NƯỚC SỞ : KHUÔN MẪU CỦA HOA TỘC NUỐT CÁC NƯỚC VIỆT TỘC.
CUỘC CHIẾM ĐẤT LẦN THỨ HAI.
Hoa tộc chiếm được b́nh nguyên Ḥang Hà rồi th́ họ lập lu bù nước ở đó, có lúc lên đến hàng vạn nước. Thật ra chỉ là những bộ tộc, những họ, mỗi họ chiếm một một vùng tự xưng là nước chư hầu dưới quyền của một ông ḥang đế, đó là các vua nhà Hạ, nhà Thương Ân, nhà Châu và chính các ông vua này tự xưng là Thiên tử, con trời! Hoa tộc vốn là dân du mục đi theo đàn súc vật kiếm sống, nay vào chiếm được phần đất Trung nguyên, đất đai tốt tươi mầu mỡ, th́ mạnh ai nấy chiếm để vừa canh tác vừa nuôi súc vật. Họ trở thành những lănh chúa phong kiến. Các lănh chúa này có tham vọng đất đai quyền hành thường xung đột lẫn nhau để chiếm đất, bắt địch thủ phải triều cống, phục tùng. V́ thế từ hàng vạn nước, dần dà nuốt lẫn nhau xuống c̣n vài ngh́n, vài trăm. Tới thời Đông Châu mạt vận th́ chỉ c̣n 7 nước, đó là các nước Tần, Triệu , Tề, Sở, Yên, Ngụy, Hàn. Rồi chúa nước Tần là Tần Vương Chính “gồm thâu lục quốc”, nuốt chửng 6 nước kia, lên ngôi Ḥang Đế lấy hiệu là Tần Thủy Ḥang, thống nhất các nước Hoa tộc (221 TCN).
Sau trận đụng độ lớn lao giữa Hiên Viên và Xuy Vưu, sau khi đă nuốt chửng Cửu Lê và Bách Bộc, sau khi đă dồn dân Đông Di (Bách Bộc) lên cao nguyên Sơn Đông và bao vây họ ở đó th́ không c̣n trận đụng độ nào lớn lao giữa Hoa tộc và Việt tộc. Phải mất gần ba ngàn năm (3000 ) sau mới làm cho con hổ đói Hoa tộc chồm xuống nuốt trọn miền Hoa Nam của dân Bách Việt. ( trừ trường hợp vua Cao Tông nhà Ân “phạt Quỷ Phương tam niên” tức xâm lăng nước Xích Quỷ hay Văn Lang đời Hùng Vương thứ 6 trong 3 năm và bị đức Phù Đổng Thiên Vương đánh bại, từ đó không c̣n dám xâm phạm đất Văn Lang lần nào nữa.)
Trong lúc Hoa tộc lo củng cố, phát triển phần đất chiếm được th́ không phải là họ chịu để yên cho dân Việt được sinh sống giữ ǵn đất đai của ḿnh mà họ âm thầm áp dụng một phương thức xâm thực ôn ḥa, bền bỉ mà vô cùng nguy hiểm, thâm độc, cho đến lúc người dân Việt bị Hoa hóa hồi nào không hay và phần đất Việt đó trở thành đất của Hoa tộc!
Nước Sở là trường hợp điển h́nh cuộc Hoa hóa đó.
Mấy ông vua Tàu tuy chức tước lớn lao tự xưng là Thiên tử, Con Trời, là Ḥang Đế, các chư hầu phải phục tùng triều cống, nhưng thật ra đất đai chẳng có bao nhiêu, binh lính cũng chẳng nhiều nên khi có anh chư hầu nào ngang bướng không thèm nghe lời thiên tử, tự xưng chức bá chức vương th́ ông Ḥang đế phải cầu cứu (triệu tập) các nước chư hầu để dẹp loạn. Nếu các chư hầu không đồng thuận hay sợ cái anh ngang bướng đó, v́ anh ta dữ quá th́ ông Ḥang đế cũng đành vuốt giận làm ngơ!
Các ông vua đó cũng thường hay phong chức (Phong) và cắt đất (Kiến) cho mấy công thần để đền ơn, để làm vây cánh, lấy chỗ này một ít ban cho ông này, lấy chỗ kia một ít kiến cho ông khác và như thế chế độ phong kiến mỗi ngày mỗi củng cố. Trong trường hợp đó, vua nhà Châu đă phong chức cho Hùng Dịch và chỉ đại một miếng đất của người Việt ban cho ông này với mục đích đẩy ông này đi tiên phong trong việc chiếm đất Việt tộc.
Châu Thành Vương (1285 TCN) phong cho Hùng Dịch tước Tử và “ban” cho đất Kinh Cức là đất Việt làm lănh thổ. Đây không phải lần duy nhất mà ông vua Tàu lấy đất Việt phong cho công thần. Sử Tàu chép : “Năm Quư Măo (2083 TCN) vua Thiếu Khang nhà Hạ phong cho con thứ là Vô Dư ở đất Việt.” Rồi không thấy sử nói ǵ nữa. Không biết đất Việt đó ở đâu, cái ông Vô Dư được phong đó (hay bị đày) có đến đất Việt hay không và có làm được ǵ không, hay đă bị dân Việt nuốt chửng mất! Từ khi Vô Dư được phong ở đất Việt cho đến Hùng Dịch phải mất gần 800 năm lại mới có cuộc chiếm đất phong bừa như thế. Đây là hai trường hợp mà sử sách có nói đến, có lẽ c̣n nhiều trường hợp lấy đất Việt phong bừa cho các người khác, nhưng sử sách không nói đến v́ những người này không có tiếng tăm, hoặc họ bị dân Việt giết hay bị đồng hóa với dân Việt cả rồi.
Hùng Dịch được phong v́ gịng họ có công nhiều kể từ đời Xuyên Húc. Trong gịng họ có một người tên Lục Chung. Lục Chung cưới con gái nước Quỷ Phương, có thai mười một (11) tháng rồi giở nách bên tả sinh 3 người con, giở nách bên phải sinh 3 người con! Người thứ 6 tên là Quư Liên họ Mỵ (Mễ). Quư Liên có một người con tên Dục Hùng. Dục Hùng lấy tên làm họ. Từ đó con cháu đều lấy tên Hùng làm họ. Hùng Dịch là cháu.
Truyện Lục Chung cưới con gái nước Quỷ Phương làm ta chú ư. Nước Quỷ Phương này được nhắc đến khi Ân Cao Tông “phạt Quỷ Phương tam niên”. Nước Quỷ Phương mà sử Tàu nói đến nó trùng hợp với nước Xích Quỷ trong truyền thuyết của ta. Xích Quỷ là tên nước ta thời Kinh Dương Vương. Truyền thuyết của ta có nói đến vua nhà Ân là Cao Tông kéo quân xâm lăng nước Quỷ Phương 3 năm mà sử Tàu gọi là “phạt Quỷ Phương tam niên” nhưng “bị Thánh Gióng (Phù Đổng Thiên Vương) đánh phải chôn xác lại trên đất Việt, có nói trong Kinh Thư, mà các sử gia Tàu có ư dập bớt đi” (Kim Định, Hưng Việt)
Xin mở dấu ngoặc ở đây để nói về nước Xích Quỷ. Xích Quỷ là tên nước của Kinh Dương Vương. Tên Xích Quỷ này gây nhiều tranh luận. Có người cho là truyện bịa đặt, đâu có ai lại di đặt tên nước xấu như vậy! Ông Nhượng Tống bàn như sau: “Người Tàu cho ḿnh là văn minh và người khác là dă man, là quỷ. Cho măi đến gần đây họ c̣n gọi người da trắng là Dương quỷ, Bạch quỷ. Như thế có lẽ ngày xưa họ gọi ḿnh là Xích quỷ v́ ta ở phương Nam và theo thuyết năm hành của họ th́ xích (đỏ) là màu của phương nam. Nhưng có lẽ nào vua nước ta lại tự đặt lấy cái tên xấu xí như thế ?”
Triết gia Kim Định cho rằng cái tên Xích Quỷ là có thật : “…Đây là giai đọan thờ mặt trời mà ấn tích c̣n sót lại là tên Xích Quỷ, hiểu quỷ là làm chủ, c̣n xích là tinh hoa của cái ǵ, đây là tinh hoa của thời thờ mặt trời.”
Ông B́nh Nguyên Lộc viết: “Truyền thuyết ta cho rằng nước ta tên là Xích Quỷ, Ngô Sĩ Liên chép lại, bị Nhượng Tống cứ cho rằng lẽ nào ta lại đặt tên nước xấu đến thế. Nhưng chúng tôi sẽ tŕnh diện một thứ người cổ Mă Lai tự xưng là Lạc, nói tiếng Việt cổ và mang màu da thổ chu….Truyền thuyết của ta không ngốc đâu. Xích Quỷ có thể là danh xưng mà Tàu gọi ta vào cổ thời ta không hiểu, nhưng cứ nhận y hệt như nước Xiêm.”
Ông B́nh Nguyên Lộc tŕnh diện người Việt cổ có màu da thổ chu là người Khả Lá Vàng, sống ở vùng Trường Sơn giữa Việt Nam và Lào : “Những người này cao lớn, nước da thổ chu, xâm trán (Điêu đề) nói tiếng cổ Việt Nam, ăn canh cua đồng. Màu da thổ chu của Khả Lá Vàng cắt nghĩa được tại sao ta là Xích Quỷ mà Nhượng Tống phủ nhận cho rằng không lẽ nào ta lại lấy tên nước xấu như vậy. Tóm lại Khả Lá Vàng theo tài liệu ở đây là tộc “Xích Quỷ”, xâm trán (điêu đề), tự gọi là Lạc (Alak), nói tiếng Việt cổ, ăn canh cua đồng và đàn bà đẻ nằm bếp”. (BNL, Nguồn gốc Mă Lai của dân tộc VN)
Ông Nguyễn Xuân Quang viết : “Tên nước Xích Quỷ rất giản dị. Xích là đỏ. Quỷ phiên âm từ chữ Kẻ là người. Xích Quỷ là Người Đỏ, là Kẻ Đỏ. Kẻ Mặt Trời. Người Mặt Trời. Việt Mặt Trời. Nước Xích Quỷ là nước Người Mặt Trời rực lửa.
Và ông “khám phá” ra một nước Xích Quỷ ở Hoa Kỳ. “Đó là tiểu bang Oklahoma, với Okla là ochre : hoàng thổ, đất đỏ. Homa là Người. Oklahoma là người “Thổ Chu”, người “Da Đỏ chính là Xích Quỷ.”(NXQ, Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt)
Ông Lê văn Ẩn giải nghĩa Xích Quỷ : “Xích có nghĩa đường Xích đạo. Quỷ ở dây là sao Quỷ, tượng trưng cho Phương Nam. Khi vua Vũ Định nhà Ân (Ân Cao Tông) đóng quân tại Kinh, tức vùng Kinh thuộc Châu Kinh. Thời điểm đó th́ sao Quỷ nằm tại vùng Châu Kinh, mà Châu Kinh là của Việt nên người Việt ta mới có truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương chống giặc Ân. Chống giặc Ân tức là chống quân của Ân Cao Tông từ phía Bắc kéo xuống”. (LVA, Việt tự và khảo cổ, Giai phẩm Xuân Giáp Thân 2004, Thời Báo)
Truyện ông Lục Chung cưới con gái nước Quỷ Phương chứng tỏ con cháu Lục chung có lai gịng máu Việt. Hùng Dịch là thứ con lai đó. Có lẽ v́ thế mà vua Châu Thành Vương mới đẩy xuống đất Kinh Việt làm lănh chúa, đi tiên phong mở mang bờ cơi, nếu thành công th́ là đầu cầu cho Hoa tộc tràn xuống đất Việt, c̣n nếu có bị dân Việt phản ứng giết đi th́ ráng chịu!
Đất Kinh Cức Hùng Dịch được phong nằm ở thượng nguồn phía tây sông Hán. Ở đó có núi Kinh và thứ cỏ gai mọc tràn lan tên là Cức. Nó là đất của dân Việt nên cũng gọi là Kinh Việt hay Kinh Man. Ngày nay nó thuộc về tỉnh Hồ Bắc.
Hùng Dịch v́ có máu lai nên đi xuống vùng Kinh Cức cũng như người về quê mẹ. Dần dà quy tụ được một số người dưới trướng, rồi bành trướng măi ra, bắt các đầu mục các trưởng lăo quy thuận. Thế là Hùng Dịch có được một địa vị, trở thành chúa một nước, nước Sở. Hùng Dịch lại được một số người Hoa tới bổ xung, lấn dần đất, cho người Hoa lai với dân Việt, bắt dân Việt ăn mặc, sống theo nếp người Hoa, dần dà người Viêt bị Hoa hóa. Hùng Dịch rồi con cháu cứ lấn dần đất Việt từ Hồ Bắc xuống Hồ Nam nơi có Hồ Động Đ́nh. Hồ Động Đ́nh đối với dân Việt như vùng Thánh Địa v́ ở đó là nơi bà Long Nữ, con gái Động Đ́nh Quân lấy Kinh Dương Vương. Nơi đó Lạc Long Quân lấy mẹ Âu Cơ đẻ bọc trứng nở ra 100 con, thủy tổ của ḍng Bách Việt. Từ nay vùng Thánh Địa của dân Việt lọt vào tay Hoa tộc.
Dân Việt lại phải một lần nữa lui xuống phía nam Ngũ Lĩnh hay chạy qua phía đông sông Hán để nương nhờ các nước Việt c̣n đứng vững nơi đó.
Cuộc chiếm đất một cách âm thầm như tằm ăn dâu của Hoa tộc đă kéo dài từ Hoa Bắc xuống tới sông Trường Giang và Hồ Động Đ́nh.
Đó là lần thứ hai Hoa tộc bành trướng lănh thổ, xâm chiếm đất Việt.
CUỘC XÂM LĂNG LẦN THỨ BA :
NƯỚC SỞ NUỐT TRỌN CÁC NƯỚC VIỆT MIỀN HÁN ĐÔNG.
Trong khi Hùng Dịch và con cháu thành lập nước Sở ở miền Hán Tây (phía tây sông Hán) th́ tại miền Hán Đông (phía đông sông Hán) dân Việt thành lập nhiều nước trong đó có các nước như : nước Ba, nước Ưu, nước Đặng, nước Giao, nước La, nước Viên, nước Nhị, nước Chẩn, nước Thân, nước Giang, nước Tùy, nước Huỳnh (Ḥang), nước Dung, nước Bộc. Chắc c̣n nhiều nước nữa nhưng không được nhắc đến v́ chỉ có các nước kể trên mới thành lập liên minh chống Sở.
Nước Sở đă chiếm trọn miền Hán Tây xuống đến Hồ Động Đ́nh, đă khuất phục được dân Việt ở đó th́ quay ra ḍm ngó các nước Việt ở Hán Đông. Nước Sở cho quân sang quấy nhiễu bắt các nước này phải phục tùng, phải triều cống khiến các nước này phải liên kết lại thành liên minh chống nước Sở. Dưới con mắt các nước Việt th́ Sở là dân mất gốc dưới quyền cai trị của tầng lớp thống trị Hoa tộc. Đến thời Sở Trang Vương th́ dân Việt đất Sở đă bị đồng hóa với Hoa tộc cả rồi. (611 TCN)
V́ cứ bị nước Sở lấn đất, cướp của bắt người nên các nước Việt vùng Hán Đông nhất quyết liên minh đánh Sở. Các nước Việt liên minh dưới quyền lănh đạo của nước Bộc. Nước Bộc Việt này là ḍng dơi của dân Bách Bộc trên sông Ḥang Hà bị Hoa tộc xâm chiếm thời Hiên Viên, chạy xuống phía Hán Đông, thành lập nước Bộc Việt.
Chúa nước Sở là Sở Trang Vương thấy quân các nước Việt đông quá, hỏang sợ định chạy trốn qua phía tây. Các tướng nước Sở trấn an Sở Trang Vương và liều chết xông vào đánh liên quân Việt, chiếm được nước Đặng rồi sáp nhập nước này vào nước Sở luôn. Liên quân Việt thấy quân Sở mạnh quá đánh không lại nên phải lui quân. Các nước Việt này rồi bị Sở chiếm lần lần, một số khác bị nước Ngô nuốt.
Các nước Việt nho nhỏ ở Hán Đông tan ră, nhưng lại nổi lên hai nước cùng ḍng tộc Việt khác rất nổi tiếng thời Đông Châu cũng gọi là thời Xuân Thu hay Chiến Quốc, đó là nước Ngô và nước Việt.
Nước Ngô ở vào tỉnh Giang Tô ngày nay. Vua nước Ngô lúc đó là Thọ Mông. Một phản tướng của nước Sở là Khuất Vu chạy trốn qua nước Tấn nên tộc đảng bị vua Sở đem chém hết. Khuất Vu tức giận, đổi tên là Vu Thần, bày mưu cho vua nước Tấn là Tấn Cảnh Công sang giao hiếu với nước Ngô, dạy cho nước Ngô về binh pháp, chế tạo vũ khí để mượn tay nước Ngô đánh phá nước Sở. Vu Thần lại cho con là Hồ Dung sang làm quan ở nước Ngô. Từ đó nước Ngô hùng mạnh lên, chiếm các nước Việt Hán Đông của nước Sở.
Nước Ngô nổi tiếng về tài đúc kiếm. Thanh kiếm Can Tương và Mạc Gia rất nổi tiếng được sử Tàu nói đến nhiều. V́ có tài luyện kim, đúc kiếm, chế tạo vũ khí nên kho vũ khí rất dồi dào. Nước Ngô lại được phản tướng nước Sở là Ngũ Viên tự là Ngũ Tử Tư sang đầu, rèn luyện quân binh rất hùng mạnh. Nước Ngô lại được thêm Tôn Vũ là người Việt nước Ngô. Tôn Vũ là một chiến lược gia, viết bộ Binh Thư, thường được biết dưới tên “Tôn Ngô Binh Pháp” nổi tiếng cho đến ngày nay các nhà quân sự vẫn c̣n áp dụng. Có thể nói nước Ngô là nước mạnh nhất thời đó. Ngũ Tử Tư v́ muốn báo thù vua Sở nên xúi vua Ngô đánh nước Sở. Vua Ngô là Hạp Lư đem quân đánh Sở, vào chiếm kinh đô nước Sở là Dĩnh Đô, vua Sở phải bỏ chạy. Vua Ngô Hạp Lư lập con vua Sở là công tử Thắng làm vua rồi rút quân về. Con Hạp Lư là Phù Sai nối ngôi làm vua nước Ngô, thế lực bao trùm cả các nước chư hầu nhà Châu. Ngô Phù Sai triệu tập các nước chư hầu nhà Châu để xưng Bá thay cho nước Tấn. Đây là lần đầu tiên một nước Việt tộc đă làm bá chủ các nước Hoa tộc và sau đó một nước Việt tộc khác là U Việt của Câu Tiển lên làm bá chủ thay Phù Sai.
Phía dưới nước Ngô, có nước Việt tức U Việt, nay là tỉnh Chiết Giang. Vua nước Việt là Dơan Thường chăm lo sửa sang triều chính, dùng người hiền lương, thương mến dân nên nước mỗi ngày mỗi cường thịnh. Vua nước Ngô là Dư Sái thấy thế đâm lo lắng sai tướng sang đánh nước Việt, bắt được tướng Việt là Tôn Nhân đem về chặt chân sai giữ thuyền vua. Một hôm Dư Sái ngự chơi thuyền, uống rượu say rồi ngủ quên. Tôn Nhân cởi thanh gươm của Dư Sái, đâm Dư Sái chết. Bọn nội thị xúm lại giết Tôn Nhân. Từ đó giữa nước Ngô và nước Việt có mối thù khiến hai nước cùng chung ḍng giống Việt này gây chiến muốn tiêu diệt lẫn nhau.
Nước Việt cũng rất giỏi nghề luyện kim đúc kiếm, đúc đồng pha. Tương truyền vua nước Việt có 5 thanh kiếm quư do kiếm sư Âu Gia Tử luyện ra. Vua Ngô là Thọ Mông nghe tiếng muốn lấy nên vua Việt phải dâng 3 thanh kiếm, đó là các thanh Ngư Trường, Ban Dĩnh và Trạm Lư.
Vua Ngô là Dư Sái bị tướng Việt Tôn Nhân giết, vua kế vị là Hạp Lư hận lắm, điều đông binh thuyền để trả thù. Hạp Lư mới thắng nước Sở thanh thế rất lớn. Vua nước Việt là Câu Tiễn cho lũ tù nhân cầm gương kề cổ, kéo tới dinh quân Ngô la lớn rồi đâm gươm vào cổ tự tử chết (thuật tự đâm ḿnh chết này được các di dân Việt đem theo qua Nhật Bản trở thành Harakiri). Quân Ngô thấy việc lạ chạy ra xem, ngơ ngác chẳng hiểu ǵ cả, quên cả pḥng bị. Lúc đó quân Việt từ tả hữu kéo đến xông vào dinh quân Ngô làm quân Ngô rối loạn. Vua Hạp Lư bỏ chạy bị tướng Việt chém đứt ngón chân cái, rớt mất giày. Hạp Lư đă già, đau quá chịu không nổi nên chết.
Con Hạp Lư là Phù Sai lên kế ngôi. Phù Sai nhớ hận vua cha bị quân Việt giết nên đem quân qua Thái Hồ đánh Việt Câu Tiễn, thế quân Ngô rất mạnh, quân Việt chống không lại phải xin giảng ḥa. Phù Sai bắt Câu Tiễn qua Ngô làm tù binh. Câu Tiễn bị giam ở nhà đá, nuôi ngựa, Phù Sai đi đâu, Câu Tiễn phải giắt ngựa. Có lần Phù Sai bị bệnh, Phạm Lăi coi số biết vua Ngô sắp hết bệnh bảo Câu Tiễn nếm phân Phù Sai mà chúc mừng rằng vua Ngô sắp hết bệnh. V́ khổ nhục kế như vậy nên Phù Sai cảm động mà tha cho về.
(Tương truyền v́ Câu Tiễn nếm phân Phù Sai nên sinh chúng hôi miệng, mấy ông lang (băm) mới bày cho Câu Tiễn ăn rau dấp cá để báng mùi hôi, thế rồi các ông quan cũng đua nhau ăn dấp cá để tỏ ḷng thông cảm với nỗi cay đắng vua phải chịu. Sau đó, ṭan dân nước Việt cũng bắt chước ăn. Tục ăn rau dấp cá truyền sang nước ta là do đám người lưu vong chạy qua khi nước Sở diệt nước Việt. Ngày nay thói ăn rau dấp cá rất phổ biến ở nước ta. Thời gian Ngô Việt tranh hùng này c̣n truyền tụng nhiều giai thọai và ca dao tục ngữ :
“Nằm gai nếm mật” nghĩa là nằm ngủ trên đống chà, mỗi ngày phải le lưỡi nếm mật heo cho đắng miệng nhắc nhở đừng quên mối thù, đó là cách thức vua Việt Câu Tiễn sau 10 năm bị Ngô Phù Sai cầm tù được tha về vẫn thực hiện mà nhớ măi nỗi cay đắng khi bị cầm tù, để nhớ phải báo thù.
Người dân nước U Việt bị nước Ngô đày đọa khổ sở nên tỏ ḷng căm phẫn: “Gánh vàng đi đổ sông Ngô” có ư nói dân Việt phải triều cống phục dịch Ngô như gánh vàng đi đổ xuống sông th́ biết bao giờ mới lấp đầy ḷng tham của vua Ngô. Hai nước đánh nhau không thôi c̣n t́m cách trấn áp trù ếm nhau như trong câu : “Đánh trống qua cửa nhà Sấm”, vua Ngô muốn trấn áp vua Việt khi xây thành cho làm một cái cửa xây về hướng nước Việt và đặt tên là cửa Sấm có ư chỉ nước Ngô như sấm xét đánh tan nước Việt. Vua Việt cho thợ đúc nhiều trống đồng đem ra đánh để làm bạt sấm xét đi!
Thói tục ghét nước Ngô truyền vào nước ta (Văn Lang, Việt Nam) theo bước chân di cư của dân U Việt, cứ hễ thấy người Tàu phương bắc, bất luận là sắc dân nào cũng đều cho là người Ngô, và chỉ trích chế nhạo. Người Việt có tục nhuộm răng đen và cho như thế là đẹp, người Tàu th́ để răng trắng, bởi thế mới có câu : “Răng trắng ởn như răng thằng Ngô”. Lại lấy cả truyện gia đ́nh so sánh với giặc Ngô : “Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng”., hoặc “Thằng Ngô con đĩ” hoặc “Hoài con mà gả cho Ngô cho Lào” hoặc “Băm bầu băm bí, băm chị thằng Ngô, băm cô cái ả”. Có một bài hát nói hóm hỉnh mỉa mai“con đĩ” đốt vàng cho”thằng Ngô” như sau :
Tham giàu lấy phải thằng Ngô
Đêm nằm như thể cành khô chọc vào
Kể từ ngày tôi lấy anh
Anh bảo tôi rằng chả biết tiếng ǵ
Tôi chỉ biết một tiếng phán x́ là củ khoai lang.
*
Ba mươi tết, tết lại ba mươi,
Vợ thằng Ngô đốt vàng cho chú khách
Một tay em cầm cái dù rách
Một tay em xách cái chăn bông
Em ra đứng bờ sông
Em trông sang nước người :
Ới chú chiệc ơi là chú chiệc ơi!
*
Một tay em cầm quan tiền
Một tay em cầm thằng bù nh́n
Em ném xuống sông
Quan tiền nặng th́ quan tiền ch́m
Bù nh́n nhẹ th́ bù nh́n nổi
Ới ai ơi của nặng hơn người!
*
Tội ǵ mà ở chính chuyên
Một đêm là xám côn śn ai cho!
Có người nói rằng dân ta ghét nhà Ngô đời Tam Quốc v́ lúc đó Sĩ Nhiếp chết mà Ngô Tôn Quyền không cho con là Sĩ Huy lên nối ngôi cha lại cho người khác sang làm thái thú. Sĩ Huy đem quân chống giữ bị giết, người nhà bi bắt đem về Tàu trị tội, dân ta vỉ thế mà ghét nhà Ngô. Nếu chỉ có thế th́ không ông thái thú này cai trị ông thái thú khác cai trị cũng vậy thôi chứ có ǵ mà phải hận thằng Ngô đến thế. Đời nhà Hán cai trị c̣n tàn bạo biết mấy khiến Hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhị phải nổi lên đuổi Tô Định đi sao dân ta không hận thằng Hán ? Đời nhà Tùy nhà Đường nhà Minh tàn bạo biết mấy sao dân ta không hận thằng Đường thằng Minh? Chỉ có thể cắt nghĩa được là dân Việt Câu Tiễn đă đem mối hận Ngô Phù Sai tới nước ta và từ đó dân Việt Văn Lang tiêm nhiễm mà cũng ghét Ngô lây, rồi đồng hoá tất cả dân Tàu đều là Ngô cả.)
Vua Việt Câu Tiễn được tha về lo chỉnh đốn binh lính thuyền bè, tích trữ lương thực. Mặt khác dùng mỹ nhân kế tuyển nàng Tây Thi dâng cho Phù Sai khiến ông vua này mải mê sắc đẹp, xây cất Cô Tô thành, ăn chơi trác táng, trể nải việc binh bị. Vua Ngô Phù Sai ỷ sức mạnh v́ đă đánh Sở, dẹp Việt, phạt Tề, bèn triệu tập các chư hầu Hoa tộc nơi đất Ḥang Tŕ (nước Vệ) tranh ngôi bá chủ với Tấn.
Câu Tiễn được tin Phù Sai kéo binh đi hội chư hầu liền kéo mười vạn tinh binh sang đánh Ngô. Quân Ngô không cự lại được, tan ră hàng ngũ. Quân Việt thừa thắng kéo đến vây kinh thành nước Ngô, thủy binh đóng tại Thái Hồ, c̣n bộ binh đóng ở cửa Tư Môn. Bao nhiêu chiến thuyền của quân Ngô bị quân Việt cướp đọat hết. Phạm Lăi nổi lửa đốt Cô Tô đài.
Ngô Phù Sai đang lúc vừa đoạt được ngôi bá chủ th́ nghe tin quân Việt qua đánh, lật đật kéo quân về theo đường thủy, bị quân Việt chận đánh phải lui binh và cho Bá Hy qua xin Câu Tiễn tha cho nước Ngô. Câu Tiễn nhớ ơn Bá Hy đă giúp đỡ khi bị Phù Sai bắt tù nên cho nước Ngô giảng ḥa.
Ít năm sau, Câu Tiễn lại đem quân qua đánh nước Ngô. Phù Sai chống không nổi phải tự tử. Câu Tiễn họp các nước Tề, Tấn, Tống, Lỗ xưng bá chủ ở Đông Phương. Câu Tiễn làm vua được 27 năm.
Hai nước Ngô và Việt từ cấp lănh đạo đến dân đều là người Việt. Hai nước Ngô và Việt đă thay nhau làm bá chủ các nước Hoa tộc một thời. Có lúc nước Lỗ bị quân Tề uy hiếp, Khổng Tử đă phải cho học tṛ là Tử Cống sang Ngô và Việt làm thuyết khách nhờ hai nước này làm áp lực bắt Tề phải rút quân. Dân Việt đă có một nền văn minh khá cao. Họ đă biết luyện kim, đúc đồng pha. Dân Việt trồng lúa nước, phát minh ra cách dẫn thủy nhập điền.
Sử kư Tư Mă Thiên viết về Câu Tiễn như sau : “Tổ tiên của Câu Tiễn thuộc ḍng dơi người Việt (Yue) có tục vẽ ḿnh, cắt tóc và những tập quán giống như người Việt ở phương Nam và Âu Việt.” Nước Việt này từ thế kỷ thứ 5 TCN, đă mở rộng lănh thổ từ phía bắc lên đến tận Giang Tô và nam Sơn Đông.
Hai nước Ngô Việt tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau để rồi bị nước Sở là nước Việt đă bị Hoa hóa nuốt. Sau khi Câu Tiễn mất (465 TCN), các người kế vị không giữ nổi bờ cơi cũ. Năm 375 TCN nước Việt chỉ c̣n phần lănh thổ ở vùng Chiết Giang và đến năm 334 TCN nước Việt hoàn toàn bị Sở diệt.
Nước Việt sau những biến cố này bị phân tán, các phe trong hoàng tộc đánh lẫn nhau tranh quyền, mỗi người chiếm một vùng xưng vương, xưng chúa. Họ chiếm giữ miền duyên hải phía nam Chiết Giang. Các tiểu quốc người Việt thành h́nh được gọi là Bách Việt. Trong các tiểu quốc Bách Việt này sử sách c̣n viết đến các nước chính như Đông Âu (Ôn Châu, Chiết Giang), Mân Việt (Phúc Kiến), Nam Việt (Quảng Đông), Tây Âu (Quảng Tây), Dạ Lang (Quư Châu) Văn Lang (Bắc Việt). Trong khi dân Việt ở lại lập nên các nước Bách Việt th́ cũng có một số lớn chạy đi các nơi như Nhật Bản đem theo phương thức đúc kiếm và thuật harakiri, mổ bụng, một số khác xuống nước Văn Lang đem theo thuật đúc đồng pha…
Năm 317 TCN, một phản tướng nước Ngụy là Ngô Khởi xuống đầu nước Sở thực hiện ḍm ngó Bách Việt với việc kư kết hiệp ước thân hữu với các nước Việt phía nam Cối Kê. Cối Kê là kinh đô của nước Việt Câu Tiễn, dưới Cối Kê là các nước Bách Việt từ Phúc Kiến xuống vùng Ngũ Lĩnh.. Nước Sở, đứa con lai của Hoa tốc, đă nuốt xong các nước Việt ở vùng Trường Giang nay lại lăm le nh́n xuống phía dưới Ngũ Lĩnh tức Vùng Lĩnh Nam. Việc Ngô Khởi ḍm ngó các nước Bách Việt đă gợi ư cho Tần Thủy Ḥang đánh xuống vùng Lĩnh Nam sau này.
Thế là Việt tộc bị Hoa tộc xâm chiếm lần thứ ba. Biên cương Việt tộc nay co rút lại chỉ c̣n vùng Lĩnh Nam và duyên hải Phúc Kiến.
BA THỤC BỊ TẦN XÂM CHIẾM.
Nước Ba và nước Thục, một ḷng chảo ph́ nhiêu ở thượng nguồn sông Trường Giang, nay là tỉnh Tứ Xuyên thuộc ḍng Âu Việt tức người Thái sinh sống tại đó, nổi tiếng với thổ sản đậu nành, họ chế biến thành nước tương, đậu hủ. Nước Thục nổi danh về nghề sơn mài. Nước Ba và nước Thục được bao phủ xung quanh những núi non hiểm trở khó có thể ở ng̣ai xâm nhập vào được, phía bắc có dăy Tần Lĩnh hiểm trở, muốn qua phải làm sạn đạo, phía đông có Tam Hiệp là 3 quả núi ở giáp bên sông Trường Giang đó là các núi : Cổ Đường Giáp, Vu Giáp và Tây Lăng Giáp, ghềnh thác cheo leo tàu bè không qua được. (ở chỗ này ngày nay xây một con đập rất lớn gọi là đập Tam Hiệp).
Nước Tần ở vùng Thiểm Tây đất đai khô cằn thấy Ba Thục ph́ nhiêu th́ sinh ḷng tham muốn chiếm đọat. Chúa nước Tần cho tướng Tư Mă Thác vượt ải làm sạn đạo đem quân vào chiếm Ba Thục (316 TCN).
(Họ Tư Mă này h́nh như là khắc tinh của nước Thục. Mấy trăm năm sau, một ông Tư Mă khác sẽ lại đánh Thục, đó là Tư Mă Ư. Về đời Hán mạt, xẩy ra giặc Hoàng Cân (Đông Di) nhân đó một số người nhảy ra xưng hùng xưng bá, rồi đi dến việc chia ba nước Tàu, đó là thời Tam Quốc. Phía bắc, vùng đất thời Chiến Quốc thuộc về Tào Tháo, gọi là nước Ngụy. Phía nam, vùng đất nước Sở và Lĩnh Nam thuộc về Tôn Quyền, gọi là nước Ngô. Phía tây, vùng đất Ba Thục, Lưu Bị được Khổng Minh Gia Cát Lượng pḥ vào chiếm gọi là nước Thục. Từ vùng đất Thục, Khổng Minh đem quân cố vượt các cửa ải ra chiếm Quan Trung nhưng đều bị tướng nhà Ngụy là Tư Mă Ư chặn. Đến khi Khổng Minh chết, Tư Mă Ư vào chiếm Thục, rồi đánh chiếm luôn Ngô, lại thống nhất nước Tàu, lập ra nhà Tấn.)
Vua Thục và hoàng gia bị giết. Một số người hoàng tộc, dân chúng và binh sĩ chạy thóat được xuống vùng Lĩnh Nam (Quảng Tây, Quảng Đông). Họ trở thành Khách Gia, tức Hẹ, tức Hakka. Dân Thục lưu vong này rồi sẽ có liên hệ nhiều đến nước Văn Lang. Tương truyền vua Thục là Đỗ Quyên bị tử trận hóa thành con quốc, ra rả kêu quốc quốc trông ngày phục quốc (người ta gọi chim quốc là chim đỗ quyên). Hiện nay c̣n một số người Hẹ thờ chim quốc như là vật Tổ.
Đây là cuộc xâm lăng của nhà Tần vào đất dân Thái tức Âu Việt để sau đó ít lâu Tần Thủy Ḥang đánh chiếm các nước Hoa tộc rồi tràn xuống phía nam xâm lăng các nước Việt tộc c̣n lại. Ta sẽ c̣n thấy nhóm lưu vong nước Thục đụng độ với quân nhà Tần ở Lĩnh Nam.
NƯỚC SỞ.
Từ khi Hùng Dịch đến khai thác vùng Kinh Cức th́ đất Hồ Quảng, tên của hai tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam, trở thành trung tâm văn hóa và kinh tế của Trung Hoa. Nước Sở bị Tần diệt. Thật ra nước Sở chỉ bị diệt có cấp lănh đạo nhưng dân chúng vẫn c̣n đó, mà đa số dân chúng là dân Việt có lai ít nhiều với Hoa tộc. Tần Thủy Ḥang chiếm nước Sở chỉ vỏn vẹn có 21 năm th́ Hạng Vơ, một tướng của nước Sở và một công dân Sở khác là Lưu Bang cùng nổi lên đánh Tần rồi đánh lẫn nhau, sau cùng Lưu Bang thắng lập ra nhà Hán. Dưới đời nhà Hán, nước Tàu rộng lớn từ Đông Hải tới Tây Vực, Từ Mạc Bắc xuống tới Lĩnh Nam, nền văn minh, kinh tế phồn thịnh chưa từng có.
Nước Sở đă nuốt chửng nước Xích Quỷ, nước Sở đă chiếm Động Đ́nh Hồ, nơi phát tích, nơi chôn nhau cắt rốn của Việt tộc. Động Đ́nh Hồ có chu vi 450 cây số, có nơi bề rộng tới 350 cây số. V́ hồ quá rộng, lớn bằng 3,4 tỉnh của ta gộp lại nên nó mang nhiều tên như : Động Đ́nh Hồ, Cửu Giang Hồ, Ngũ Hồ, Tràng Hồ. (Có truyền thuyết nói Phạm Lăi đốt Cô Tô đài rồi đem Tây Thi trốn Câu Tiễn tới Ngũ Hồ, tức Động Đ́nh Hồ). Động Đ́nh Hồ có núi Cửu Nghi cũng gọi là núi Hành Sơn cao lớn vào bậc nhất nước Tàu, có những thác cao và đẹp. Núi Hành Sơn là một trong Ngũ Nhạc tức 5 ngọn núi cao nhất nước Tàu. ( Ngũ nhạc : bắc có Hằng Sơn, tây có Hoa Sơn, đông có Thái Sơn, nam có Hành Sơn, trung ương có Tung Sơn).
Nước Sở tức các tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam cũng gọi là Hồ Quảng được tưới mát bằng 4 con sông lớn là Ḥang Hà, Dương Tử Giang, sông Hán, sông Hoài và vô số phụ lưu v́ vậy mà có nhiều hồ, đầm lầy, kinh rạch, ruộng vườn ph́ nhiêu, có thể nuôi cả tỷ người.
Người Hoa tuy có thiết lập nền văn minh của họ ở Hoa Bắc nhưng đó là thời kỳ khởi lập chú trọng nhiều về mặt quân sự, cướp phá hơn là về văn học. Phải đến khi nước Sở được thành lập ở vùng Kinh Cức tức vùng Kinh Man, tức Kinh Việt, có sự đóng góp của dân Việt th́ nền văn minh mới thật nở rộ. Điệu hát Hồ Quảng rất được người Việt ưa thích (cải lương Hồ Quảng).
Hồ Quảng là đất của Việt tộc. Nền văn minh đó chủng Việt đă có phần đóng góp xây dựng. Những truyện thần tiên và tinh thần lăng mạn của người Tàu phát tích tại Động Đ́nh Hồ và núi Cửu Nghi là của Việt tộc. Người Tàu Hoa Bắc tức Hoa tộc v́ sống ở vùng sa mạc và băng giá nên tinh thần của họ rất thực tế, tính t́nh lầm lỳ không thể chế biến nổi chuyện thần tiên hay tôn giáo.
Thí dụ chuyện ông Bàn Cổ (Bangu). Người Hoa nhận ông Bàn Cổ là của họ. Trong thời kỳ Hỗn Mang, vũ trụ giống như cái trứng gà. Lúc đó trời đất chưa có. Từ trái trứng này đẻ ra ông Bàn Cổ, thường được vẽ bằng h́nh một người lùn hai tay cầm cái trứng hỗn mang Âm Dương. Phần nặng lắng xuống, phần nhẹ bay lên trời. Khi ông Bàn Cổ chết, những phần thân thể của ông trở thành những yếu tố thiên nhiên như đầu cho ra núi bốn phưong, mắt cho ra trời trăng, tóc thành cây cối, rận bọ chét trong ḿnh ông thành ḷai người v.v.. Nhưng ngày nay các nhà nghiên cứu đă t́m thấy đó là thần thoại Tạo Thiên Lập Dịa của người Mán. Ông Bàn Cổ chính thực là ông tổ của người Mán (Miêu) mà người Hoa nhận vơ là của ḿnh. Dân ta gọi là ông Bành Tổ. “Tương truyền mồ mả của ông c̣n đâu đó trong miền rừng núi tỉnh Quảng Đông, ông mới được đưa vào Tàu đời Tam Quốc trong quyển “Tam ngũ lược kỷ” của Từ Chỉnh và đến đời Tống th́ được đưa vào triết. Trong ḥan vũ đông tây cổ kim không có h́nh ảnh nào về nhân chủ cao đẹp hơn h́nh ảnh Bàn Cổ.” (Kim Định, Hưng Việt)
Và như thế thuyết Âm Dương, Ngũ Hành, Kinh Dịch cần xét lại xem thật sự là của ai !

(Hết Phần II)