biên giới giữa ta và Tàu phần nhiều là các dân tộc thiểu số như Thái, Tày, Nùng, Dao, Mèo, Mán…cư ngụ, Các tù trưởng, thổ mục (phụ đạo, phú tạo, Lang đạo) của các dân tộc này tùy theo các yếu tố ngoại tại chi phối mà lúc th́ thần phục triều đ́nh Việt Nam lúc lại thần phục nước Tàu. V́ thế mà nhiều vùng đất đang do Tàu kiểm soát lại trở lại thuộc về ta và trái lại. Tỉnh Hưng Hóa thời đó rất rộng bao gồm suốt dải đất Tây Bắc giáp ranh với tỉnh Vân Nam nước Tàu và phấn nhiều do người thiểu số cư ngụ. Tỉnh này có phủ An Tây giáp với Vân Nam bao gồm 10 châu : Tung Lăng, Hoàng Nham, Hợp Ph́, Lễ Tuyền, Tuy Phụ, Khiêm, Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai, Lai Châu và Luân Châu. Vùng đất này xẩy ra nhiều tranh chấp giữa ta và Tàu.
Đời Lê Cảnh Hưng (1740-1788) tù trưởng Hoàng Công Thư (tức Chất) chiếm cứ động Mănh Thiên, nhà Lê b́nh định được động Mănh Thiên, con Công Thư là Công Toản chạy sang nương náu ở Vân Nam đem 6 châu là Tung Lăng, Hoàng Nham, Hợp Ph́, Lễ Tuyền, Tuy Phụ và Khiêm lệ thuộc vào nhà Thanh, đặt làm động Lục Mănh. Nhà Lê đ̣i nhà Thanh trả lại rồi nhà Tây Sơn lên cũng đ̣i trả lại, nhưng đều bị nhà Thanh từ khước không chịu trả lại. Lúc Gia Long lên ngôi Tổng trấn Nguyễn Văn Thành dâng sớ lên Gia Long đ̣i 6 châu đă mất : “Vua lấy cớ là lúc bắt đầu khai sáng, chưa vội lo nghĩ đến việc phương xa, việc này bèn bỏ đấy. V́ thế 6 châu bị mất về nước Thanh, không thể khôi phục được” (Đại Nam Nhất Thống Chí) Thời Pháp thuộc, khi phân định biên giới, người Pháp cũng bỏ qua việc đ̣i lại 6 châu này. Thế là ta mất thật sự 6 châu đó.
Phủ An Tây, sau này là tỉnh Lai Châu, chỉ c̣n có 4 châu là Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai, Lai Châu và Luân Châu (Luân Châu sau sáp nhập vào châu Điện Biên Phủ). Bốn châu c̣n lại làm thành tỉnh Lai Châu. Sáu châu mất đi, nếu c̣n lại sẽ làm thành một tỉnh khác nữa. Thế là ta mất toi một tỉnh cho Tàu !
Biên cương lănh thổ nước Văn Lang rồi Âu Lạc không hẳn là như ngày nay. Không nói đến lănh thổ thời Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân hay thời Hùng Vương thứ nhất mà chỉ nói đến nước Văn Lang thu hẹp dưới thời các Hùng Vương cuối cùng và nước Âu Lạc của An Dương Vương, sau khi bị Triệu Đà sáp nhập vào Nam Việt, rồi dưới thời Bắc thuộc th́ đă bị cắt xén mất nhiều phần cho nước Tàu.
Ông Đào Duy Anh xác định về biên giới nước Âu Lạc : “Chúng ta có thể căn cứ vào phạm vi của các quận Giao Chỉ và Cửu Chân thời Hán mà nhận định phạm vi của nước Âu Lạc. Nước Âu Lạc đại khái là tương đương với miền Bắc nước ta hiện nay và khi nghiên cứu về phạm vi quận Giao Chỉ, chúng ta sẽ thấy quận Giao Chỉ lấn sang một phần đất tỉnh Quảng Tây đến phía nam sông Tả Giang, như thế phía bắc nước Âu Lạc cũng phải lấn vào miền nam tỉnh Quảng Tây ngày nay.” (Đào Duy Anh, Việt Nam Văn Hóa Sử Cương)
Biên giới Việt Nam được bộ Hồng Đức bản đồ thực hiện dưới triều vua Lê Thánh Tôn (1460-1497) ghi : “An Nam đồ thuyết: An Nam chi địa, Tây khóa Ai Lao, Đông chí Hải tận, Bắc du Lưỡng Quảng, Nam khống Chiêm Thành.” (Những ǵ ghi trên bản đồ An Nam : Đất đai An Nam, phía Tây bước ngang Ai Lao, phía Đông chạm đến tận Biển, phía Bắc vượt quá hai xứ Quảng, phía Nam ḱm chế Chiêm Thành)
Biên giời bốn phía được xác định bằng các động từ : “khóa Ai Lao”, “Hải tận”, “Khống Chiêm Thành”, “Du Lưỡng Quảng”. Du Lưỡng Quảng, có nghĩa là biên giới phía Bắc của nước ta vượt qua khỏi Quảng Đông, Quảng Tây, tức là lên đến Ngũ Lĩnh, đến tận Hồ Động Đ́nh.
(Hết Phần IV)