LĨNH NAM : CUỘC CHIẾM ĐẤT LẦN THỨ TƯ.
Sau khi Câu Tiễn mất (465 TCN), con cháu kế vị tranh quyền lẫn nhau, các phe phái trong hoàng tộc đánh nhau để mỗi người chiếm một vùng xưng vương xưng bá. Lúc đó, nước Việt đă yếu lắm rồi, các phần đất do Câu Tiễn chiếm được đă bị Sở chiếm mất, chỉ c̣n lại vùng Chiết Giang. Đến năm 333 TCN, nước Việt ḥan ṭan bị Sở thôn tính.
Do đó dân Việt bị phân tán đi các nơi, di cư về vùng Đại Ngũ Lĩnh hay chạy qua các hải đảo, Đài Loan, đi Nhật Bản, đi Đại Hàn, xuống Hải Nam, Phi Luật Tân,Văn Lang, Chiêm Thành. Họ xuống tới tận Mă Lai, Indonesia và vượt biển tới Mă Đảo (Madagascar, Phi Châu).
Họ cũng lập quốc ở nam Chiết Giang, Phúc Kiến.V́ có rất nhiều tiểu quốc do Việt tộc thành lập nên được gọi là Bách Việt. Trong các nước Bách Việt, có mấy nước sử sách nhắc đến như Đông Âu (ở vùng Ôn Châu, Chiết Giang), Mân Việt (Phúc Kiến), Nam Việt (Quảng Đông), Tây Âu (Quảng Tây), Dạ Lang (Quư Châu), Văn Lang (Lạc Việt, Bắc Việt). Các nước này phần nhiều đều nằm dưới Ngũ Lĩnh. Ngũ Lĩnh là dăy núi nằm chắn ngang gần như chia ba nước Tàu, từ Ba Thục ra tới Phúc Kiến. Ngũ Lĩnh gồm có năm dăy núi là Đại Dữu, Thủy An, Lâm Hạ, Quế Dương và Yết Dương. Các nước nằm dưới Ngũ Lĩnh gọi là Lĩnh Nam.
Nước Sở vừa diệt nước Việt xong th́ bị nước Tần thôn tính. Tần Thủy Hoàng gồm thâu lục quốc xong rồi mà chưa phỉ chí lại muốn thôn tính các nước Việt ở vùng Lĩnh Nam v́ thấy dân Bách Việt có nhiều quư vật như sừng tê, ngà voi, lông chim trả, ngọc trai, ngọc cơ. Tần Thủy Ḥang sai Đồ Thư đem năm mươi vạn quân (500.000) vượt Ngũ Lĩnh xuống đánh Bách Việt đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận rồi bắt bọn lưu vong, rể thừa, bọn lái buôn tới thực dân ở đó. Tần Thủy Ḥang cố ư cấy người để đồng hóa người Việt kiểu như Nhà Chu cho Hùng Dịch vào Kinh Việt đồng hóa dân Việt ở nước Sở.
Quế Lâm nay là huyện Minh Quư thuộc tỉnh Quảng Tây, Nam Hải là tỉnh Quảng Đông, Tượng Quận thuộc tỉnh Quảng Tây. Dân Việt ở đó là dân Thái tức chi Âu của ḍng Việt tộc. Ngày nay người Quảng Đông, Quảng Tây vẫn gọi hai tỉnh này là Việt Đông, Việt Tây hay Lưỡng Việt. Người Quảng cũng gọi là Việt nhân. (Từ Hải trong truyện Kiều là người Quảng Đông : “Đội trời đạp đất ở đời, họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông”)
Nhưng dân Việt ở Tây Âu (Quảng Tây) có tinh thần bất khuất không chịu ách đô hộ của Hoa tộc, rút vào rừng tổ chức kháng chiến đánh cho quân Tần nhiều đ̣n chí tử. Tần Thủy Ḥang gọi dân Việt ở đây là Lục Lương có nghĩa là dân cứng đầu. Phần đất gọi là Lục Lương đó là đất của người Choeng, tức là người Chàng, người Lang ngày nay tại tỉnh Quảng Tây và là khu tự trị dân số lên đến vài chục triệu người.
Vua đất Tây Âu là Trạch Hu Tống cầm đầu cuộc kháng chiến bị quân Tần của Đồ Thư giết. Quân Việt rút vào rừng, cứ đêm tối lại ra tập kích quân Tần. Quân Tần bị sát hại rất nhiều, chính Đồ Thư cũng bị giết. Cuộc kháng chiến kéo dài mười năm sát hại quân Tần trên hai mươi vạn ngừơi (200.000) phần bị giết, phần v́ lam sơn chướng khí mà chết. Quân Tần thấy bị tổn thất quá nặng đành phải bỏ ư định thôn tính phần đất này.
Tần Thủy Hoàng thống nhất nước Tàu và đánh chiếm Lĩnh Nam, ở ngôi được 21 năm. Con là Tần Nhị Thế lên ngôi th́ có loạn Trần Thắng nổi lên chống chế độ tàn bạo. Triệu Đà là một huyện lệnh ở Nam Hải lợi dụng nhà Tần có loạn tự xưng vương, đổi hai quận Quế Lâm và Nam Hải thành nước Nam Việt.
Đây là lần thứ tư Hoa tộc xâm chiếm đất của Việt tộc.
NƯỚC VĂN LANG, NƯỚC ÂU LẠC.
ĐẾ QUỐC NAM VIỆT.
Đời Hùng Vương thứ 18, nước Văn Lang bị thu hẹp chỉ c̣n phía bắc có Hợp Phố, Liêm Châu, Khâm Châu, phía nam giáp Lâm Ấp. Kinh đô đóng tại Nghĩa Lĩnh, tỉnh Phú Thọ ngày nay. Thời nhà Đường gọi vùng đất này là Phong Châu.
Lúc đó nước Thục đă bị nước Tần Chiếm. Vua Thục bị giết, con cháu và hàng quư tộc chạy trốn vào đất Sở. Nhưng đất Sở của người Việt đă bị Hoa tộc cai trị và đồng hóa nên nhóm lưu vong Thục lại phải chạy xuống đất Lĩnh Nam. Tại đây, dân Thục vốn là chi Âu tức Thái gặp người đồng chủng chi Âu đang lập quốc ở đây nên họ dễ được cảm thông đón nhận. Tuy nhiên dân Thục lưu vong là những nhà quư tộc, binh sĩ nên không tan lơang vào dân Thái ở Lĩnh Nam. Họ sống biệt lập, dân địa phương gọi họ là Khách Gia (Hakka) c̣n họ tự xưng là Hẹ (Hecka). (Dân chi Âu Việt, tứcThái có làn da thật trắng, người Quảng Đông là dân Thái nên có làn da trắng. Thấy người Quảng có nước da trắng ta cứ tưởng người Tàu đều có da trắng. Thật sự không phải vậy, người Hoa chính tông ở miền Bắc có làn da ngăm ngăm đen. Ngày nay nhiều người Quảng Đông cứ tự nhận ḿnh là người Hoa. Họ đă quên gốc Việt tộc chi Thái. Người Quảng đă có một số lai Hoa nhưng chỉ là những người ở thành phố, c̣n dân ở thôn quê vẫn c̣n giữ nguyên bản chất Thái.)
Về truyện quên gốc này, xin được kể lại câu truyện khá lư thú do cụ Ḥang Văn Chí ghi lại : “Hồi Cụ Phan Bội Châu mới sang Tàu, một nhân sĩ Tàu là Dương Giác Đôn, đưa Cụ đến yết kiến một viên đại thần của triều đ́nh Măn Thanh, tên là Trang Uẩn Khoan. Vị đại thần tiếp đăi rất tử tế và biếu Cụ một món tiền trợ cấp. Sau khi Cụ ra về, Trang Uẩn Khoan bảo Dương Giác Đôn : “Người An Nam có bản tính nô lệ (nô lệ căn tính), dù có vài chí sĩ như ông này (chỉ Cụ Phan) cũng chẳng làm nên tṛ trống ǵ”.
Sau cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911) và sau khi nhường chức Tổng thống cho Viên Thế Khải, ông Tôn Văn (Tôn Dật Tiên) sang viếng thăm Nhật Bản, với tư cách là đảng trưởng Quốc Dân Đảng Trung Hoa, và được ông Khuyển Dưỡng Nghị (Inukai Tsuyoshi) đảng trưởng Quốc Dân Đảng Nhật, thết tiệc khỏan đăi. Giữa bữa tiệc, lừa khi ông Tôn Văn bất ư, ông Khuyển Dưỡng Nghị đột nhiên hỏi : “Tôi được biết tiên sinh đă có dịp qua Hà Nội, xin tiên sinh cho biết tôn ư về dân tộc An Nam ?” Bị hỏi một cách bất th́nh ĺnh, ông Tôn Văn chỉ kịp nhớ lại câu của Trang Uẩn Khoan, vội vàng đáp : “Ngườ An Nam vốn nô lệ căn tính. Ngày xưa, họ bị người Hán chúng tôi đô hộ, ngày nay họ lại bị người Pháp cai trị. Dân tộc ấy quả không có tương lai”. Được dịp, Khuyển Dưỡng Nghị liền nói : “Về điểm này tôi xin phép không đồng ư với tiên sinh. Ngày nay họ thua người Pháp, v́ họ không có khí giới tối tân, nhưng cứ xét lịch sử, th́ trong số Bách Việt, chỉ có họ là thóat khỏi, không bị Hán hóa. Tôi tin rằng một dân tộc biết tự bảo vệ một cách bền bỉ như vậy th́ thế nào cũng sẽ lấy lại được quyền tự chủ”. Tôn Văn đỏ mặt, v́ hiểu ư Khuyển Dưỡng Nghị muốn châm chọc, cho rằng Tôn Văn là người Quảng Đông, tổ tiên l người A Khách, một sắc tộc trong Bách Việt, nhưng kém xa dân tộc Việt Nam, v́ đă bị Hán hóa ḥan ṭan.
Sau bữa tiệc, Khuyển Dưỡng Nghị gọi giây nói mời mấy học sinh người Việt do ông bảo trợ, để kể cho họ câu truyện, tỏ ư hớn hở đă thắng Tôn Văn trong cuộc đối thọai. Trong số mấy người được Khuyển Dưỡng Nghị mời đến và thuật lại câu truyện có cụ Sở Cuồng Lê Dư, hồi ấy theo Cụ Phan sang Nhật du học. Chính cụ Sở Cuồngkể câu truyện đó cho chúng tôi nghe. (Ḥang Văn Chí, Từ Thực Dân Đến Cộng Sản)
Lưu dân Thục xuống tới Lĩnh Nam ít lâu th́ quân Tần đánh xuống. Việc nhà Tần đánh Lĩnh Nam, sách Hoài Nam Tử viết như sau : “Khoảng năm 221 trước Công Nguyên, giữa lúc toàn thịnh nhà Tần, Tần Thủy Ḥang dùng bọn lưu vong, rể thừa và lái buôn làm lính đánh xuống miền Nam là nơi sinh tụ của người Bách Việt. Quan Hiệu Úy Đồ Thư đem quân lâu thuyền cùng Sử Lộc đào sông vận lương đi sâu vào đất Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương, Quế Lâm (nay là hyuện Minh Quư tỉnh Quảng Tây), Nam Hải (Quảng Đông), sau khi đă diệt được nhóm Đông Âu và Mân Việt. Đến lượt Tây Âu cũng bị xâm lăng của đạo quân viễn chinh Tần. Tù truởng Tây Âu là Dịch Hu Tống bị hại, nhưng ở đây quân Tần vấp phải sức kháng cự dẻo dai của người Tây Âu. Người Việt (Tây Âu) rút vào rừng sống cùng cầm thú và cứ đêm tối lại đem quân ra tập kích quân Tần. Cuộc kháng chiến kéo dài 10 năm. Sau quân Tần chết rất nhiều, Đồ Thư bị hại, quân Tần hao tổn vài chục vạn (200.000), phần v́ không chịu được lam sơn chướng khí, phần bị giết. Tần triều đành ngừng lại và thiết lập bộ máy cai trị ở các miền đất đai đă lấy được lập ra ba quận Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận.”
Tù trưởng Trạch Hu Tống bị quân Tần hại, dân Việt đă cử người Kiệt Tuấn lên lănh đạo cuộc kháng chiến. Người Kiệt Tuấn được đề cử này là ai? Theo sách “Quảng Đông và Giao Châu Ngoại Vực Kư” th́ đó chính là Thục An Dương Vương. Thục An Dương Vương tên là Thục Phán, một người ḍng dơi vua Thục lưu vong, sử ta gọi là con vua Thục. Thục Phán lợi dụng lúc quân Tần suy vong mà sáp nhập nước Văn Lang của vua Hùng Vương thứ 18 vào Tây Âu lập ra nước Âu Lạc và xưng hiệu là An Dương Vương. (237 TCN). An Dương Vương rời đô về vùng Phúc Yên và xây thành Cổ Loa. Thục An Dương Vưong dạy cho dân Việt lấy tre làm nỏ, tên bịt đồng bắn ra nhiều phát liên tiếp (truyện nỏ thần bắn ra một phát hàng trăm mủi tên), lại biết lấy đất làm lũy làm thành ngăn giặc. Trong lúc nhà Tần đă gồm thâu 6 nước thống nhất thiên hạ Trung Hoa, dẹp bỏ mọi cơ cấu phong kiến hùng cứ địa phương để đặt thành quận huyện dưới quyền cai trị trung ương tập quyền của một ông vua là Tần Thủy Hoàng. Đối ngọai, phía bắc xây dựng Vạn Lư Trường Thành ngăn giặc Hung Nô, phía nam khuất phục các phiên bang hùng mạnh. Với sức mạnh kinh khủng, với quân số nửa triệu, Tần Thủy Ḥang quyết nuốt trọn miền Lĩnh Nam. Thế mà Thục Phán dám dùng sức châu chấu đá voi chống với một đế quốc hung hăn ngăn bước tiến của đoàn quân viễn chinh Tần, tinh thần đó của Thục Phán thật đáng khen đáng phục.
Về Thục An Dương Vương có nhiều người cho rằng An Dương Vương không phải là người Thục nhất là càng không phải thuộc ḍng dơi các vua Thục ở đất Ba Thục. Theo Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược th́ : “Nhà Thục chép trong sử nước ta không phải là nước Thục bên Tàu v́ rằng cứ theo sử nước Tàu th́ đời bấy giờ đất Ba Thục (Tứ Xuyên) đă thuộc về nhà Tần cai trị rồi, th́ c̣n có vua nào nữa. Vả lại sử lại chép rằng khi Thục vương Phán lấy được nước Văn Lang th́ đổi quốc hiệu là nước Âu Lạc gồm cả nước Thục và nước Văn Lang. Song xét trong lịch sử không thấy đâu nói đất Ba Thục thuộc về Âu Lạc. Huống chi lấy địa lư mà xét th́ từ đất Ba Thục (Tứ Xuyên) sang đến Văn Lang (Bắc Việt) cách bao nhiêu đuờng đất và có bao nhiêu núi sông ngăn trở, làm thế nào mà quân nhà Thục sang lấy nước Văn Lang dễ dàng như vậy?”
Phe cho rằng Thục Phán đích thị là người đất Ba Thục lưu vong tị nạn từ Ba Thục xuống Tây Âu khi bị nhà Tần dánh chiếm, mà Thục Phán lại đích thị là con cháu thuộc ḍng dơi vua Thục. Ông B́nh Nguyên Lộc cho rằng :
“1- Sử Tàu có chép truyện “Con vua Thục cướp nước của vua Lạc Vương”
2- Khám phá của các nhà chủng tộc học Tây phương rằng cổ Ba Thục là dân Thái, rồi tiếp theo đó nhà bác học Trung Hoa La Hương Lâm xác nhận khám phá trên không c̣n chối cải được rằng An Dương Vương là con vua Thục.
3- Tả Truyện chép rằng sau khi Tư Mă Thác diệt nước Thục th́ dân Thục bỏ xứ, sang nước Ba rồi tràn vào nuớc Sở, nhưng không phải xâm lăng mà là để đi đâu nữa không biết.
4- Họ đi xuống dưới, qua Quư Châu, không ở lại Quư Châu v́ đó là đất đai núi non nghèo khó, khí hậu lại xấu. Họ đi xuống đất Tây Âu là nơi mà dân chúng là Thái như họ. Như thế không quá xa như ta tưởng tượng.”
Nhóm lưu vong Thục xuống tới Tây Âu ít lâu th́ nhà Tần đánh xuống Lĩnh Nam. Dân Thục bị Tần cướp nước, chạy xuống đây lại bị đuổi theo, họ liền sát cánh với dân Tây Âu chặn đánh quân Tần. Đây là dịp để dân Thục rửa hờn, đánh bọn xâm lăng đă cướp nước họ. Họ đánh rất hăng, chặn đứng mọi cuộc tấn công của quân Tần. Trạch Hu Tống, lănh tụ kháng chiến của dân Tây Âu bị giết th́ Thục Phán được đề cử lên lănh đạo cuộc kháng chiến. Cuộc kháng chiến kéo dài mười năm. Thục Phán dùng 1ối đánh du kích, ban ngày rút vào rừng xâu nghỉ ngơi, đêm kéo quân ra tập kích địch. Lối đánh này làm cho quân Tần hao kiệt mỏi mệt, giết chết trên hai trăm ngàn quân và chính tướng chỉ huy là Đồ Thư cũng bị giết. Tần Thủy Ḥang đành bỏ ư định thôn tính Tây Âu.
Thục Phán là con của ông vua Thục lưu vong, nhân cơ hội được hưu chiến này, đă đem quân đánh Hùng Vương thứ 18, trả thù cho cha đă bị vua Hùng từ chối cuộc cầu hôn với Mỵ Nương, con gái vua Hùng. (Có lẽ truyện Sơn Tinh và Thủy Tinh bắt nguồn từ cuộc cầu hôn này mà Thủy Tinh là vua Thục c̣n Sơn Tinh là Nguyễn Tuấn, thần núi Ba V́). Thục Phán giết Hùng Vương thứ 18 rồi sáp nhập nước Văn Lang với Tây Âu lấy quốc hiệu là Âu Lạc lên làm vua xưng là An Dương Vương.”
Dân nước Văn Lang vốn thuộc chi Lạc của Việt tộc (AustroAsian, Nam Á) được bổ xung của dân Việt (Câu Tiễn) chạy xuống khi bị Sở Xâm lăng (chi U Việt thuộc ḍng Austronesian) nay lại được chi Âu (Thái) tăng cường. Kể từ khi Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ chia tay kẻ chiếm lĩnh vùng biển, người khai thác vùng núi non, nay mới lại có dịp họp mặt. Cuộc họp mặt trong ḥan cảnh đau thưong của ḍng tộc Việt trước cuộc xâm lăng của Hoa tộc do Tần Thủy Hoàng cầm đầu.
Khi đó ở bên Tàu, nhân lúc Tần Thủy Hoàng chết, nhiều người nổi lên chống lại chế độ hà khắc của nhà Tần. Có hai nhân vật người nước Sở đáng chú ư nhất là Hạng Vơ và Lưu Bang. Hai người này đánh đổ nhà Tần rồi quay lại đánh nhau, cuối cùng Lưu Bang thắng lập nên nhà Hán.
Ở Lĩnh Nam, huyện lệnh Long Xuyên là Triệu Đà nhân cơ hội chính quốc có loạn đă ngang nhiên xưng vương, đổi các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận làm nước Nam Việt lấy hiệu là Triệu Vũ Vương, đóng đô tại Phiên Ngung (Quảng Châu, Quảng Đông).
Triệu Đà thành lập nước Nam Việt và xưng vương rồi nhưng chưa phỉ chí lại muốn lấy nước Âu Lạc của An Dương Vương. Triệu Đà kéo quân vào đất Âu Lạc tiến đánh An Dương Vương nhưng bị thất bại. Theo truyền thuyết của ta th́ An Dương Vương xây thành Cổ Loa nhờ thần Kim Quy giúp mới hoàn thành rồi thần lại cho cái móng chân chế thành lẫy nỏ bắn mỗi lần ra hàng trăm mủi tên khiến quân Triệu Đà chết vô số. Triệu Đà đành phải lui quân và giảng ḥa với An Dương Vương, lại cho con là Trọng Thủy sang ở rể lấy con gái An Dương Vương là Mỵ Châu. Trọng Thủy lừa vợ đánh tráo lẫy nỏ thần rồi về báo cho Triệu Đà đem quân sang đánh. An Dương Vương đem nỏ ra bắn nhưng hết hiệu nghiệm phải đem Mỵ Châu chạy ra biển tự vận. Triệu Đà thôn tính Âu Lạc năm 207 trước Công nguyên.
Triệu Đà sáp nhập Âu Lạc vào đất Nam Việt lập thành đế quốc Nam Việt, xưng vương ngang hàng với nhà Hán. Đất Văn Lang cũ được Triệu Đà chia làm hai quận là Giao Chỉ và Cửu Chân. Giao Chỉ ở vùng Bắc Việt, Cửu Chân ở vùng Bắc Trung Việt ngày nay, Triệu Đà cử hai viên sứ thần xuống coi giữ. Có lẽ hàng quư tộc thuộc ḍng Hùng Vưong và An Dương Vương vẫn giữ các quyền chức như cũ. Cụ thể là khi nhà Hán đánh chiếm Nam Việt của nhà Triệu th́ một quư tộc Giao Chỉ là Tây Vu Vương định chống lại người Hán, bị viên tùy tướng người Tàu tên là Hoàng Đổng do Triệu Đà cử để giám sát, đă giết Tây Vu Vương rồi hàng nhà Hán.
Như thế chứng tỏ Triệu Đà muốn lấy ḷng dân Việt và hàng quư tộc đă giữ lại hệ thống cai trị cũ. Chính Triệu Đà cũng đă sống theo tập tục của người Lĩnh Nam. Khi sứ giả nhà Hán là Lục Giả đến th́ Triệu Đà ngồi xổm mà tiếp. Nhà Hán cấm dân buôn bán các dụng cụ làm ruộng bằng sắt với Nam Việt, ngựa, ḅ, dê th́ bán cho nhưng chỉ bán cho con đực chứ không bán cho con cái, lại lăm le đem quân đánh Nam Việt. Để đối phó, Triệu Đà bèn xưng làm Nam Việt Hoàng đế ngang hàng với vua nhà Hán rồi đem binh sang đánh Trường Sa (vùng Động Đ́nh Hồ). Mặt khác ông dùng của cải chiêu dụ các xứ Mân Việt, Tây Âu về thần phục Nam Việt, lănh thổ rộng lớn trở thành Đế quốc Nam Việt. Ông dùng các nghi vệ của Thiên tử, đi xe mui vàng cắm cờ tả đạo (cờ tả đạo là cờ lớn trang sức bằng lông đuôi cừu, dựng trên xe nhà vua). Nhà Hán thấy ông quá mạnh đành phải xuống nước, khuyên ông nên bỏ chức Hoàng đế, chỉ nên xưng Vương thôi : “Vậy từ Ngũ Lĩnh về nam Vương cứ việc trị lấy. Tuy vậy, Vương xưng là Đế, hai Đế cùng lập mà không có xe sứ thông hiếu, thế là tranh nhau. Tranh mà không biết nhường th́ có nhân không làm. Trẫm cùng Vương đều bỏ hiềm trước, từ nay trở đi thông hiếu như xưa.” (Đại Nam Sử Kư Ṭan Thư) Triệu Vũ Vương là người tài giỏi tự lập nên một đế quốc sánh ngang với nhà Hán. Nhưng khi chết đi th́ con cháu hèn kém để mất nước vào nhà Hán. Triệu Đà với nước Nam Việt là một bản sao của Hùng Dịch với nước Sở, là đầu cầu để Hoa tộc bước xuống xâm lăng Việt tộc.
Triệu Vũ Vương mất, truyền ngôi cho cháu đích tôn tên Hồ là con của Trọng Thủy và Mỵ Châu, lấy hiệu Triệu Văn Vương. Văn Vương tính nhu nhược khi bị quân Mân Việt (Phúc Kiến) qua đánh, đă phải cầi cứu nhà Hán. Nhà Hán kéo quân đánh Mân Việt. Em vua Mân Việt sợ, vội cắt đầu anh dâng cho quân Hán. Qua sự kiện này nhà Hán nhận thấy nước Nam Việt đă suy nên t́m cách đánh chiếm. Để thử phản ứng của Nam Việt, nhà Hán đ̣i vua Triệu Văn Vương sang chầu. Văn Vương sợ sang bị giữ lại, xin xho con là Anh Tề qua làm con tin.
Kinh đô nhà Hán là Hàm Dương, gần đó có thị trấn Hàm Đan là một nơi ăn chơi nổi tiếng. Vua Hán cho Anh Tề tới Hàm Đan ăn chơi trác táng với thâm ư hủ hóa ông vua tương lai nước Nam Việt. Anh Tề dan díu với một gái điếm là Cù Thị. Sau khi về nước Nam Việt nối ngôi, Anh Tề phong cho Cù Thị làm hoàng hậu mặc dù đă có vợ trước và phong cho người con riêng với Cù Thị tên là Hưng làm thái tử. Cái họa mất nước bắt đầu từ đó.
Anh Tề lên ngôi lấy hiệu Triệu Minh Vương ở ngôi được 12 năm. Con với Cù Thị kế vị lúc c̣n ấu niên lấy hiệu là Triệu Ai Vương, quyền hành đều ở trong tay Cù Thị. Một người tên là An Thiếu Quư, trước là t́nh nhân của Củ Thị được vua Hán cho làm sứ gỉa sang dụ Cù Thị hàng nhá Hán. An Thiếu Quư ra vào cung cấm tư thông với Cù Thị. Thái Phó Lữ Gia thấy truyện ngang trái và họa mất nước nên đem quân vào giết Cù Thị và An Thiếu Quư rồi lập con trưởng của Triệu Minh Vương lên ngôi hiệu là Triệu Dương Vương.
Cuộc đảo chánh vừa xong th́ Lộ Bác Đức đem quân nhà Hán chia làm 5 đạo quân đánh chiếm Nam Việt. Triệu Dương Vương và Lữ Gia bị bắt và bị giết. Lộ Bác Đức diệt Nam Việt rồi chia ra quận huyện cai trị, Giao Chỉ và Cửu Chân cũng bị nhà Hán cai trị từ đó. Tên Nam Việt của Triệu Đà đặt cho các nước thuộc Lĩnh Nam sẽ c̣n gây nhiều rắc rối giữa ta và Trung Hoa.
Lộ Bác Đức diệt Nam Việt th́ nước Âu Lạc tức Văn Lang và Tây Âu cũ cũng bị rơi vào ách đô hộ của nhà Hán. Đó là Lần Thứ Năm (5) ḍng Việt Tộc bị Hoa tộc xâm chiếm.
Nước Việt Nam tức Văn Lang bị Hoa tộc đô hộ dài trên 11 thế kỷ. Măi đến năm 939 sau Công Nguyên mới dành được độc lập. Các dân tộc Măn, Hồi, Mông, Tạng, có lúc các dân tộc này đă xâm lăng, cai trị nước Tàu nhưng rồi cũng bị cuốn hút vào cái khối Hoa tộc đó để trở thành người Tàu và cho đến nay chưa có dân tộc nào thóat ra khỏi cái khối gọi là Hán, thực ra là Hoa tộc đó.
Viết về thời nhà Triệu, sử thần Ngô Thời Sĩ than : “…Từ thời nhà Triệu đến nay chưa bao giờ có thể thu trọn được đất Ngũ Lĩnh, nh́n thẳng tận mặt để tranh với Trung Nguyên th́ là chuyện c̣n phải đợi đến những tay thánh hiền ở sau này..” Triết gia Kim Định, nhận định : “…chỉ c̣n lại một số nhỏ duy tŕ óc bất khuất lại nhờ chiếm được chút đất để phát triển nên giữ lại tên Việt và gọi là Việt Nam, ngầm hiểu rằng c̣n Bắc Việt tức là toàn thể Trung Hoa cổ đại, hay ít ra là miền gồm Trường Giang thất tỉnh hay cùng lắm là Việt Giang ngũ tỉnh sẽ có ngày đ̣i lại. Nhưng hiện nay v́ thế chính trị yếu nên âm thầm chịu vậy và chỉ c̣n ra mắt có ở phần Nam Việt nhỏ xíu. Đó là lư do rất thâm sâu ít ai nh́n thấy…”
Người anh hùng mà Ngô Thời Sĩ gọi là Thánh hiền dám nh́n thẳng mặt để tranh với Trung Nguyên, người đó là vua Quang Trung. Sau khi đánh đuổi quân Thanh ra khỏi bờ cơi, vua Quang Trung nuôi chí rèn luyện quân sĩ đánh qua Lưỡng Quảng lấy lại đất nước Nam Việt cũ. Để làm suy yếu nhà Thanh vua Quang Trung đă cung cấp mọi trang bị cũng như phong tước cho đám cướp biển Trung Hoa, lợi dụng đảng Thiên Địa Hội quấy rối nội địa, chuẩn bị cho việc phối hợp tấn công nhà Thanh. Thăm ḍ phản ứng nhà Thanh, vua Quang Trung gởi thư lên vua Càn Long xin hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây làm nơi đóng đô và xin cưới công chúa Thanh. Việc xin hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây th́ Càn Long ưng cho tỉnh Quảng Tây để đóng đô c̣n việc cưới công chú th́ Càn Long cũng ưng và định ngày cưới. Xem như thế ta đủ biết nhà Thanh phải nhượng bộ đến thế nào. Tiếc rằng vua Quang Trung đă chết quá sớm chưa thực hiện được giấc mộng của dân tộc. (Có thuyết nói sứ thần qua đưa thơ yêu sách đ̣i Lưỡng Quảng và xin cưới Công chúa Thanh, nhưng sau đó nghe tin vua Quang Trung băng hà nên ém các văn kiện đó đi)
Về việc vua Nguyễn Huệ lấy hiệu Quang Trung, triết gia Kim Định có nhận định như sau : “Có truyền thuyết cho rằng tên hiệu Si Vưu chính trước là Trung Quang, nhưng Hiên Viên đă đổi đi bằng thêm chữ Sơn lên đầu và c̣ng chân lại nên Trung hóa ra Si (ngốc) c̣n Quang bớt nét đi cho ra Vưu là oán hờn. Theo thuyết đó th́ vua Nguyễn Huệ lấy hiệu là Quang Trung để nhớ lại một tị tổ xưa và lấy cờ Si Vưu nền đỏ có miếng tṛn màu vàng ở giữa.” Chỗ khác, nói về Si Vưu, cụ viết : “Ly Long được sách gọi là rồng vàng không có ngà. Tổ tiên ta quen chạm trên đầu cột nhà và gọi là Ly đầu và Ly là tên của “Ly Vưu” mà người Tàu đọc là Si Vưu. Không hiểu tại sao đọc như vậy trái cả với luật hài thanh là chữ ly. Ly Vưu là Rồng cao cả phi thường (đàn bà cực đẹp gọi là vưu vật) thế mà đọc Si Vưu th́ ra ngu xuẩn cùng cực. Có thể v́ Ly Vưu chống Hiên Viên (Hoàng Đế) nên tâm lư chiến của Hiên Viên gọi thế để hạ nhục, người sau không hay nên cứ đọc Si Vưu. Các cụ nhà ta thấy ngượng ngượng sao đó nên đọc là Suy Vưu” (Kim Định, Hưng Việt)
- Khi Vua Gia Long lên ngôi, sai sứ qua nhà Thanh xin phong với quốc hiệu là Nam Việt. Vua Càn Long nhà Thanh cho rằng lấy tên Nam Việt, vua nước Nam ngầm ư đ̣i lại đất Nam Việt cũ nên không chịu. Càn Long có ư định phong cho Gia Long chức “An Nam Quốc Vương”. Vua Gia Long không chịu nói là sẽ không nhận sắc phong. Sau nhiều lần sứ qua sứ lại, vua Gia Long nhận tên nước là Việt Nam. Khối Việt tộc lớn lao nay chỉ c̣n có nước Việt Nam nhỏ xíu !
Những đợt chạy loạn do việc Hoa tộc cướp đất từ thời Hiên Viên dánh Xuy Vưu đến nước U Việt bị nước Sở chiếm, hẳn có những lớp Việt tộc chạy qua Đài Loan. Những lớp người này trở thành thổ dân của hải đảo này. Theo truyền thuyết th́ Tần Thủy Hoàng cho rằng ngoài Biển Đông là nơi thần tiên ở luyện đan dược trường sinh nên sai Từ Phác đem một số người vượt biển t́m thuốc. Họ lênh đênh nhiều ngày tháng trên biển cả mới tới một hải đảo, Đảo Châu, chẳng thấy tiên thánh, thuốc thang ǵ lại bị dân đảo đánh giết. Phần bị chết v́ bị giết, phần bị bệnh tật mà chết, số người c̣n lại không dám về v́ không lấy được thuốc, về cũng chết nên họ ở lại đảo sống với thổ dân. Có lẽ Đảo Châu là Đài Loan.
Đến đời Tam Quốc, Ngô Tôn Quyền (năm 230) nghe nói ngoài biển Đông có một nơi gọi là Châu Di (ư nói châu đó có người Di làm chủ quyền) đất đai màu mở có nhiều hải sản. Tôn Quyền sai người đóng thuyền và phái hơn một vạn người dưới quyền của Vệ Ôn và Gia Cát Trực ra chinh phục khai phá đảo. Quân của Vệ Ôn lênh đênh nhiều ngày mới tới đảo. Họ vừa bước chân lên đảo liền bị dân hải đảo chận đánh. Dân đó sử Tàu gọi là dân Cao Sơn, thật ra đó là người Việt tộc thuộc nhóm Bộc Việt, tức Lạc Việt. Cuộc chiến cầm cự lâu ngày khiến cho quân Ngô bị tổn hại rất nặng nề, chết đến tám chín phần mười, phần chết v́ bị giết phần v́ bệnh tật thời khí. Cuối cùng quân Ngô do Ôn cầm đầu c̣n sống sót vài ngàn người đành phải rút khỏi đảo bắt đem theo một số dân đảo. Đó là lần đầu Hoa lục xâm lăng Đảo Châu tức Đài Loan bị thất bại.
Đài Loan trở thành căn cứ địa của các toán cướp biển hoành hành nhất là vào đời nhà Minh và nhà Thanh. Đám cướp biển (hải tặc) dữ dội nhất xuất phát từ Nhật Bản, người Tàu gọi họ là Nụy Khấu (giặc lùn). Từ Hải trong truyện Kiều, người Việt Đông ở trong đám cướp biển đó, đánh phá 5 huyện vùng Mân Triết (Phúc Kiến, Triết Giang). Sử Tàu nói bọn này được vua Quang Trung Việt Nam giúp sức, cấp vơ khí và phong chức tước để họ quấy phá nhà Thanh.
Đài Loan được người Bồ Đào Nha đặt tên là Ilha Formosa v́ họ khám phá thấy đảo đẹp đẽ, khí hậu mát mẻ. Đời nhà Minh, Lâm Đạo Càn chiếm lĩnh đảo, nhưng bị người Lưu Cầu (Okinawa) đuổi mà cướp lấy rồi người Nhật Bản lại đến đuổi người Lưu Cầu mà kinh doanh. Năm 1623, đời nhà Minh, người Ḥa Lan chiếm đảo Bành Hồ rồi chiếm luôn Đài Loan. C̣n Tây Ban Nha th́ chiếm đảo Lữ Tống, mở cuộc tàn sát Hoa kiều 18 ngày liên tiếp, máu chảy thành sông. Chống cự lại với người Ḥa Lan và người Tây Ban Nha không phải là triều đ́nh nhà Minh mà là các tướng cướp biển như Lâm Phượng, Trịnh Chi Long. Lâm Phượng (tây gọi là Li Ma Hong) là một thiên tài, đánh thắng quân Tây Ban Nha nhiều trận, làm họ phải kiêng nể.
Năm 1644, quân Thanh vào Bắc Kinh. Bọn tôn thất nhà Minh chạy về Nam Kinh. Tướng cướp biển Trịnh Chi Long quy hàng nhà Minh. Con là Trịnh Thành Công (có tên Nhật là Koxinga v́ mẹ là người Nhật), thấy nhà Minh bị quân Thanh đánh mất hết đất, đến Vân Nam cũng bị Ngô Tam Quế chiếm, nên năm 1661, dồn hết binh lực đánh đuổi người Ḥa Lan, chiếm Đài Loan làm căn cứ kháng chiến. Chí chưa toại th́ Thành Công chết (1662). Con là Kinh lên thế cha, đem binh hợp với Cảnh Kế Mậu (phiên trấn Phúc Kiến) đánh quân Thanh chiếm được đất Chương Tuyền, Triều Châu (thuộc Quảng Đông), sau lại thua phải trở về Đài Loan. Kinh mất, con là Khắc Tàng lên thế, Khắc Tàng là người hiền tài, bọn bề tôi tiểu nhân sợ Tàng, xúi bà mẹ giết đi mà lập Khắc Sản lên ngôi. Trịnh Khắc Sản c̣n nhỏ, hèn kém không coi được việc nước, nhân đó có nội loạn. Triều đ́nh nhà Thanh nhân cơ hội đánh lấy Đài Loan (1683), đặt thành phủ huyện, thuộc tỉnh Phước Kiến.
Sau chiến tranh Trung-Nhật đời vua Quang Tự, nhà Thanh phải nhượng cho Nhật đảo Bành Hồ, Đài Loan và các đảo phụ thuộc (Ḥa ước Mă Quan, Simonoseki, kư năm 1895). Năm 1945 Nhật thua trận phải kư ḥa ước trả Đài Loan lại cho Trung Hoa. Năm 1949, Mao Trạch Đông chiếm ṭan nước Trung Hoa, Tưởng Giới Thạch chạy ra Đài loan. Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng cũng như Mao Trạch Đông và đảng Cộng sản, cả hai chống đối tiêu diệt lẫn nhau nhưng cả hai đều có một quan niệm coi Đài Loan là một phần của Trung Hoa. Quốc Dân Đảng sẽ từ Đài Loan về chiếm lại lục địa. Đảng Cộng Sản sẽ chiếm Đài Loan sáp nhập vào Trung Hoa. Bởi vậy Quốc Dân Đảng luôn luôn chống đối khuynh hướng độc lập của dân Đài Loan.
C̣n dân Đài Loan là dân Việt (Cửu Lê, Bách Bộc, U Việt) muốn được độc lập, tách khỏi lục địa Trung Hoa. Tổng Thống Trần Thủy Biển thuộc lớp người Đài Loan thổ sanh, Việt tộc, đại diện cho khuynh hướng độc lập đó. Đây là cơ hội ngàn năm một thuở để Việt tộc Đài Loan đứng lên dành độc lập, thoát khỏi ách thống trị Hoa tộc. Kể từ khi Tần Thủy Ḥang đánh chiếm Lĩnh Nam, các nước Việt nhiều lần nổi lên chống quân Hoa tộc xâm lăng, người Việt ở Lưỡng Quảng, ở Phước Kiến cũng như các nước Mân, Ngô Việt đều có ước vọng thu hồi độc lập nhưng chỉ có Việt Nam là thành công trong việc dành độc lập.
HẢI NAM
Lộ Bác Đức đánh chiếm nước Nam Việt của Triệu Đà nhưng không chiếm được đảo Hải Nam. Vào khỏang 50 năm sau nhà Hán mới cho quân ra chiếm và đặt ra hai quận là Châu Nhai và Đạm Nhĩ. Quan lại nhà Hán không trấn nổi dân Hải Nam. Dân Lê luôn luôn nổi dậy chống đối. Quan quân nhà Hán phần bất phục thủy thổ, đau bệnh liên miên, phần bị dân nổi dậy đánh giết. Đặt binh ít th́ không đủ đàn áp, mà đặt nhiều th́ tổn phí nặng nề. Cuối cùng đành phải rút khỏi Hải Nam v́ theo như Giả Quyên Chi khuyên vua Nguyên Đế nhà Hán th́ : “Dân ấy mọi rợ, uống bằng mũi (tỵ ẩm), căng tai (đạm nhĩ), lấy sắc đen làm đẹp (Sở từ gọi Hải Nam là Huyền Quốc), trai gái tắm chung một ḍng sông, không biết lễ nghĩa ǵ, đâu có đáng cho thánh triều giáo hóa!” Đúng là lư lẽ kẻ cướp, không bắt được tha làm phúc!
Ông Lăng Hồ trích một đoạn của ông Tề Tân viết về Hải Nam như sau : “Hải Nam tức Châu Nhai, Đạm Nhĩ đời Hán vậy. Vua Vũ Đế b́nh xong Nam Việt, sai sứ xuất phát ở Từ Văn (nay là Lôi Châu, Từ Văn huyện), vượt biển sang chiếm cứ đất của địch quân, đặt ra hai quận, Chu Nhai, Đạm Nhĩ. Chiêu Đế (86-73 TCN) phế bỏ Đạm Nhĩ, sáp nhập vào quận Chu Nhai. Nguyên Đế chiếu theo lời tấu nghị của Giả Quyên Chi băi bỏ Chu Nhai, măi tới đời Lương (502-527 sau Công Nguyên) và đời Tùy 589-618) mới đặt lại. Đời Đường, Trinh Quan nguyên niên, lại chia ra làm ba châu, Nhai, Đạm và Chấn, thuộc Lĩnh Nam. Đến năm thứ năm (631) Quỳnh Sơn và Châu Nhai được đặt thành quân khu và Vạn An huyện được đặt thành châu, nay là quân khu Vạn An, c̣n Đạm và Chấn, thời đó cũng như nay, trở thành quân khu Cát Dương và quân khu Xương Hóa. Năm thứ năm, niên hiệu Trinh Nguyên 789, Quỳnh Sơn được đặt làm Đốc phủ cho tới nay.” (Lăng Hồ, Sử Địa, Đặc Khảo Vể Hoàng Sa và Trường Sa)
Như vậy, Hải Nam bị Hán Vũ Đế chiếm nhưng luôn bị dân Lê Hải Nam chống đối đánh phá quân Hán, đến đời Hán Chiêu Đế phải rút quân khỏi Hải Nam, tức Hải Nam chỉ bị chiếm có khỏang 40 năm th́ lấy lại được quyền tự chủ. Măi cho đến đời Lương, đời Tùy mới lại bị đánh chiếm, nghĩa là sau khi nhà Hán rút khỏi Hải Nam th́ phải 500 năm sau Hải Nam mới bị quân Tàu chiếm. Dân Hải Nam lại nổi lên kháng chiến khiến người Tàu phải dùng vơ lực, đặt thành các quân khu để cai trị.
Tuy bọn xâm lược Trung Hoa đă phải đặt thành quân khu mà cai trị, nhưng dân Hải Nam vẫn luôn luôn tỏ ra bất phục. “ Cho măi đến năm 1881-1884, dân Lê, dân Miêu vẫn c̣n đánh nhau kịch liệt với quân đội Thanh triều. Năm 1898, Pháp thuê được đất Quảng Châu Loan, tha hồ buôn lậu. Có lợi quá nhiều rồi lại sinh ḷng tham và hối hận sao không thừa cơ hội dân Lê quật khởi mà chiếm luôn Hải Nam làm b́nh phong bảo vệ Đông Dương th́ có phải tiện hơn không ? (Lam Giang, Sử Địa, Đặc Khảo Về Hoàng Sa và Trường Sa)
Dân Hải Nam thuộc ḍng Việt tộc, chi Lạc Lê. Dân Văn Lang thuộc chi Lạc Việt và dân Chiêm Thành thuộc chi Lạc Lồi. Như thế dân Hải Nam và dân Việt Nam vốn cùng một ngành Lạc.
“ Thủy Kinh Chú của Lệ Đạo Nguyên, tả thổ trước Hải Nam giống hệt dân Nhật Nam (Chàm)…Nay chúng tôi học ngôn ngữ của người Lê Hải Nam th́ thấy họ giống hệt người Mân. Mặt khác chúng tôi c̣n chứng minh rằng cổ thời Nhật Nam tuy là đất của ta, nhưng dân th́ khác, đó là dân Lạc Lồi, Mă Lai đợt II.
Vậy hồi cổ thời Mân và Chàm đồng ngôn ngữ với nhau và hẳn cuộc hợp chủng giữa Mân đang bị Hoa hóa và Chàm phải lớn lao lắm.
…Thế nên người Tàu di cư đi các xứ Mă Lai, đa số là người Phước Kiến. Có thể nói Tân Gia Ba là một quốc gia Phước Kiến.
Người Chàm tuy theo văn minh Ấn, nhưng lại thân thuộc với người Tàu hơn. Sử của họ và sử của ta đều chép rằng năm 981 một người Việt kiều ở đất Chàm tên là Lưu Kỳ Tông, nổi lọan cướp ngôi vua Chàm rồi cai trị rất hà khắc, v́ thế mà có rất đông người Chàm bỏ nước sang Quảng Đông và Hải Nam….Ở Quảng Đông có vùng Hợp Phố , Đông Hưng Móng Cái th́ dân là Lạc Lê nói y như Hải Nam, tức y như Chàm. (B́nh Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mă Lai của Dân Tộc Việt Nam)
Hải Nam có dân Lê th́ ở tỉnh Thanh Hóa cũng có dân Lê, Vua Lê Lợi là người Mường có cùng gốc với dân Lê Hải Nam. Năm 1905, E. Brerault khảo sát về đảo Hải Nam thấy có người Việt Nam ở bờ biển phía Nam. Đây là người Lê ở duyên hải. Một dấu chỉ đặc biệt của dân Lê Hải Nam là đạm nhĩ, căng tai th́ các dân tộc ở Cao nguyên Trung phần cũng căng tai. Điều đó càng chứng tỏ người Lê Hải Nam và người Lê Việt Nam có sự liên hệ rất mật thiết.Người Tàu chia người Lê Hải Nam làm hai loại, một thứ người Lê đă tiếp súc và sống theo văn minh Tàu, đó là Thục Lê (Lê Chín). C̣n thứ người Lê sống cách biệt, giữ sắc thái riêng biệt của chủng tộc, đó là người Sinh Lê (Lê Sống).
Từ thuở hồng hoang tối cổ, Việt tộc đă làm chủ Hoa lục, nhưng kể từ khi Hiên Viên ở sa mạc tây bắc vào đánh bại Xuy Vưu th́ Việt tộc cứ phải lui dần từ Ḥang Hà xuống Trường Giang rồi Lĩnh Nam rồi th́ mất hết đất cho Hoa tộc! “Xưa kia Bách Việt có đến 70% dân số ở nước Tàu mà nay th́ không c̣n tên Việt nào, đang khi ấy th́ các tộc Hán, Măn, Tạng, Mông, Hồi chẳng có được bao nhiêu người th́ lại được đề cao.” (Kim Định, sđd)
Ngày nay, nước Tàu của Mao Trạch Đông được gọi chính thức là Trung Quốc mà không gọi là Trung Hoa như trước nữa v́ họ đang cố quên đi, dấu đi cái chủng Hoa thống trị đó để các chủng khác như Hồi Tạng Măn Mông khỏi bị chạm tự ái dân tộc mà khởi lọan. Họ đưa ra cái chủng Hán mơ hồ v́ không có một chủng nào gọi là Hán mà Hán chỉ là tên một vương triều nhà Hán của Lưu Bang mà thôi. Thật ra cái chủng Hán đó chỉ là người Hoa gốc Việt đă góp phần lớn cho văn minh Tàu. Họ đang cố ru ngủ Việt tộc bị Hoa hóa trong mộng phồn vinh, trong hănh diện dân một nước lớn để quên đi cái nhục mất nước, quên đi sự phục quốc, lấy lại đất đai cho giống ṇi.
Cửu Lê, Bách Bộc, Bách Việt, Âu Việt, trăm con nay c̣n lại được bao nhiêu con không bị Hoa tộc thống trị ?
(Hết Phần III)